Tháng Tư Diệu Kỳ

Lượt đọc: 205 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9

❊ ❊ ❊

Một trong hai phòng khách mà bà Fisher chọn làm cõi riêng cho mình là một căn phòng đầy nét quyến rũ và cá tính. Bước vào phòng sau bữa sáng, bà ngắm nhìn xung quanh với niềm mãn nguyện, lòng thầm mừng vì nơi này thuộc về mình. Phòng lát gạch, tường mang màu mật ong nhạt, đồ nội thất khảm xà cừ ánh lên sắc hổ phách, cùng những cuốn sách cổ kính, nhiều quyển bọc bìa màu ngà hoặc màu chanh. Nơi đây có một khung cửa sổ lớn trông ra biển về phía Genoa, và một cánh cửa kính dẫn thẳng ra lối đi trên tường thành. Từ đây, người ta có thể tản bộ qua ngọn tháp canh cổ kính duyên dáng — bản thân ngọn tháp cũng là một phòng đọc sách có sẵn ghế tựa và bàn viết — để đến phía bên kia, nơi bức tường thành kết thúc bằng một chiếc ghế băng bằng đá cẩm thạch. Tại đó, thu vào tầm mắt là vịnh phía tây cùng mũi đất nơi khởi nguồn của Vịnh Spezia. Hướng nhìn về phía nam của bà, nằm giữa hai dải biển ấy, là một ngọn đồi khác cao hơn San Salvatore, điểm tận cùng của bán đảo nhỏ. Trên đỉnh đồi sừng sững những tháp chiến đẩu êm đềm của một tòa lâu đài nhỏ không người ở, nơi vẫn hứng trọn những tia nắng chiều tà khi mọi cảnh vật xung quanh đã chìm vào bóng tối. Phải, bà đã an định ở một nơi vô cùng dễ chịu; và quanh tường thành, những bồn cây — bà Fisher không soi xét kỹ chất liệu, nhưng trông chúng như những máng đá nhỏ, hay có lẽ là những quan tài đá cổ — ôm trọn lấy không gian bằng những vạt hoa rực rỡ.

Bà Fisher ngắm nghía bờ tường thành và nghĩ thầm rằng nơi đây hẳn sẽ là một khoảng không hoàn hảo để bà thong thả rảo bước những khi ít cần đến gậy chống nhất, hoặc ngồi trên chiếc ghế cẩm thạch — dĩ nhiên là sau khi đã lót một tấm đệm — giá như không có một cánh cửa kính thứ hai oái oăm thay lại mở ra cùng lối ấy. Nó phá hỏng hoàn toàn sự riêng tư, làm tổn hại cảm giác rằng nơi này chỉ dành riêng cho một mình bà. Cánh cửa thứ hai ấy thuộc về phòng khách hình tròn, căn phòng mà cả bà lẫn Tiểu thư Caroline đều chê là quá tối tăm. Có lẽ mấy người phụ nữ đến từ Hampstead sẽ ngồi ở căn phòng đó, và bà e rằng họ không chỉ ngoan ngoãn ngồi yên bên trong, mà sẽ còn bước qua cửa kính để xâm phạm bờ tường thành của bà. Điều này sẽ hủy hoại tường thành. Ít nhất là đối với bà, nó sẽ hoàn toàn bị hủy hoại nếu bị người khác tràn sang; hoặc giả dù không tràn sang, thì việc bà nằm trong tầm mắt dòm ngó của những kẻ bên trong phòng cũng đủ làm hỏng tất cả. Chẳng ai có thể hoàn toàn tự do thư thái khi biết mình đang bị soi môi. Điều bà muốn, và rõ ràng là bà có quyền hưởng, chính là sự riêng tư. Bà không hề muốn quấy rầu ai; vậy thì cớ sao họ lại đến quấy rầu bà? Bà hoàn toàn có thể nới lỏng sự riêng tư ấy nếu sau này khi đã thân thiết hơn với các bạn đồng hành, bà thấy việc đó là xứng đáng; thế nhưng bà nghi ngờ liệu có ai trong số ba người họ đủ tầm để khiến bà cho là xứng đáng.

Bà Fisher ngẫm nghĩ, trên đời này hầu như chẳng có gì thực sự xứng đáng, ngoại trừ quá khứ. Thật kinh ngạc, thật kỳ diệu làm sao sự vượt trội của quá khứ so với hiện tại. Những người bạn ở London của bà, những con người điềm tĩnh cùng độ tuổi với bà, đều sống trong cùng một quá khứ ấy. Họ có thể trò chuyện với bà về quá khứ, có thể cùng bà so sánh nó với một hiện tại hời hợt, xô xát, và trong khi hoài niệm về những vĩ nhân, họ có thể tạm quên đi lũ trẻ tuổi nông cạn, cằn cỗi vốn vẫn đang nhung nhúc khắp thế giới bất chấp cuộc chiến tranh vừa qua. Bà đâu có rời bỏ những người bạn ấy — những người bạn từng trải, tâm giao ấy — để sang Ý dành thời gian tán phét với ba kẻ thuộc thế hệ khác với vốn sống khiếm khuyết; bà đi xa chỉ vì muốn tránh sự tráo trở của tiết trời tháng Tư ở London. Những gì bà đã nói với hai người phụ nữ đến căn hộ ở Đại lộ Prince of Wales là hoàn toàn thật lòng: điều duy nhất bà muốn làm tại San Salvatore là ngồi một mình dưới ánh mặt trời và hoài niệm. Họ biết rõ điều đó vì chính bà đã nói với họ. Điều đó đã được bày tỏ rõ ràng và hiểu thấu đáo. Vì vậy, bà có quyền kỳ vọng họ cứ ở yên trong phòng khách hình tròn và đừng đường đột xông ra làm phiền bờ tường thành của bà.

Nhưng liệu họ có làm vậy không? Sự nghi ngờ ấy đã làm hỏng cả buổi sáng của bà. Mãi đến gần giờ ăn trưa, bà mới tìm ra một cách để đảm bảo an toàn tuyệt đối. Rung chuông gọi Francesca, bà dùng thứ tiếng Ý chậm rãi và đầy uy nghi ra lệnh cho cô đóng các cánh cửa chớp của cửa kính phòng khách hình tròn lại. Sau đó, bà cùng cô bước vào căn phòng — nơi vốn đã tối nay lại càng tối hơn, nhưng bà Fisher nhận xét với Francesca (người đang liến thoắng phân bua) rằng chính nhờ sự tăm tối này mà căn phòng sẽ giữ được mát mẻ dễ chịu, vả lại trên tường đã có vô số ô cửa sổ nhỏ xẻ rãnh để lấy ánh sáng, còn việc ánh sáng có lọt vào được hay không thì chẳng liên quan gì đến bà — rồi bà chỉ đạo khiêng một chiếc tủ trưng bày đồ cổ chặn ngang bên trong cánh cửa.

Việc này sẽ ngăn không cho người bên trong đi ra.

Sau đó bà lại rung chuông gọi Domenico, bảo anh ta bê một trong những bồn hoa bằng quan tài đá chặn ngang bên ngoài cánh cửa.

Việc này sẽ ngăn không cho người bên ngoài đi vào.

“Sẽ không ai,” Domenico ngập ngừng nói, “dùng được cánh cửa này nữa.”

“Cũng chẳng ai,” bà Fisher kiên quyết đáp, “muốn dùng nó đâu.”

Sau đó bà lui về phòng khách của mình, ngồi xuống chiếc ghế được đặt ở vị trí có thể nhìn thẳng ra bờ tường thành — giờ đây đã hoàn toàn thuộc về riêng bà — và ngắm nhìn nó với một niềm hân hoan tĩnh lặng.

Bà điềm nhiên suy ngẫm, ở đây rẻ hơn nhiều so với ở khách sạn, và nếu giữ khoảng cách được với những người kia thì lại càng dễ chịu không gì bằng. Bà trả ba bảng một tuần cho các phòng của mình — những căn phòng cực kỳ dễ chịu sau khi bà đã thu xếp xong xuôi — tính ra khoảng tám shilling một ngày, bao gồm cả tường thành, tháp canh và mọi thứ. Ở phương trời xa xôi nào khác bà có thể sống tốt như thế này với số tiền ít ỏi ấy, lại còn muốn tắm bao nhiêu lần tùy thích chỉ với tám shilling một ngày? Dĩ nhiên bà chưa biết chi phí ăn uống sẽ hết bao nhiêu, nhưng bà sẽ kiên quyết yêu cầu phải tiết kiệm khoản đó, dù bà cũng đòi hỏi sự tiết kiệm ấy phải đi đôi với chất lượng hảo hạng. Cả hai điều này hoàn toàn song hành được nếu người nội trợ chịu khó vun vén. Tiền lương của người làm, như bà đã tìm hiểu, là không đáng kể nhờ tỷ giá hối đoái có lợi, thành ra chỉ có tiền ăn mới khiến bà phải bận tâm. Nếu thấy có dấu hiệu hoang phí, bà sẽ đề nghị mỗi tuần mỗi người nộp cho Tiểu thư Caroline một khoản tiền hợp lý để trang trải các hóa đơn; thừa đâu hoàn trả đó, còn nếu vượt quá thì người phụ trách bếp núc phải tự gánh chịu thua lỗ.

Bà Fisher vốn khá giả và có mong muốn tận hưởng sự tiện nghi phù hợp với lứa tuổi của mình, nhưng bà ghét sự tốn kém. Bà giàu đến mức, nếu muốn, bà đã có thể sống ở một khu sang trọng bậc nhất London và đi lại trên một chiếc Rolls-Royce. Nhưng bà chẳng tha thiết gì điều đó. Muốn quản lý một ngôi nhà ở nơi đắt đỏ cùng một chiếc xe Rolls-Royce thì cần nhiều năng lượng hơn mức cần thiết cho một sự thoải mái thực sự. Mấy thứ sở hữu ấy luôn kéo theo phiền phức đủ đường, mà đỉnh điểm là các hóa đơn. Trong không gian ảm đạm, trầm mặc tại Đại lộ Prince of Wales, bà có thể âm thầm tận hưởng sự tiện nghi thực sự mà không tốn kém, chẳng lo bị đám gia nhân tham lam hay những kẻ quyên góp từ thiện nhòm ngó, lại thêm bến xe taxi ngay cuối đường. Chi phí hàng năm của bà rất ít. Ngôi nhà là tài sản thừa kế. Cái chết đã sắm sửa đồ đạc sẵn cho bà. Trong phòng ăn, bà bước đi trên tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ của cha ông; bà điều chỉnh giờ giấc sinh hoạt theo chiếc đồng hồ bằng đá cẩm thạch đen tuyệt đẹp trên gờ lò sưởi mà bà đã nhớ từ thời thơ ấu; các bức tường bọc kín ảnh chân dung của những người bạn lừng lẫy đã khuất tặng cho bà hoặc cha bà, kèm theo chữ ký của họ đề ngay phần thân dưới; và những ô cửa sổ, bao năm qua vẫn phủ tấm rèm màu đỏ đun, còn được trang trí bằng chính những bể cá cảnh đã cho bà những bài học đầu tiên về biển cả, nơi những con cá vàng thời con gái của bà vẫn đang thong dong bơi lội.

Liệu đó có còn là những con cá vàng năm xưa? Bà không rõ. Có lẽ giống như loài cá chép, chúng sống thọ hơn tất cả mọi người. Hoặc giả, đằng sau lớp rong rêu biển sâu được sắp đặt dưới đáy, qua năm tháng chúng đã tự lặng lẽ rút lui và thay thế lẫn nhau. Đôi khi ngồi ăn một mình giữa các món, bà lại ngắm nghía và băn khoăn: liệu chúng có phải là những con cá vàng đã ở đó vào cái ngày mà Carlyle — bà nhớ rõ như in — trong lúc tranh luận gay gắt với cha bà, đã giận dữ sải bước tiến lại gần bể cá, dùng nắm đấm gõ mạnh vào thành kính làm chúng hoảng loạn bơi tán loạn, rồi hét lên theo bóng chúng: “Ôi, lũ quỷ điếc kia! Ôi, lũ quỷ điếc may mắn! Chúng mày chẳng phải nghe bất cứ điều nhảm nhí, lảm nhảm, lẩm cẩm, ngớ ngẩn nào từ lão chủ của chúng mày nói ra, đúng không?” Hoặc những từ đại loại như thế.

Carlyle kính yêu, tâm hồn vĩ đại biết bao. Những bộc phát tự nhiên ấy; sự tươi mới chân thật ấy; nét khí phách đích thực ấy. Có thể coi ông là thô ráp — phải, đôi khi không nghi ngờ gì là thô ráp và gây sững sờ trong một phòng khách trang trọng, nhưng thật vĩ đại. Giờ đây còn ai có thể đặt bên cạnh ông? Ai có thể sánh ngang tầm với ông? Cha bà, người có nhãn quan tinh tường không ai bằng, từng nói: “Thomas là bất tử.” Thế mà giờ đây cái thế hệ này, cái thế hệ nhỏ bé tầm thường này, lại cất cái giọng yếu ớt lên để hoài nghi, hoặc tệ hơn nữa là chẳng buồn cất lời, thậm chí — thật không thể tin nổi, nhưng bà đã được nghe người ta thuật lại như thế — còn chẳng buồn đọc tác phẩm của ông. Bà Fisher cũng chẳng đọc ông, nhưng chuyện đó thì khác. Bà đã từng đọc; chắc chắn bà đã đọc. Dĩ nhiên là bà đã đọc rồi. Có nhân vật Teufelsdröck đấy thôi — bà nhớ rất rõ một gã thợ may tên là Teufelsdröck. Đúng là phong cách của Carlyle khi đặt tên cho gã như thế. Phải, hẳn là bà đã đọc ông, dù dĩ nhiên vài chi tiết nhỏ có trôi đi mất.

Tiếng cồng vang lên. Mải mê trong những hoài niệm, bà Fisher đã quên mất thời gian. Bà vội vã về phòng ngủ để rửa tay và vuốt lại mái tóc. Bà không muốn đến muộn làm tấm gương xấu, và có khi lại thấy chỗ ngồi ở đầu bàn của mình bị người khác chiếm mất. Chẳng thể trông mong gì vào phép lịch sự của thế hệ trẻ; đặc biệt là cái cô Mrs. Wilkins đó.

Thế nhưng, bà lại là người đầu tiên có mặt trong phòng ăn. Francesca mang chiếc tạp dề trắng đã đứng chờ sẵn với một đĩa mỳ ống bốc khói nghi ngút, bóng bẩy vô cùng, nhưng chẳng có ai ở đó để ăn.

Bà Fisher ngồi xuống, nét mặt nghiêm nghị. Buông thả, thật là buông thả.

“Múc cho tôi đi,” bà bảo Francesca, người đang có ý chờ những người khác.

Francesca múc ăn cho bà. Trong bốn người phụ nữ, cô ít thích bà Fisher nhất, thực ra là chẳng thích chút nào. Bà là người duy nhất chưa từng mỉm cười. Đúng là bà đã già, đúng là bà không đẹp, đúng là bà chẳng có lý do gì để mỉm cười, nhưng những quý bà nhân hậu thì dù có lý do hay không họ vẫn mỉm cười. Họ mỉm cười không phải vì họ hạnh phúc, mà vì họ muốn làm cho người khác hạnh phúc. Vậy nên Francesca kết luận người này trong số bốn quý bà không thể là người nhân hậu; thế là cô trao đĩa mỳ ống cho bà với vẻ mặt sưng xỉa, chẳng buồn giấu giếm cảm xúc.

Mỳ được nấu rất khéo, nhưng bà Fisher chưa bao giờ ưa món mỳ ống, nhất là loại mỳ dài ngoằng như những con giun này. Bà thấy nó thật khó ăn — vừa trơn, vừa nguậy khỏi nĩa, lại khiến bà thấy mình mất cả tư cách đoan trang khi đã lỡ đưa mỳ vào miệng mà mấy đầu mỳ vẫn còn lủng lẳng bên ngoài. Lần nào ăn mỳ, bà cũng nhớ đến ông Fisher. Trong suốt thời gian sống chung, ông ta cư xử chẳng khác nào một cọng mỳ ống. Ông ta trơn tuột, ông ta giãy giụa, ông ta làm bà cảm thấy mất mặt, và đến khi bà tưởng như đã nắm chắc được ông ta rồi thì lúc nào cũng còn những mẩu nhỏ của ông ta vẫn, có thể nói là, lủng lẳng rơi ra ngoài.

Từ phía tủ ly đĩa, Francesca ảm đạm đứng nhìn cách bà Fisher vật lộn với đĩa mỳ, và sự ảm đạm ấy càng tăng lên khi cô thấy cuối cùng bà cầm lấy dao và xắt nhỏ đĩa mỳ ra.

Bà Fisher thực sự chẳng biết làm cách nào khác để xào xáo cái món này. Bà biết dùng dao trong trường hợp này là không đúng lễ nghi, nhưng rốt cuộc người ta cũng phải hết kiên nhẫn chứ. Mỳ ống không bao giờ được phép xuất hiện trên bàn ăn của bà ở London. Ngoài sự phiền phức của nó, bà còn chẳng hề thích vị của nó, và bà sẽ bảo Tiểu thư Caroline đừng gọi món này nữa. Vừa xắt nhỏ mỳ, bà Fisher vừa ngẫm nghĩ, phải mất hàng năm trời luyện tập, hàng năm trời thực sự sống ở Ý thì mới học được cái mẹo ăn mỳ chuẩn xác. Browning ăn mỳ ống giỏi một cách kỳ diệu. Bà nhớ có lần nhìn ông ăn khi ông đến dùng bữa trưa với cha bà, và một đĩa mỳ đã được gọi như một lời xã giao tôn vinh sự gắn bó của ông với nước Ý. Thật mê hoặc cái cách ông đưa mỳ vào miệng. Chẳng cần đuổi theo quanh đĩa, chẳng bị trượt khỏi nĩa, cũng chẳng có mẩu thừa nào lủng lẳng sau đó — chỉ một cú cắm, một cú xoay, một cú đưa vào, một cú nuốt, và kìa, lại thêm một nhà thơ nữa được tiếp thêm sinh lực.

“Tôi có nên đi tìm cô trẻ kia không?” Francesca hỏi, không thể giương mắt nhìn đĩa mỳ ngon lành bị cắt nát bằng dao thêm được nữa.

Bà Fisher khó khăn lắm mới thoát khỏi những hoài niệm. “Cô ấy biết bữa trưa lúc mười hai giờ rưỡi mà,” bà nói. “Tất cả họ đều biết.”

“Có khi cô ấy ngủ quên,” Francesca nói. “Các quý bà khác ở xa hơn, nhưng cô này thì ở ngay gần.”

“Thế thì gõ cồng lần nữa đi,” bà Fisher bảo.

Thật là bất lịch sự, bà nghĩ; thật là bất lịch sự làm sao. Đây đâu phải khách sạn, người ta phải biết kính trên nhường dưới chứ. Bà phải thú thật là bà ngạc nhiên về Mrs. Arbuthnot, người trông không có vẻ gì là kẻ vô kỷ luật về giờ giấc. Cả Tiểu thư Caroline nữa — cô ấy trông có vẻ nhã nhặn và lịch sự, dù bản chất có thế nào đi nữa. Còn cái cô kia thì dĩ nhiên bà chẳng trông mong gì.

Francesca đi lấy chiếc cồng, mang ra ngoài vườn và vừa tiến lại gần Tiểu thư Caroline vừa khua cồng liên hồi. Tiểu thư Caroline vẫn nằm dài trên chiếc ghế thấp, đợi cho cô gõ xong xuôi mới quay đầu lại, dùng những âm điệu ngọt ngào nhất trút ra một tràng nghe như âm nhạc nhưng thực chất lại là những lời chửi rủa.

Francesca không nhận ra dòng chảy êm ái ấy là những lời chửi rủa; làm sao cô nhận ra được khi nó phát ra nghe êm tai đến thế? Với khuôn mặt rạng rỡ nụ cười — vì cô không thể không mỉm cười khi nhìn quý cô trẻ tuổi này — cô bảo rằng món mỳ ống đang nguội mất rồi.

“Khi tôi không ra ăn cơm nghĩa là tôi không muốn ra ăn,” Scrap bực bội nói, “và từ nay về sau cô đừng có ra làm phiền tôi nữa.”

“Cô ấy bị ốm ạ?” Francesca hỏi, đầy cảm thông nhưng không thể ngừng mỉm cười. Chưa bao giờ cô thấy mái tóc nào đẹp đến thế. Như sợi đay nguyên chất; như tóc của những đứa trẻ phương Bắc. Trên một cái đầu nhỏ nhắn như vậy chỉ có thể đọng lại những lời chúc phúc, trên một cái đầu nhỏ nhắn như vậy hào quang của các vị thánh linh thiêng nhất mới thật sóng đôi.

Scrap nhắm tịt mắt lại, nhất quyết không trả lời. Trong chuyện này cô đã thiếu khôn khéo, vì hành động đó lại khiến Francesca tưởng thật rằng cô bị mệt, vội vã quay vào báo cho bà Fisher với vẻ đầy lo lắng. Còn bà Fisher, vì lý do chiếc gậy nên không thể tự mình ra ngoài gặp Tiểu thư Caroline (như bà giải thích), đã sai hai người kia đi thay. Hai người họ vừa bước vào, mặt mũi nóng bừng, thở không ra hơi và lí nhí xin lỗi, trong khi bản thân bà thì chuyển sang món tiếp theo: một đĩa trứng chiên làm rất khéo, hai đầu nứt ra những hạt đậu Hà Lan trẻ trung, xanh mướt trông vô cùng ngon mắt.

“Múc cho tôi đi,” bà ra lệnh cho Francesca, người lại có ý định đợi những người khác.

“Ôi, sao họ không để yên cho mình nhỉ? — ôi, sao họ không để yên cho mình?” Scrap tự hỏi khi nghe thấy thêm những tiếng sỏi nhỏ lạo xạo thay cho tiếng bước chân trên cỏ, và biết rằng lại có ai đó đang tiến lại gần.

Lần này cô nhắm chặt mắt lại. Tại sao cô phải vào ăn trưa nếu cô không muốn chứ? Đây đâu phải nhà riêng; cô chẳng bị vướng bận chút trách nhiệm nào với một bà chủ nhà phiền phức. Xét trên mọi phương diện thực tế, San Salvatore là một khách sạn, và cô phải được để yên để ăn hoặc không ăn giống như khi ở trong một khách sạn thực sự.

Thế nhưng, Scrap tội nghiệp không thể cứ ngồi yên và nhắm mắt mà không khơi dậy ở những người ngắm nhìn cái ham muốn được vuốt ve, cưng nựng vốn đã quá đỗi quen thuộc với cô. Ngay cả bác đầu bếp cũng đã vỗ nhẹ vào người cô. Và giờ đây, một bàn tay dịu dàng — cô biết quá rõ và sợ hãi biết bao những bàn tay dịu dàng — đặt lên trán cô.

“Tôi e là cô không được khỏe rồi,” một giọng nói không phải của bà Fisher vang lên, vậy nên hẳn phải thuộc về một trong hai người nguyên bản.

“Tôi bị đau đầu,” Scrap thì thầm. Có lẽ nói vậy là tốt nhất; có lẽ đó là đường ngắn nhất để tìm lại sự bình yên.

“Tôi xin lỗi nhé,” Mrs. Arbuthnot khẽ khàng nói, vì chính bàn tay dịu dàng ấy là của cô.

“Và mình,” Scrap tự nói với chính mình, “kẻ đã tưởng rằng đến đây sẽ thoát khỏi mấy người mẹ.”

“Cô có nghĩ uống chút trà sẽ dễ chịu hơn không?” Mrs. Arbuthnot ân cần hỏi.

Trà ư? Ý nghĩ đó thật kinh khủng đối với Scrap. Trong cái nóng này mà lại đi uống trà vào giữa trưa...

“Không,” cô thì thầm.

“Tôi nghĩ điều tốt nhất cho cô ấy lúc này,” một giọng nói khác vang lên, “là được yên tĩnh.”

Thật là biết điều, Scrap nghĩ; cô liền hé mi mắt một bên vừa đủ để liếc nhìn xem ai đang nói.

Đó là cô gái nguyên bản có tàn nhang. Vậy thì người da ngăm là người có bàn tay kia. Người có tàn nhang bỗng tăng điểm trong mắt cô.

“Nhưng tôi không đành lòng nhìn cô đau đầu mà chẳng làm được gì,” Mrs. Arbuthnot nói. “Một tách cà phê đen đậm đà thì sao...?”

Scrap không nói thêm lời nào nữa. Cô chờ đợi, bất động và câm nín, cho đến khi Mrs. Arbuthnot rụt tay lại. Dù sao thì cô ta cũng không thể đứng đó cả ngày, và khi đi cô ta sẽ phải mang bàn tay ấy đi theo.

“Tôi thực sự nghĩ,” cô gái tàn nhang nói, “cô ấy chẳng cần gì ngoài sự yên tĩnh đâu.”

Và có lẽ cô gái tàn nhang đã kéo tay áo người có bàn tay dịu dàng, vì cái áp lực trên trán Scrap nới lỏng ra, và sau một phút im lặng — trong lúc đó chắc chắn cô đang bị ngắm nghía, cô lúc nào mà chẳng bị ngắm nghía — tiếng bước chân lại lạo xạo trên sỏi, nhỏ dần rồi mất hút.

“Tiểu thư Caroline bị đau đầu,” Mrs. Arbuthnot nói khi trở lại phòng ăn và ngồi xuống vị trí của mình cạnh bà Fisher. “Tôi không thể thuyết phục cô ấy uống lấy một chút trà hay cà phê đen. Bà có biết tiếng Ý từ 'thuốc aspirin' là gì không?”

“Phương thuốc đúng đắn cho bệnh đau đầu,” bà Fisher kiên quyết nói, “là dầu thầu dầu.”

“Nhưng cô ấy đâu có đau đầu,” Mrs. Wilkins lên tiếng.

“Carlyle,” bà Fisher nói — người đã ăn xong món trứng chiên và có thời gian thong thả trò chuyện trong lúc chờ món tiếp theo — “từng có một thời gian khổ sở vì bệnh đau đầu, và ông ấy liên tục dùng dầu thầu dầu như một phương thuốc. Tôi phải nói là ông ấy dùng gần như quá đà, và tôi còn nhớ ông ấy gọi nó theo cách thú vị của mình là 'dầu của nỗi đau thương'. Cha tôi nói nó đã ám màu lên toàn bộ thái độ sống, toàn bộ triết lý của ông ấy trong một thời gian. Nhưng đó là vì ông ấy dùng quá nhiều. Điều Tiểu thư Caroline cần là một liều, và chỉ một liều mà thôi. Dùng dầu thầu dầu liên tục là một sai lầm.”

“Bà có biết tiếng Ý gọi nó là gì không?” Mrs. Arbuthnot hỏi.

“Ôi, cái đó thì tôi e là không biết. Tuy nhiên, cô ấy hẳn sẽ biết. Cô có thể hỏi cô ấy.”

“Nhưng cô ấy đâu có đau đầu,” Mrs. Wilkins nhắc lại, cô đang vật lộn với đĩa mỳ ống. “Cô ấy chỉ muốn được để yên thôi.”

Cả hai người họ đều nhìn cô. Từ "cái xúc" xuất hiện trong đầu bà Fisher khi quan sát hành động của Mrs. Wilkins lúc bấy giờ.

“Thế thì tại sao cô ấy lại nói mình bị đau đầu?” Mrs. Arbuthnot hỏi.

“Bởi vì cô ấy vẫn đang cố gắng lịch sự. Chẳng mấy nữa cô ấy sẽ không cần cố nữa, khi nơi này ngấm vào người cô ấy nhiều hơn — cô ấy sẽ thực sự lịch sự. Mà không cần cố. Tự nhiên như thế.”

“Bà thấy đấy, Lotty,” Mrs. Arbuthnot giải thích, mỉm cười với bà Fisher — người đang ngồi chờ món tiếp theo với một sự kiên nhẫn đá tảng, bị chậm trễ vì Mrs. Wilkins cứ cố ăn cho xong đĩa mỳ vốn giờ đây đã nguội ngắt và chẳng còn giá trị gì — “Lotty có một lý thuyết về nơi này...”

Nhưng bà Fisher chẳng muốn nghe bất kỳ lý thuyết nào của Mrs. Wilkins.

“Tôi thực sự không hiểu,” bà ngắt lời, nhìn Mrs. Wilkins một cách nghiêm khắc, “tại sao cô lại cho rằng Tiểu thư Caroline không nói thật.”

“Tôi không cho rằng — tôi biết mà,” Mrs. Wilkins đáp.

“Và xin hỏi làm sao cô biết?” bà Fisher hỏi một cách băng giá, vì Mrs. Wilkins thực sự lại đang tự lấy thêm mỳ ống, vốn được Francesca đon đả và thừa thãi mời cô lần thứ hai.

“Vừa rồi khi ở ngoài đó, tôi đã nhìn thấu bên trong cô ấy.”

Chà, bà Fisher sẽ không thèm nói gì về điều đó; bà chẳng buồn đáp lại một sự ngớ ngẩn trắng trợn như thế. Thay vào đó, bà gõ mạnh vào chiếc cồng nhỏ bên cạnh mình, mặc dù Francesca đang đứng ngay ở tủ ly đĩa, và nói — vì bà không muốn chờ món tiếp theo thêm một giây nào nữa: “Múc cho tôi đi.”

Và Francesca — hẳn là cố tình rồi — lại mời bà món mỳ ống lần nữa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.