Tháng Tư Diệu Kỳ

Lượt đọc: 205 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

❊ ❊ ❊

Mọi chuyện bắt đầu tại một câu lạc bộ phụ nữ ở London vào một buổi chiều tháng Hai—một câu lạc bộ ngột ngạt và một buổi chiều ảm đạm—khi bà Wilkins, người vừa từ Hampstead xuống phố mua sắm và dùng bữa trưa tại câu lạc bộ của mình, cầm tờ The Times từ chiếc bàn trong phòng hút thuốc lên. Đưa ánh mắt uể oải lướt dọc mục nhắn tin và quảng cáo nhỏ, bà bắt gặp dòng này:

Gửi những ai yêu hoa tử đằng và ánh nắng chan hòa. Cần cho thuê một lâu đài nhỏ thời trung cổ ở Ý, nằm bên bờ biển Địa Trung Hải, đầy đủ tiện nghi cho tháng Tư. Có sẵn gia nhân cần thiết. Gửi thư tới Z, Hộp thư 1000, The Times.

Ý niệm ấy đã nhen nhóm như thế; dẫu vậy, cũng như trong bao trường hợp khác, người khởi xướng vào khoảnh khắc đó hoàn toàn chẳng hề hay biết.

Bà Wilkins hoàn toàn không ngờ rằng tháng Tư năm ấy của mình đã được định đoạt ngay tại chỗ, đến mức bà buông tờ báo xuống với một cử chỉ vừa bực bội vừa cam chịu, rồi bước lại bên cửa sổ, buồn bã nhìn ra con đường ướt sũng nước mưa.

Lâu đài trung cổ chẳng bao giờ dành cho bà, dẫu người ta có cẩn thận nói rõ là lâu đài nhỏ đi chăng nữa. Bờ biển Địa Trung Hải tháng Tư, hoa tử đằng và ánh nắng chan hòa cũng chẳng thuộc về bà. Những thú vui tao nhã ấy chỉ dành riêng cho giới nhà giàu. Song mẩu quảng cáo lại hướng tới những ai biết thưởng thức những vẻ đẹp ấy, thành thử suy cho cùng nó cũng dành cho cả bà, bởi bà chắc chắn biết trân trọng chúng; sâu sắc hơn bất kỳ ai từng biết, và hơn cả những gì bà từng hé môi. Khổ nỗi bà lại nghèo. Trên đời này, tài sản riêng duy nhất của bà chỉ vẻn vẹn chín mươi bảng, gom góp chắt chiu từng năm, ky cóp từng đồng một từ khoản tiền may mặc riêng. Bà đã nhịn ăn nhịn mặc dành dụm số tiền ấy theo gợi ý của chồng, coi như một lá chắn phòng khi cơ nhỡ túng thiếu. Khoản tiền áo quần do cha bà chu cấp là một trăm bảng mỗi năm, thế nên trang phục của bà Wilkins luôn là thứ mà chồng bà—người không ngừng thúc giục bà tiết kiệm—gọi là giản dị và phải phép, còn người quen khi nhắc về bà (mà hiếm khi họ buồn nhắc tới, bởi bà quá đỗi mờ nhạt) lại gọi thẳng là một mớ luộm thuộm chẳng ra thể thống gì.

Ông Wilkins, một luật sư tư vấn, luôn nhiệt thành khuyến khích đức tính tiết kiệm, ngoại trừ khoản dính dáng đến miếng ăn của ông. Ông không gọi đó là tiết kiệm, mà gọi là đoảng việc nhà. Song với lối tằn tiện như loài nhậy gặm nhấm vào áo quần của bà Wilkins, làm chúng hỏng cả phom dáng, thì ông lại hết lời tán dương. “Mình chẳng biết trước được đâu,” ông thường bảo, “lúc sa cơ lỡ bước sẽ ra sao, và lúc ấy mình sẽ mừng biết bao vì đã có sẵn một khoản phòng thân. Thực ra là cả hai chúng ta đều sẽ mừng.”

Đứng nhìn qua cửa sổ câu lạc bộ ra Đại lộ Shaftesbury—câu lạc bộ của bà thuộc loại bình dân, nhưng lại tiện đường về Hampstead nơi bà sống, cũng như tiện ghé cửa hàng Shoolbred’s nơi bà mua sắm—sau một hồi đứng đó buồn bã, trong tâm tưởng hướng về Địa Trung Hải tháng Tư với hoa tử đằng và những cơ hội đáng ghen tị của người giàu, còn đôi mắt trần lại dõi theo làn mưa đen đúa ghê tởm đang rỉ rả trút xuống những chiếc ô vội vã và những chiếc xe buýt té nước tung tóe, bà Wilkins chợt tự hỏi liệu đây có phải chính là cái “ngày mưa gió cơ nhỡ” mà Mellersh—Mellersh là ông Wilkins—vẫn luôn nhắc bà chuẩn bị hay không. Liệu việc thoát khỏi cái khí hậu chết tiệt này để tới một lâu đài nhỏ thời trung cổ có phải chính là điều mà Thượng đế bấy lâu nay muốn bà làm với số tiền tiết kiệm của mình? Một phần tiền tiết kiệm thôi, dĩ nhiên; có lẽ chỉ một phần rất nhỏ. Lâu đài từ thời trung cổ hẳn là đã xập xệ, mà đồ xập xệ thì chắc chắn phải rẻ. Bà chẳng nề hà chút nào vài chỗ sứt sẹo hoang tàn, vì người ta đâu phải trả tiền cho những hư hao vốn đã có sẵn; trái lại, nhờ chúng mà giá thuê giảm đi, xem như chúng còn trả lại tiền cho mình. Nhưng mà thật là vớ vẩn khi nghĩ đến chuyện đó...

Bà quay lưng khỏi cửa sổ bằng chính cái cử chỉ vừa bực bội vừa cam chịu lúc đặt tờ The Times xuống, rồi rảo bước qua phòng hướng về phía cửa, định bụng lấy áo mưa và ô, chen chúc lên một chiếc xe buýt chật ních để ghé Shoolbred’s trên đường về nhà mua mấy con cá bơn cho bữa tối của Mellersh—Mellersh rất khó tính trong chuyện ăn cá, ngoài cá hồi ra ông chỉ ưng cá bơn—thì bất chợt bà trông thấy bà Arbuthnot. Đó là người phụ nữ bà từng nhẵn mặt vì cũng sống ở Hampstead và sinh hoạt cùng câu lạc bộ, lúc này đang ngồi bên chiếc bàn giữa phòng, nơi bày biện báo chí và tạp chí, và đến lượt mình, bà ấy cũng đang dán chặt mắt vào trang nhất của tờ The Times.

Bà Wilkins chưa từng bắt chuyện với bà Arbuthnot, người vốn thuộc về một trong những hội đồng giáo xứ và dành cả ngày để phân tích, phân loại, chia nhóm rồi lập hồ sơ người nghèo; trong khi bà và Mellersh, những lúc hiếm hoi đi giao tế, lại chỉ tới dự tiệc của các họa sĩ theo trường phái ấn tượng, vốn có rất nhiều ở Hampstead. Mellersh có một cô em gái lấy một họa sĩ trong số đó và sống tít trên đồi Heath, và chính mối dây liên đới ấy đã kéo bà Wilkins vào một giới xa lạ với bà đến tột cùng, khiến bà đâm ra sợ hãi tranh ảnh. Bà luôn phải đưa ra những lời nhận xét về tranh, trong khi chẳng biết phải nói gì. Bà thường chỉ dám lẩm bẩm: “Tuyệt tác,” rồi cảm thấy thế vẫn chưa đủ. Nhưng cũng chẳng ai bận tâm. Chẳng ai buồn lắng nghe. Chẳng một ai chú ý đến bà Wilkins. Bà là kiểu người luôn vô hình tại các bữa tiệc. Áo quần bị sự tằn tiện gặm nhấm khiến bà gần như biến mất; gương mặt chẳng có nét gì lôi cuốn; ăn nói thì ngập ngừng, e dè; tính tình lại nhút nhát. Và một khi trang phục, diện mạo cùng tài ăn nói của một người đều nhạt nhòa, bà Wilkins—người vốn tự biết những khiếm khuyết của mình—thầm nghĩ, thì tại các bữa tiệc, bản thân mình còn lại được cái gì?

Hơn nữa bà lại luôn đi cùng Wilkins, người đàn ông cạo râu nhẵn nhụi, bảnh bao, chỉ cần xuất hiện thôi là đã mang lại cho bữa tiệc một vẻ trang trọng tột bậc. Wilkins rất có thanh thế. Ai nấy đều biết ông được các cộng sự thâm niên đánh giá rất cao. Giới bạn bè của cô em gái đều ngưỡng mộ ông. Ông luôn đưa ra những nhận định vừa vặn, thông thái về nghệ thuật và giới nghệ sĩ. Lời lẽ của ông cô đọng, cẩn trọng; ông chẳng bao giờ nói thừa nửa lời, mà ngược lại, cũng chẳng bao giờ buông ra câu nào thiếu sót. Ông tạo cho người ta cảm giác như thể mọi lời mình thốt ra đều có bản sao lưu lại; và ông đáng tin cậy đến nỗi những người gặp ông tại các buổi tiệc thường đâm ra bất mãn với chính luật sư riêng của họ, rồi sau một hồi trăn trở, họ dứt áo ra đi để tìm đến Wilkins.

Lẽ dĩ nhiên bà Wilkins hoàn toàn bị lu mờ. “Chị ấy,” cô em gái của ông từng nhận xét với cái vẻ đầy phán xét, chín chắn và dứt khoát thường thấy, “tốt nhất là nên ở nhà.” Nhưng Wilkins không thể để vợ ở nhà được. Ông là luật sư chuyên về việc gia đình, mà các luật sư kiểu ấy đều phải có vợ và phải đưa vợ ra trình diện. Trong tuần ông dẫn vợ đi dự tiệc, còn Chủ nhật thì đưa vợ đi nhà thờ. Vốn dĩ vẫn còn khá trẻ—ông mới ba mươi chín tuổi—và lại đang tha thiết muốn thu hút thêm các quý bà lớn tuổi, đối tượng mà văn phòng ông vẫn chưa có đủ, ông không thể nào bỏ lỡ các buổi lễ nhà thờ; và cũng chính tại nơi đó, dù chưa từng mở lời với nhau, bà Wilkins đã trở nên quen mặt với bà Arbuthnot.

Bà từng thấy bà Arbuthnot dẫn dắt lũ trẻ con nhà nghèo vào các hàng ghế nhà thờ. Bà ấy luôn dẫn đầu đoàn tuần hành từ Trường Chúa nhật bước vào, đúng năm phút trước khi ca đoàn xuất hiện, rồi xếp đặt bọn trẻ đâu ra đấy vào đúng chỗ ngồi quy định, bảo chúng quỳ xuống trên đôi đầu gối nhỏ nhắn để đọc lời nguyện mở đầu, rồi đỡ chúng đứng dậy ngay khoảnh khắc cánh cửa phòng thánh mở ra theo tiếng đàn đại phong cầm vang dội, để ca đoàn cùng hàng giáo phẩm, mang theo vẻ uy nghiêm của những bài kinh cầu và giáo luật sắp sửa xướng lên, đường bệ bước ra. Bà Arbuthnot có một gương mặt buồn rầu, song rõ ràng lại rất tháo vát. Sự kết hợp ấy thường khiến bà Wilkins lấy làm lạ, bởi vào những ngày bà chỉ mua được cá chim thay vì cá bơn, Mellersh vẫn thường bảo rằng một người tháo vát thì không bao giờ ủ rũ, và hễ ai làm tốt phận sự của mình thì tự khắc sẽ trở nên tươi tỉnh, hoạt bát.

Ở bà Arbuthnot tuyệt nhiên chẳng có nét gì tươi tỉnh hay hoạt bát, dẫu cách bà đối xử với lũ trẻ Trường Chúa nhật quả có phần như một cái máy; thế nhưng lúc này, khi bà Wilkins quay lưng khỏi cửa sổ và nhìn thấy bà ấy trong câu lạc bộ, bà Arbuthnot lại chẳng hề máy móc chút nào. Bà đang dán mắt vào một góc trang nhất của tờ The Times, hai tay giữ chặt tờ báo, ánh mắt bất động. Bà chỉ ngồi chết trân nhìn vào đó; và gương mặt bà, như thường lệ, vẫn là gương mặt của một Đức Mẹ Đồng Trinh đầy nhẫn nại và thất vọng.

Làm theo một thôi thúc mà chính bản thân cũng thấy lạ lùng ngay khi đang hành động, bà Wilkins, người vốn nhút nhát và e dè, thay vì bước về phía phòng gửi đồ rồi từ đó đến Shoolbred’s để tìm mua cá cho Mellersh, lại dừng bước bên chiếc bàn và ngồi xuống đối diện ngay trước mặt bà Arbuthnot, người mà bà chưa từng bắt chuyện một lần nào trong đời.

Đó là một trong những chiếc bàn dài và hẹp kiểu bàn ăn tu viện, nên hai người ngồi rất sát nhau.

Tuy nhiên, bà Arbuthnot không hề ngước lên. Bà vẫn tiếp tục nhìn chằm chằm, bằng đôi mắt dường như đang mơ màng, vào duy nhất một điểm trên tờ The Times.

Bà Wilkins quan sát bà một phút, cố lấy hết can đảm để cất lời. Bà muốn hỏi xem liệu bà ấy có thấy mẩu quảng cáo đó không. Bà chẳng hiểu vì sao mình lại muốn hỏi điều ấy, nhưng lòng bà thôi thúc khôn nguôi. Thật ngớ ngẩn làm sao khi không thể mở lời với người ta. Trông bà ấy hiền từ biết bao. Trông bà ấy đau khổ biết bao. Tại sao hai con người bất hạnh lại không thể vỗ về nhau trên bước đường đời bụi bặm này bằng một chút trò chuyện—những lời sẻ chia chân thành, tự nhiên về những gì họ cảm nhận, những gì họ hằng mong ước, những gì họ vẫn cố nuôi hy vọng? Và bà không thể gạt bỏ ý nghĩ rằng bà Arbuthnot cũng đang đọc chính mẩu quảng cáo ấy. Đôi mắt bà ấy đang dừng lại đúng góc báo đó. Liệu có phải bà ấy cũng đang mường tượng ra khung cảnh nơi đó—sắc màu, hương thơm, ánh sáng, tiếng sóng vỗ dịu dàng vào những tảng đá con ấm sực dưới nắng? Sắc màu, hương thơm, ánh sáng, biển cả; thay vì Đại lộ Shaftesbury, những chiếc xe buýt ướt sũng, quầy bán cá ở Shoolbred’s, chuyến tàu điện ngầm về Hampstead, bữa tối, rồi ngày mai lại thế, ngày kia lại thế, và muôn đời vẫn cứ như thế...

Bất thình lình, bà Wilkins thấy mình nhoài người qua bàn. “Bà cũng đang đọc về lâu đài trung cổ và hoa tử đằng đấy ư?” bà nghe thấy tiếng mình cất lên.

Lẽ tự nhiên, bà Arbuthnot vô cùng kinh ngạc; nhưng nỗi ngạc nhiên của bà ấy còn chưa bằng một nửa nỗi bàng hoàng của chính bà Wilkins trước câu hỏi của mình.

Trước đó, theo như bà Arbuthnot nhớ, bà chưa từng để mắt tới dáng người lôi thôi, gầy nhẳng, lòng khòng đang ngồi đối diện kia, với gương mặt nhỏ đầy tàn nhang cùng đôi mắt xám to tròn gần như lọt thỏm dưới chiếc mũ đi mưa bẹp dúm, nên bà chỉ lặng nhìn đối phương một thoáng mà không đáp. Quả thực bà đang đọc về tòa lâu đài trung cổ và giàn tử đằng, hay đúng hơn là đã đọc xong từ mười phút trước, và kể từ đó đến giờ vẫn đang chìm đắm trong những giấc mơ—về ánh sáng, về sắc màu, về hương thơm, về tiếng sóng vỗ dịu êm vào những tảng đá con ấm sực dưới nắng...

“Sao bà lại hỏi tôi điều đó?” bà cất giọng trầm buồn hỏi lại, bởi bao năm tháng rèn giũa người nghèo và bị chính họ thử thách đã biến bà thành một người trầm mặc và nhẫn nhịn.

Bà Wilkins đỏ bừng mặt, vẻ mặt lộ rõ vẻ bẽn lẽn và hoảng hốt cùng cực. “Ồ, chỉ vì tôi cũng vừa nhìn thấy nó, và tôi nghĩ có lẽ... tôi cứ nghĩ thế nào ấy...” bà ấp úng.

Thấy vậy, tâm trí bà Arbuthnot, do đã quen việc xếp người khác vào các danh sách và nhóm thứ bậc, liền theo thói quen cân nhắc, vừa đăm chiêu nhìn bà Wilkins vừa tự hỏi nếu phải phân loại người phụ nữ này thì nên xếp bà ta vào mục nào cho đúng nhất.

“Tôi vẫn thấy bà suốt đấy,” bà Wilkins nói tiếp, và giống như mọi kẻ nhút nhát khác, một khi đã mở miệng là cứ thế tuôn trào, tự làm mình hoảng sợ hơn để rồi lại càng nói nhiều hơn trước chính âm vang của những lời mình vừa thốt ra. “Chủ nhật nào tôi cũng thấy bà ở nhà thờ...”

“Ở nhà thờ ư?” bà Arbuthnot lặp lại.

“Và điều này nghe thật tuyệt diệu làm sao—mẩu quảng cáo về hoa tử đằng này này—và...”

Bà Wilkins, người ắt hẳn phải ngoài ba mươi, ngập ngừng dừng lại rồi ngọ nguậy trên ghế với điệu bộ ngượng ngùng, lúng túng hệt như một cô nữ sinh.

“Nó tuyệt vời quá,” bà tiếp tục nói như vỡ òa, “mà—hôm nay trời lại u ám đến thế này...”

Rồi bà ngồi đó, nhìn bà Arbuthnot bằng ánh mắt của một chú chó đang bị giam cầm.

“Tội nghiệp con người này,” bà Arbuthnot nghĩ thầm, cả đời bà vốn dành trọn để giúp đỡ và xoa dịu tha nhân, “bà ấy cần một lời khuyên.”

Thế là bà kiên nhẫn chuẩn bị đưa ra lời khuyên ấy.

“Nếu bà nhìn thấy tôi ở nhà thờ,” bà cất lời, đầy vẻ ân cần và chăm chú, “thì chắc hẳn bà cũng sống ở Hampstead?”

“Ồ vâng,” bà Wilkins đáp. Rồi bà nhắc lại, chiếc đầu trên cái cổ dài ngoẵng hơi gục xuống như thể ký ức về Hampstead đang đè nặng lưng bà, “Ồ vâng.”

“Ở đoạn nào cơ?” bà Arbuthnot hỏi, người mà mỗi khi cần đưa ra lời khuyên thì việc đầu tiên luôn là thu thập dữ kiện thực tế.

Nhưng bà Wilkins chỉ nhẹ nhàng đặt bàn tay đầy âu yếm lên góc báo The Times có mẩu quảng cáo, như thể từng con chữ in trên đó đều là báu vật, rồi khẽ nói: “Có lẽ chính vì thế mà điều này mới nghe tuyệt diệu đến vậy.”

“Không đâu—tôi nghĩ dẫu sao chuyện đó cũng thật tuyệt,” bà Arbuthnot nói, quên khuấy đi các dữ kiện mà khẽ buông một tiếng thở dài.

“Vậy ra bà cũng đang đọc nó ư?”

“Phải,” bà Arbuthnot đáp, ánh mắt lại trở nên mơ màng.

“Chẳng phải sẽ tuyệt lắm sao?” bà Wilkins thì thầm.

“Tuyệt thật đấy,” bà Arbuthnot nói. Gương mặt bà vừa bừng sáng lên chốc lát đã vội chìm lại vào vẻ nhẫn nhịn thường nhật. “Tuyệt lắm chứ,” bà nói tiếp. “Nhưng tốn thời gian nghĩ về những chuyện như thế thì có ích gì đâu.”

“Ồ, có ích chứ,” bà Wilkins đáp lại nhanh thoăn thoắt, một câu trả lời đầy bất ngờ; bất ngờ bởi nó quá đỗi khác biệt với toàn bộ con người bà—từ bộ áo váy thiếu cá tính, chiếc mũ nhàu nhĩ, cho đến lọn tóc lơ thơ chẳng chịt lòa xòa buông xuống. “Chỉ riêng việc nghĩ về chúng thôi đã đáng giá rồi—một sự đổi thay so với Hampstead—và đôi khi tôi tin—tôi thực sự tin rằng—nếu người ta suy nghĩ về điều gì đủ tha thiết, người ta sẽ có được nó.”

Bà Arbuthnot kiên nhẫn quan sát bà. Nếu phải xếp loại, thì mình sẽ đưa bà ta vào mục nào đây?

“Có lẽ,” bà nói, hơi nghiêng mình về phía trước, “bà nên cho tôi biết tên của bà. Nếu chúng ta trở thành bạn bè”—bà nở một nụ cười trang nghiêm—“như tôi hằng mong, thì tốt hơn hết là nên bắt đầu từ điểm khởi đầu.”

“Ồ vâng—bà thật tốt bụng quá. Tôi là bà Wilkins,” bà Wilkins nói. “Tôi đoán,” bà nói thêm, mặt đỏ lên khi thấy bà Arbuthnot không nói gì, “cái tên ấy chẳng gợi lên cho bà điều gì đâu. Đôi khi nó—nó cũng chẳng gợi lên cho tôi điều gì cả. Nhưng mà”—bà nhìn quanh quất như muốn tìm kiếm sự cầu cứu—“tôi là bà Wilkins.”

Bà chẳng thích cái tên của mình chút nào. Đó là một cái tên bần tiện, nhỏ nhen, với cái đuôi nghe cứ cợt nhả thế nào ấy, bà nghĩ, hệt như cái đuôi cong cớn của một con chó ngao. Nhưng nó đã ở đó rồi. Chẳng thể làm gì khác được. Wilkins thì vẫn là Wilkins; và dẫu chồng bà luôn khuyến khích bà xưng tên là bà Mellersh-Wilkins trong mọi dịp, bà cũng chỉ làm vậy khi có ông đứng trong tầm nghe, bởi bà thấy gắn thêm Mellersh chỉ tổ làm cho cái tên Wilkins tồi tệ hơn, nhấn mạnh nó y như cái tên Chatsworth khắc trên cột cổng của một căn biệt thự càng làm lộ rõ vẻ tầm thường của căn biệt thự đó.

Hồi ông mới gợi ý bà thêm chữ Mellersh vào, bà đã phản đối vì lý do ấy, và sau một hồi ngập ngừng—Mellersh quá đỗi thận trọng nên chẳng bao giờ nói mà không ngập ngừng một lát, khoảng thời gian mà có lẽ ông đang cẩn thận sao chép lại trong đầu lời nhận xét sắp thốt ra—ông bực bội nói: “Nhưng tôi đâu phải một căn biệt thự,” rồi nhìn bà bằng cái nhìn của kẻ đang nuôi hy vọng, có lẽ là lần thứ một trăm, rằng mình đã không rước phải một kẻ ngốc.

Dĩ nhiên ông không phải biệt thự rồi, bà Wilkins quả quyết với ông; bà chưa bao giờ nghĩ ông là thế; bà chẳng hề có ý... bà chỉ đang nghĩ...

Bà càng giải thích thì niềm hy vọng của Mellersh càng trở nên tha thiết hơn—một niềm hy vọng lúc bấy giờ đã quá quen thuộc với ông sau hai năm làm chồng—rằng bằng bất cứ giá nào ông cũng không được lấy phải một kẻ ngốc; và họ đã có một trận cãi vã kéo dài, nếu như có thể gọi đó là cãi vã khi một bên giữ vẻ im lặng đầy tôn nghiêm còn bên kia thì tha thiết xin lỗi, về việc liệu bà Wilkins có ý ám chỉ ông Wilkins là một căn biệt thự hay không.

“Mình tin là,” bà đã nghĩ khi chuyện đó rốt cuộc cũng qua đi—mất bao nhiêu là thời gian—“rằng bất kỳ ai cũng có thể cãi nhau về bất cứ chuyện gì khi họ không rời nhau lấy một ngày trong suốt hai năm trời. Điều cả hai chúng mình cần là một kỳ nghỉ.”

“Chồng tôi,” bà Wilkins tiếp tục nói với bà Arbuthnot, cố soi rọi đôi chút về bản thân, “là một luật sư tư vấn. Ông ấy—” Bà lục lọi tìm kiếm điều gì đó có thể làm sáng tỏ thêm về Mellersh, rồi tìm ra: “Ông ấy rất đẹp trai.”

“Thế thì,” bà Arbuthnot ân cần nói, “đó hẳn là một niềm vinh hạnh lớn cho bà.”

“Sao lại thế ạ?” bà Wilkins hỏi.

“Bởi vì,” bà Arbuthnot đáp, hơi lúng túng một chút, vì việc thường xuyên tiếp xúc với người nghèo đã khiến bà quen với việc những lời phán đoán của mình luôn được đón nhận mà không chút mảy may nghi ngờ, “bởi vì vẻ đẹp—sự đẹp trai—cũng là một món quà như bao món quà khác, và nếu nó được sử dụng đúng đắn—”

Giọng bà nhỏ dần rồi tắt hẳn. Đôi mắt xám to tròn của bà Wilkins đang nhìn chăm chú vào bà, và bà Arbuthnot chợt cảm thấy dường như mình đang bị đóng khung vào thói quen thuyết giáo, lại còn thuyết giáo theo kiểu bảo mẫu, chỉ vì bấy lâu nay thính giả của bà chẳng thể làm gì khác ngoài việc đồng tình, có muốn ngắt lời cũng sợ sệt, những kẻ chẳng biết gì và thực chất hoàn toàn phó mặc cho bà định đoạt.

Nhưng bà Wilkins đâu có lắng nghe; bởi ngay lúc ấy, dù nghe có vẻ kỳ quặc, một hình ảnh đã lóe lên trong tâm trí bà: có hai bóng người đang ngồi cạnh nhau dưới một giàn tử đằng xum xuê buông rủ qua những cành cây của một loài cây bà không hề biết tên, và đó chính là bản thân bà cùng bà Arbuthnot—bà nhìn thấy họ—bà nhìn thấy họ thật rõ ràng. Và phía sau họ, rực rỡ dưới ánh mặt trời, là những bức tường xám cổ kính—lâu đài thời trung cổ—bà nhìn thấy nó—họ đang ở đó...

Vì thế bà cứ nhìn trừng trừng vào bà Arbuthnot mà không nghe lọt một lời nào đối phương nói. Và bà Arbuthnot cũng nhìn trừng trừng lại bà Wilkins, bị cuốn hút bởi nét biểu cảm trên gương mặt bà ấy, một nét mặt đang tràn ngập nỗi phấn khích trước những gì mình trông thấy, bừng sáng và rung rinh như mặt nước dưới ánh mặt trời khi bị một cơn gió thoảng làm xao động. Vào khoảnh khắc này, nếu đang ở một bữa tiệc, ắt hẳn bà Wilkins sẽ được người ta ngắm nhìn bằng ánh mắt đầy thích thú.

Họ nhìn nhau trân trân; bà Arbuthnot thì ngạc nhiên, dò hỏi, còn bà Wilkins thì mang ánh mắt của một kẻ vừa nhận được điều mặc khải. Dĩ nhiên rồi. Đó chính là cách để thực hiện. Bản thân bà, chỉ một mình bà thôi, thì không thể kham nổi, mà dẫu có kham nổi đi chăng nữa bà cũng chẳng thể đi tới đó một thân một mình; nhưng nếu bà và bà Arbuthnot cùng đi...

Bà nhoài người qua bàn. “Sao chúng ta không thử thuê lấy nó nhỉ?” bà thì thầm.

Mắt bà Arbuthnot càng mở to hơn. “Thuê nó ư?” bà lặp lại.

“Phải,” bà Wilkins nói, giọng vẫn như sợ có ai nghe lỏm được. “Đừng chỉ ngồi đây mà bảo Tuyệt quá, rồi lại lủi thủi về Hampstead mà chẳng buồn nhấc một ngón tay—về nhà như thường lệ, lo liệu bữa tối và món cá y như chúng ta đã làm suốt bao năm qua và sẽ còn tiếp tục làm trong bao năm tới. Thực sự đấy,” bà Wilkins nói, đỏ mặt đến tận chân tóc, bởi chính âm thanh của những lời mình đang nói, những lời đang tuôn ra xối xả, làm bà hoảng sợ, thế nhưng bà không tài nào dừng lại được, “tôi thấy chẳng có hồi kết nào cả. Chẳng có hồi kết nào hết. Cho nên phải có một quãng ngắt, phải có những khoảng nghỉ—vì lợi ích của tất cả mọi người. Này nhé, việc bỏ đi và được hạnh phúc trong chốc lát thực ra lại là một việc làm vị tha đấy chứ, bởi khi trở về chúng ta sẽ trở nên dễ thương hơn biết bao. Bà thấy đấy, ai rồi cũng đến lúc cần một kỳ nghỉ.”

“Nhưng—ý bà thuê nó là thế nào?” bà Arbuthnot hỏi.

“Giành lấy nó,” bà Wilkins đáp.

“Giành lấy nó ư?”

“Thuê nó. Mướn nó. Sở hữu nó.”

“Nhưng—ý bà là tôi và bà sao?”

“Phải. Hai chúng ta. Chia đôi. Như thế thì chỉ tốn một nửa tiền thôi, mà trông bà kìa—trông bà hệt như thể bà cũng đang khao khát điều đó chẳng kém gì tôi—như thể bà rất cần được nghỉ ngơi—cần có một điều gì đó hạnh phúc đến với mình.”

“Kìa, nhưng chúng ta đâu có quen biết nhau.”

“Nhưng bà thử nghĩ xem chúng ta sẽ hiểu nhau đến nhường nào nếu cùng nhau đi xa một tháng! Tôi đã dành dụm một khoản phòng khi cơ nhỡ, và tôi đoán bà cũng vậy, mà đây chính là ngày cơ nhỡ rồi còn gì—bà nhìn ngoài trời xem—”

“Bà này mất trí rồi,” bà Arbuthnot thầm nghĩ; thế nhưng lòng bà lại dâng lên một niềm xao xuyến lạ kỳ.

“Nghĩ mà xem, được trốn đi cả một tháng trời—tránh xa tất cả mọi thứ—để tới thiên đường—”

“Bà ấy không nên nói những lời như thế,” bà Arbuthnot nghĩ. “Cha xứ mà nghe được thì...” Thế nhưng bà vẫn thấy lòng xao xuyến khôn nguôi. Quả thực sẽ tuyệt vời biết bao nếu được nghỉ ngơi, được trút bỏ mọi gánh nặng.

Tuy nhiên, thói quen cũ đã giúp bà lấy lại thăng bằng; và bao năm tiếp xúc với người nghèo khiến bà cất lời bằng vẻ bề trên tuy có phần cảm thông của một kẻ giảng giải: “Nhưng bà thấy đấy, thiên đường đâu có ở nơi nào khác. Thiên đường ở ngay đây và lúc này. Chúng ta vẫn được dạy như vậy mà.”

Bà trở nên hết sức nghiêm trang, y như những lúc bà kiên nhẫn giúp đỡ và khai sáng cho người nghèo. “Thiên đường ở trong lòng chúng ta,” bà cất giọng dịu dàng, trầm ấm. “Đấng Tối cao đã răn dạy chúng ta như thế. Và bà cũng biết những câu thơ về những mối giao hòa rồi đấy, phải không...”

“Ồ vâng, tôi biết chứ,” bà Wilkins sốt ruột ngắt lời.

“Những mối giao hòa của thiên đường và mái ấm,” bà Arbuthnot nói tiếp, vốn đã quen nói cho hết câu. “Thiên đường ngự trị ngay trong chính mái ấm của chúng ta.”

“Không hề,” bà Wilkins lại buông một câu đầy bất ngờ.

Bà Arbuthnot sững sờ. Rồi bà dịu giọng nói: “Ồ, có chứ. Nó ở đó nếu chúng ta chọn như vậy, nếu chúng ta tạo dựng nên nó.”

“Tôi có chọn, tôi có tạo dựng, nhưng nó chẳng hề có,” bà Wilkins đáp.

Thế là bà Arbuthnot nín lặng, bởi đôi khi chính bà cũng hoài nghi về hai chữ mái ấm. Bà ngồi đó, bồn chồn nhìn bà Wilkins, càng lúc càng cảm thấy nhu cầu cấp bách phải phân loại người phụ nữ này. Nếu bà có thể phân loại được bà Wilkins, xếp bà ta an toàn vào đúng danh mục thích hợp, bà cảm thấy bản thân mình sẽ lấy lại được thế cân bằng—thứ dường như đang chao đảo ngả nghiêng một cách kỳ lạ. Bởi chính bà cũng đã bao năm chẳng có lấy một kỳ nghỉ, và mẩu quảng cáo khi đập vào mắt cũng từng khiến bà mơ màng, rồi sự phấn khích của bà Wilkins lại có sức lây lan mãnh liệt, khiến bà có cảm giác, khi lắng nghe những lời nói bốc đồng, lập dị kia và ngắm nhìn gương mặt bừng sáng ấy, như thể mình đang bị đánh thức khỏi một giấc ngủ dài.

Rõ ràng là bà Wilkins có vấn đề về thần kinh, nhưng bà Arbuthnot từng gặp những kẻ bất ổn như thế rồi—thực ra bà gặp suốt—và họ chẳng mảy may ảnh hưởng gì đến sự vững vàng của bà; thế mà người này lại đang khiến bà thấy lung lay đến thế, như thể việc rũ bỏ tất cả để ra đi, rời xa khỏi bốn điểm phương hướng của cuộc đời bà là Thiên Chúa, Người Chồng, Mái Ấm và Bổn Phận—bà không có cảm giác là bà Wilkins định cho ông Wilkins đi cùng—để được hạnh phúc dù chỉ một lần thôi, lại là một điều vừa tốt đẹp vừa đáng khao khát. Mà điều đó dĩ nhiên là không phải rồi; chắc chắn dĩ nhiên là không phải. Bản thân bà cũng có một món tiền phòng thân, tích cóp dần dà trong Ngân hàng Tiết kiệm Bưu điện, nhưng nghĩ đến chuyện bà dám quên đi bổn phận đến mức rút nó ra để tiêu xài cho riêng mình thì thật là phi lý. Chắc chắn bà không thể, và sẽ không bao giờ làm một việc như thế? Chắc chắn bà sẽ không đời nào, không thể nào quên đi những người nghèo của mình, quên đi nỗi khốn cùng và bệnh tật một cách triệt để đến thế? Hẳn nhiên một chuyến đi Ý sẽ vô cùng thú vị, nhưng trên đời có biết bao điều thú vị người ta muốn làm, và sức mạnh được ban cho con người để làm gì nếu không phải để giúp người ta kiềm chế không làm những điều đó?

Kiên định như các hướng trên la bàn đối với bà Arbuthnot là bốn thực tế lớn lao của cuộc đời: Thiên Chúa, Người Chồng, Mái Ấm, Bổn Phận. Bà đã yên giấc trên những thực tế ấy từ nhiều năm trước, sau một giai đoạn ngập tràn đau khổ, gối đầu lên chúng như gối lên một chiếc đệm êm; và bà vô cùng sợ hãi việc bị đánh thức khỏi một trạng thái thanh thản và giản đơn đến thế. Chính vì lẽ đó mà bà tha thiết tìm kiếm một đề mục để xếp bà Wilkins vào, ngõ hầu soi sáng và ổn định lại tâm trí mình; và ngồi đó nhìn đối phương đầy ái ngại sau nhận xét vừa rồi, cảm thấy bản thân ngày càng mất thăng bằng và bị cuốn theo, bà quyết định tạm thời, như lời vị cha xứ vẫn nói trong các cuộc họp, xếp bà ấy vào mục Dây Thần Kinh. Rất có thể bà ta phải vào thẳng danh mục Chứng Hysteria, vốn thường là bước đệm dẫn tới Bệnh Điên, nhưng bà Arbuthnot đã học được cách không vội vã đưa người khác vào những danh mục sau cùng, bởi đã hơn một lần bà bàng hoàng nhận ra mình lầm lẫn; và việc kéo họ ra khỏi đó khó khăn biết bao, còn bản thân bà thì bị đè nặng bởi nỗi ân hận khủng khiếp nhường nào.

Phải rồi. Dây Thần Kinh. Có lẽ bà ấy không có công việc cố định nào để phục vụ tha nhân, bà Arbuthnot thầm nghĩ; không có công việc nào giúp bà ấy thoát ra khỏi cái tôi của chính mình. Rõ ràng bà ấy là một con thuyền mất lái—bị xô đẩy bởi những cơn gió giật, bởi những bốc đồng nhất thời. Dây Thần Kinh gần như chắc chắn là danh mục của bà ấy, hoặc chẳng bao lâu nữa sẽ là như vậy nếu không có ai giúp đỡ. Tội nghiệp con người nhỏ bé này, bà Arbuthnot nghĩ, sự thăng bằng trong bà dần trở lại song hành cùng lòng trắc ẩn, và vì vướng chiếc bàn nên bà không nhìn thấy đôi chân dài của bà Wilkins. Tất cả những gì bà thấy chỉ là gương mặt nhỏ nhắn, háo hức mà e thẹn, bờ vai gầy guộc, cùng ánh nhìn khát khao như con trẻ trong mắt bà ấy hướng về một điều mà bà ấy tin chắc sẽ đem lại hạnh phúc cho mình. Không; những thứ như thế không làm cho con người ta hạnh phúc được, những thứ phù du ấy. Bà Arbuthnot đã học được trong suốt những năm tháng dài chung sống với Frederick—chồng bà, người bà kết hôn năm hai mươi tuổi và giờ bà đã ba mươi ba—rằng niềm vui đích thực chỉ có thể tìm thấy ở đâu. Giờ đây bà hiểu rằng chúng chỉ được tìm thấy trong việc sống từng ngày, từng giờ vì người khác; chúng chỉ được tìm thấy—chẳng phải bà đã bao lần mang những thất vọng và chán chường của mình đến đó, rồi ra về trong sự an ủi hay sao?—dưới chân Thiên Chúa.

Frederick từng là kiểu người chồng khiến cho người vợ phải sớm tìm đường nương náu dưới chân Thiên Chúa. Từ người chồng ấy đến với Người là một bước đi ngắn ngủi nhưng đầy đớn đau. Giờ nhìn lại bà thấy nó ngắn ngủi, nhưng thực tế nó đã ngốn trọn cả năm đầu tiên trong cuộc hôn nhân của họ, mỗi tấc đường đều là một cuộc giằng xé, và từng tấc đường ấy, vào thời điểm đó bà cảm thấy, đều thấm đẫm máu từ con tim mình. Giờ thì mọi chuyện đã qua. Bà đã tìm thấy bình yên từ lâu rồi. Và Frederick, từ người bạn đời được yêu thương say đắm, từ người chồng trẻ được tôn sùng, đã trở thành kẻ đứng thứ hai sau Thiên Chúa trong danh sách những bổn phận và sự nhẫn nhịn của bà. Ông ta treo lơ lửng ở đó, kẻ quan trọng thứ hai, một thực thể cạn kiệt sinh khí bị vắt kiệt bởi những lời cầu nguyện của bà. Suốt bao năm qua, bà chỉ có thể hạnh phúc bằng cách quên đi hạnh phúc. Bà muốn giữ mình mãi như thế. Bà muốn khép chặt lòng mình trước mọi thứ có thể gợi nhắc về những điều tươi đẹp, những thứ có thể lại khơi dậy trong bà niềm khao khát, ước mong...

“Tôi rất muốn chúng ta trở thành bạn bè,” bà tha thiết nói. “Bà có thể đến thăm tôi, hoặc thỉnh thoảng để tôi ghé qua chỗ bà được không? Bất cứ khi nào bà cảm thấy muốn trò chuyện. Tôi sẽ đưa địa chỉ của tôi”—bà lục tìm trong túi xách—“để bà không quên.” Và bà tìm thấy một tấm danh thiếp rồi chìa ra.

Bà Wilkins phớt lờ tấm danh thiếp.

“Buồn cười thật đấy,” bà Wilkins nói, cứ như thể không hề nghe thấy đối phương, “nhưng tôi nhìn thấy cả hai chúng ta—bà và tôi—trong tháng Tư này ở tòa lâu đài trung cổ ấy.”

Bà Arbuthnot lại rơi vào trạng thái bất an. “Thế ư?” bà nói, cố gượng giữ thăng bằng trước ánh nhìn như mộng du của đôi mắt xám sáng ngời. “Thế ư?”

“Có bao giờ bà nhìn thấy mọi sự lóe lên như một tia chớp trước khi chúng thực sự xảy ra không?” bà Wilkins hỏi.

“Chưa bao giờ,” bà Arbuthnot đáp.

Bà cố mỉm cười; bà cố nở nụ cười đầy cảm thông nhưng khôn ngoan và bao dung mà bà vẫn thường dùng để lắng nghe những quan điểm tất yếu mang tính thiên lệch và nông cạn của người nghèo. Song bà không thành công. Nụ cười run rẩy rồi tắt ngấm.

“Dĩ nhiên rồi,” bà nói khẽ, gần như sợ rằng cha xứ và Ngân hàng Tiết kiệm đang lắng nghe, “điều đó sẽ vô cùng tươi đẹp—vô cùng tươi đẹp...”

“Dù cho nó có sai trái đi chăng nữa,” bà Wilkins nói, “thì cũng chỉ trong một tháng thôi mà.”

“Điều đó—” bà Arbuthnot bắt đầu, hoàn toàn nhận thức rõ sự đáng trách của một quan điểm như vậy; nhưng bà Wilkins đã chặn lời trước khi bà kịp dứt câu.

“Dẫu sao đi nữa,” bà Wilkins chặn lời bà, “tôi chắc chắn rằng cứ ngoan ngoãn tốt lành mãi cho đến lúc bản thân trở nên khốn khổ cũng là một điều sai trái. Và tôi có thể thấy bà đã sống tốt lành suốt bao năm qua, bởi vì trông bà đau khổ đến thế kia mà”—bà Arbuthnot há miệng định phản đối—“còn tôi—tôi chẳng làm gì khác ngoài bổn phận, làm mọi thứ vì người khác kể từ khi còn là một đứa con gái, thế mà tôi chẳng tin là có ai yêu thương tôi hơn—dù chỉ một chút—chút nào cả—và tôi thèm khát—ôi, tôi thèm khát—một điều gì đó khác—một điều gì đó khác biệt...”

Liệu bà ấy có khóc không đây? Bà Arbuthnot cảm thấy vô cùng bối rối và xót xa. Bà mong sao đối phương đừng khóc. Đừng khóc ở đây. Đừng ở trong cái căn phòng lạnh lẽo này, nơi những người xa lạ cứ đến rồi đi.

Thế nhưng bà Wilkins, sau một hồi cuống cuồng giật chiếc khăn tay mãi không chịu chui ra khỏi túi, rốt cuộc cũng xoay xở làm như thể chỉ dùng nó để xì mũi, rồi chớp chớp mắt thật nhanh một hai lần, nhìn bà Arbuthnot với vẻ áy náy run rẩy vừa nhún nhường vừa sợ sệt, rồi mỉm cười.

“Bà có tin không,” bà thì thầm, cố ghìm lại bờ môi đang run rẩy, rõ ràng là vô cùng xấu hổ về bản thân, “rằng cả đời tôi chưa từng nói chuyện với ai như thế này bao giờ? Tôi không thể hiểu nổi, tôi thực sự chẳng biết cái gì đã xui khiến tôi nữa.”

“Là do mẩu quảng cáo đấy,” bà Arbuthnot nói, gật đầu vẻ trang nghiêm.

“Phải rồi,” bà Wilkins nói, lén chấm chấm lên khóe mắt, “và cũng tại cả hai chúng ta đều quá đỗi...” bà lại khẽ xì mũi một cái, “...khốn khổ.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.