Tháng Tư Diệu Kỳ

Lượt đọc: 205 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13

❊ ❊ ❊

Những ngày trôi qua êm đềm — ít nhất là với vẻ bề ngoài — trong ngập tràn ánh nắng, còn đám người làm khi quan sát bốn vị phu nhân thì đi đến kết luận rằng ở họ chẳng có mấy sức sống.

Đối với gia nhân, San Salvatore như thể đang chìm trong giấc ngủ. Chẳng ai đến dùng trà chiều, mà các quý bà cũng chẳng đi đâu uống trà. Những người thuê nhà vào các mùa xuân trước năng nổ hơn nhiều. Dạo ấy thật nhộn nhịp và đầy sinh khí; thuyền được đem ra chèo; các chuyến ngoạn cảnh được tổ chức; xe ngựa của Beppo được đặt liên tục; khách khứa từ Mezzago kéo sang chơi suốt cả ngày; ngôi nhà rộn rã tiếng cười nói; thậm chí đôi khi người ta còn uống cả sâm-panh. Cuộc sống khi ấy thật đa dạng, thật thú vị. Còn bây giờ thì sao? Thế này là thế nào? Gia nhân thậm chí còn không bị quở trách. Họ bị bỏ mặc hoàn toàn. Và thế là họ ngáp dài.

Điều khiến họ khó hiểu nữa là sự vắng bóng hoàn toàn của các quý ông. Sao các quý ông lại có thể cưỡng lại vẻ đẹp ngập tràn nhường ấy? Bởi cộng gộp lại, ngay cả sau khi đã trừ đi bà cụ lớn tuổi, thì ba quý cô trẻ trung còn lại vẫn tạo nên một tổng thể nhan sắc vô cùng ấn tượng — thứ mà các quý ông thường mê mải tìm kiếm.

Ngoài ra, ý muốn thấy rõ của mỗi quý bà là dành hàng giờ đồng hồ tách biệt khỏi những người còn lại cũng khiến đám người làm bối rối. Kết quả là một bầu không khí tĩnh mịch như tờ bao trùm ngôi nhà, trừ những giờ ăn. Nơi đây dường như cũng trống trải chẳng khác gì suốt mùa đông, chẳng hề có chút âm thanh nào của sự sống. Bà cụ già ngồi một mình trong phòng; quý bà mắt huyền thì thơ thẩn một mình, mà theo lời Domenico — người đôi khi bắt gặp cô trong lúc làm nhiệm vụ — là cứ đi lang thang một cách khó hiểu giữa những rặng đá; vị quý cô tóc vàng xinh đẹp tuyệt trần thì nằm một mình trên chiếc ghế thấp ở khu vườn trên cao; vị quý cô tóc vàng kém xinh hơn một chút, nhưng vẫn rất quyến rũ, thì đi lên những ngọn đồi và ở lì trên đó hàng giờ liền, cũng một mình; và ngày ngày, mặt trời chậm rãi tỏa nắng rực rỡ quanh ngôi nhà rồi lặn xuống biển vào buổi hoàng hôn, mà chẳng có bất kỳ chuyện gì xảy ra cả.

Đám người làm lại ngáp.

Thế nhưng, bốn vị khách, dù thể xác họ đang ngồi — như bà Fisher — hay nằm — như Tiểu thư Caroline — hay thơ thẩn — như bà Arbuthnot — hay cô độc bước lên những ngọn đồi — như bà Wilkins — thì tâm trí họ lại chẳng hề uể uải chút nào. Đầu óc họ hoạt động vô cùng sôi nổi. Ngay cả ban đêm, tâm trí họ vẫn bận rộn, và những giấc mơ họ trải qua đều rõ ràng, thanh thoát, nhanh đến rồi đi, hoàn toàn khác với những giấc mơ nặng nề ở nhà. Bầu không khí của San Salvatore có một sức hút kỳ lạ, khiến tâm trí của bất kỳ ai cũng trở nên linh hoạt, ngoại trừ người dân bản địa. Những người dân nơi đây, như trước tới nay, dù cảnh vật xung quanh có đẹp đẽ đến đâu, dù các mùa có hào phóng ban tặng điều gì, vẫn miễn nhiễm với những suy nghĩ khác ngoài những bận tâm quen thuộc hằng ngày. Cả đời họ, năm này qua năm khác, đã chứng kiến khung cảnh tháng Tư tái sinh ngoạn mục trong các khu vườn, và sự quen thuộc đã khiến họ trở nên vô cảm với nó. Họ mù tịt, họ không hề hay biết về nó, chẳng khác gì con chó của Domenico đang nằm ngủ dưới ánh mặt trời.

Nhưng các vị khách thì không thể nhắm mắt trước vẻ đẹp ấy — nó quá đỗi cuốn hút sau những ngày ở London vào một tháng Ba đặc biệt mưa ướt và ảm đạm. Đột nhiên được đưa đến một nơi mà không khí tĩnh lặng đến mức như nín thở, nơi ánh sáng dát vàng khiến ngay cả những vật bình dị nhất cũng trở nên lung linh huyền ảo — được đưa vào bầu không khí ấm áp dịu nhẹ, ngạt ngào hương thơm mơn trớn ấy, với tòa lâu đài cổ xám xịt làm nền, và phía xa xa là những ngọn đồi thanh bình, trong trẻo như trong tranh của Perugino, quả là một sự tương phản kinh ngạc. Ngay cả Tiểu thư Caroline, người đã quen với vẻ đẹp cả đời, người đã đi khắp nơi và thấy đủ mọi điều, cũng cảm thấy ngỡ ngàng. Năm đó, mùa xuân đẹp một cách đặc biệt, và trong tất cả các tháng ở San Salvatore, tháng Tư — nếu thời tiết đẹp — là tuyệt vời nhất. Tháng Năm oi nồng và thiêu rụi; tháng Ba bồn chồn, và có thể gắt gỏng, lạnh lẽo trong sự rực rỡ của nó; nhưng tháng Tư đến dịu dàng như một lời chúc phúc, và nếu là một tháng Tư đẹp trời, nó sẽ mỹ lệ đến mức người ta không thể không cảm thấy khác đi, không thể không thấy lòng mình xao xuyến và xúc động.

Bà Wilkins, như chúng ta đã thấy, phản ứng ngay lập tức với điều đó. Có thể nói, cô đã lập tức trút bỏ mọi lớp vỏ bọc và lao thẳng vào sự huy hoàng ấy, không chút ngần ngừ, với một tiếng reo vui sướng.

Bà Arbuthnot cũng xao xuyến và xúc động, nhưng theo một cách khác. Cô có những cảm giác kỳ lạ — sẽ được mô tả ngay sau đây.

Bà Fisher, vì đã già, nên tâm hồn cứng cỏi, khó thâm nhập hơn, và có sức kháng cự lớn hơn; nhưng bà cũng có những cảm giác kỳ lạ, cũng sẽ được mô tả đúng chỗ của chúng.

Tiểu thư Caroline, vốn đã quá quen thuộc với những ngôi nhà tráng lệ và khí hậu tuyệt mỹ, nên không thể đón nhận nơi này với cùng một sự ngạc nhiên trọn vẹn, nhưng cô lại phản ứng nhanh gần như bà Wilkins. Nơi này tác động lên cô gần như ngay lập tức, và cô nhận thức được một phần của sự tác động đó: nó đã khiến cô, ngay từ buổi tối đầu tiên, muốn suy nghĩ, và tác động lên cô một cách kỳ lạ như thể một tiếng nói lương tâm. Điều mà tiếng nói lương tâm này như muốn xoáy sâu vào nhận thức của cô với một sự hối thúc khiến cô giật mình — Tiểu thư Caroline do dự khi chấp nhận từ này, nhưng nó cứ lảng vảng trong đầu cô — đó là cô thật rẻ tiền.

Rẻ tiền. Cô ư. Thật nực cười.

Cô phải suy nghĩ kỹ về điều này mới được.

Buổi sáng sau bữa tối đầu tiên ăn cùng nhau, cô thức dậy trong sự hối hận vì đêm qua đã quá cởi mở nói chuyện với bà Wilkins. Cô tự hỏi điều gì đã khiến mình làm vậy. Giờ đây, dĩ nhiên là bà Wilkins sẽ muốn bám lấy cô, sẽ muốn khăng khăng không rời; và nghĩ đến cảnh một người cứ đeo bám dính lấy mình suốt bốn tuần lễ khiến tâm hồn Scrap muốn ngất đi. Chắc chắn rằng bà Wilkins, sau khi được khích lệ, sẽ rình rập ở khu vườn trên cao để đón đường cô khi cô ra ngoài, và sẽ chào cô bằng sự niềm nở buổi sáng. Cô ghét biết bao khi bị chào đón bằng sự niềm nở buổi sáng — hay đúng hơn, ghét bị chào hỏi bất kỳ lúc nào. Đêm qua cô không nên khích lệ bà Wilkins. Khích lệ người khác là một sai lầm chết người. Ngay cả khi không khích lệ đã đủ tệ rồi, vì chỉ cần ngồi đó và không nói gì thôi cũng thường khiến cô bị kéo vào rắc rối, huống chi là chủ động khích lệ thì chẳng khác nào tự sát. Rốt cuộc cái gì đã xui khiến cô làm vậy? Giờ đây cô sẽ phải lãng phí tất cả khoảng thời gian quý báu, khoảng thời gian tuyệt đẹp dành để suy nghĩ, để đối diện với chính mình, chỉ để xua đuổi bà Wilkins.

Với sự cẩn trọng tối đa và bước đi trên đầu ngón chân, giữ thăng bằng khéo léo để sỏi không phát ra tiếng sột soạt, cô lén bước ra góc riêng của mình khi đã thay đồ xong; nhưng khu vườn trống không. Chẳng cần phải xua đuổi ai cả. Dù là bà Wilkins hay bất kỳ ai khác đều không thấy bóng dáng. Cô hoàn toàn sở hữu không gian ấy cho riêng mình. Ngoại trừ Domenico, người một lúc sau tiến lại gần và quẩn quanh tưới cây, lại đặc biệt là những cây ở gần cô nhất, thì chẳng có ai bước ra ngoài cả; và khi, sau một thời gian dài đuổi theo những suy nghĩ dường như cứ tuột mất ngay khi cô vừa nắm bắt được, rồi thiếp đi vì kiệt sức giữa những khoảng nghỉ của cuộc rượt đuổi đó, cô cảm thấy đói, nhìn đồng hồ và thấy đã hơn ba giờ chiều, cô mới nhận ra chẳng ai buồn gọi cô vào ăn trưa. Vì vậy, Scrap không thể không chú ý rằng, nếu có ai bị "xua đuổi", thì đó chính là bản thân cô.

Chà, nhưng thật tuyệt vời làm sao, và mới mẻ làm sao. Giờ đây cô sẽ thực sự có thể suy nghĩ mà không bị gián đoạn. Thật dễ chịu khi bị lãng quên.

Dù vậy, cô vẫn đói; và bà Wilkins, sau sự thân thiện thái quá vào tối hôm trước, ít nhất cũng nên báo cho cô biết bữa trưa đã sẵn sàng chứ. Mà cô thì đã thực sự thân thiện đến thế — tử tế đến mức lo liệu chỗ ngủ cho Mellersh, muốn ông ấy ở phòng để trống và mọi thứ. Cô vốn chẳng mấy khi quan tâm đến việc sắp xếp, thực ra là chẳng bao giờ quan tâm; nên Scrap tự thấy mình gần như đã hạ mình để tỏ ra dễ thương với bà Wilkins. Và đáp lại, bà Wilkins thậm chí còn chẳng buồn bận tâm xem cô có được ăn trưa hay không.

May mắn thay, dù đói, cô cũng không phiền khi bỏ một bữa ăn. Cuộc đời đầy tắp lửng những bữa ăn. Chúng chiếm một khoảng thời gian quá lớn; và bà Fisher, cô e rằng, lại là một trong những người cứ lê thê ở bàn ăn. Cô đã dùng bữa tối với bà Fisher hai lần, và lần nào bà cụ cũng thật khó chuyển dời vào lúc cuối bữa, cứ thong thả cắn hết hạt này đến hạt khác và chậm rãi nhấp từng ngụm rượu như thể sẽ chẳng bao giờ xong. Có lẽ tạo thói quen bỏ bữa trưa lại là chuyện tốt, và vì việc gọi mang trà ra ngoài cho cô vô cùng dễ dàng, lại thêm cô ăn sáng tại phòng, nên mỗi ngày cô chỉ phải ngồi ở bàn ăn đúng một lần và chịu đựng những hạt óc chó.

Scrap rúc đầu thoải mái vào đệm, gác chân lên bờ tường thấp rồi lại chìm đắm vào những suy tưởng. Cô tự nói với mình, như đã tự nói nhiều lần suốt buổi sáng: Giờ mình sẽ suy nghĩ đây. Nhưng, vì chưa từng suy nghĩ thấu đáo điều gì trong đời, nên việc đó thật khó khăn. Thật kỳ lạ là sự chú ý của người ta chẳng chịu tập trung; thật kỳ lạ là tâm trí cứ chệch sang hướng khác. Khi bắt đầu rà soát lại quá khứ như một bước đệm để cân nhắc tương lai, và lùng xới trong đó để tìm kiếm bất kỳ sự bào chữa nào cho từ rẻ tiền tai hại ấy, điều tiếp theo cô nhận ra là mình chẳng hề nghĩ về nó nữa, mà không hiểu sao đã chuyển hướng sang ông Wilkins.

Chà, ông Wilkins thì rất dễ nghĩ đến, dù chẳng mấy dễ chịu. Cô nhìn sự xuất hiện sắp tới của ông với sự lo ngại. Bởi không chỉ việc có thêm một người đàn ông tham gia vào nhóm là một sự phiền phức sâu sắc và bất ngờ, mà lại còn là kiểu đàn ông mà cô chắc chắn ông Wilkins thuộc về, mà cô còn sợ — và nỗi sợ của cô là kết quả của một kinh nghiệm tẻ nhạt không bao giờ thay đổi — rằng ông ta có thể sẽ muốn quấn quýt quanh cô.

Khả năng này rõ ràng vẫn chưa xẩy qua trong đầu bà Wilkins, và đó cũng không phải là điều cô có thể tùy tiện nhắc cho bà ấy chú ý; nghĩa là, nếu không muốn trở nên tráo trở đến mức không thể chấp nhận được. Cô cố hy vọng ông Wilkins sẽ là một ngoại lệ tuyệt vời cho cái quy luật đáng sợ đó. Giá mà ông ta được như vậy, cô sẽ biết ơn ông ta đến mức cô tin rằng mình thực sự có thể khá mến ông ta.

Nhưng — cô lại lo ngại. Giả sử ông ta cứ lảng vảng quanh cô đến mức đuổi cô ra khỏi khu vườn trên cao tuyệt đẹp này; giả sử ánh sáng trên gương mặt ngộ nghĩnh, biến ảo của bà Wilkins bị dập tắt. Scrap cảm thấy mình sẽ đặc biệt không thích điều đó xảy ra với khuôn mặt của bà Wilkins, thế nhưng trong đời cô chưa từng gặp người vợ nào, hoàn toàn không có một ai, có khả năng hiểu rằng cô không hề muốn chồng của họ dù chỉ một chút. Cô thường gặp những người vợ cũng chẳng cần chồng mình, nhưng điều đó không làm họ bớt tức giận nếu họ nghĩ ai đó khác lại cần, và cũng không làm họ bớt tin chắc, khi thấy các ông chồng lảng vảng quanh Scrap, rằng cô đang cố quyến rũ họ. Cố quyến rũ họ! Chỉ riêng suy nghĩ ấy, chỉ riêng hồi tưởng về những tình huống đó, đã lấp đầy cô bằng một sự chán ngắt đến mức khiến cô lập tức chìm vào giấc ngủ một lần nữa.

Khi tỉnh dậy, cô lại tiếp tục nghĩ về ông Wilkins.

Bây giờ nếu, Scrap nghĩ, ông Wilkins không phải là ngoại lệ và cư xử theo cách thông thường, liệu bà Wilkins có hiểu cho không, hay điều đó sẽ đơn giản là phá hỏng kỳ nghỉ của bà ấy? Bà ấy có vẻ tinh ý, nhưng liệu bà ấy có tinh ý về đúng chuyện này không? Bà ấy có vẻ hiểu và nhìn thấu bên trong một con người, nhưng liệu bà ấy có hiểu và nhìn thấu khi chuyện liên quan đến ông Wilkins?

Một Scrap đầy kinh nghiệm cảm thấy hoài nghi. Cô dịch chuyển chân trên bờ tường; cô giật nhẹ chiếc đệm cho thẳng lại. Có lẽ cô nên thử giải thích với bà Wilkins, trong những ngày còn lại trước khi ông ta đến — giải thích một cách tổng quát, hơi mơ hồ và nói chuyện phiếm — về thái độ của cô đối với những chuyện như vậy. Cô cũng có thể bày tỏ sự ghét bỏ đặc biệt của mình đối với chồng của người khác, và khao khát sâu sắc của cô là ít nhất trong một tháng này, hãy để cô yên.

Nhưng Scrap cũng hoài nghi về điều này. Nói chuyện như vậy đồng nghĩa với một sự thân mật nhất định, đồng nghĩa với việc bắt đầu một tình bạn với bà Wilkins; và nếu, sau khi đã dấn thân vào đó và đối mặt với nguy cơ quá thân thiết với bà Wilkins, ông Wilkins lại hóa ra là kẻ ma mãnh — mà người ta thường trở nên rất ma mãnh khi đã quyết tâm làm điều gì đó — và tìm được cách lẻn vào khu vườn trên cao, bà Wilkins có thể dễ dàng tin rằng mình đã bị lừa, và rằng cô, Scrap, là kẻ dối trá. Dối trá! Mà lại là về ông Wilkins. Mấy người vợ thật đáng thương làm sao.

Vào lúc bốn giờ rưỡi, cô nghe thấy tiếng đĩa tách ở phía bên kia những bụi cây thạch nam. Có phải trà đang được mang ra cho cô không?

Không; âm thanh không tiến lại gần hơn, chúng dừng lại ở gần nhà. Trà sẽ được dùng trong vườn, trong khu vườn của cô. Scrap cho rằng ít nhất người ta cũng nên hỏi xem cô có phiền khi bị làm phiền hay không. Họ đều biết cô ngồi ở đây mà.

Có lẽ ai đó sẽ mang phần của cô đến góc riêng này.

Không; chẳng ai mang gì đến cả.

Chà, cô quá đói nên không thể không ra dùng trà với những người khác hôm nay, nhưng cô sẽ đưa ra mệnh lệnh nghiêm ngặt cho Francesca trong tương lai.

Cô đứng dậy, bước đi với vẻ uyển chuyển chậm rãi — một trong vô số những sức hút quá đỗi khiêu khích của cô — về phía có tiếng đĩa tách trà. Cô không chỉ nhận thức được rằng mình đang rất đói mà còn muốn nói chuyện với bà Wilkins một lần nữa. Bà Wilkins đã không đeo bám, bà ấy đã để cô hoàn toàn tự do cả ngày bất chấp sự thân thiện tối hôm trước. Dĩ nhiên bà ấy là một người kỳ dị, lại còn mặc áo nỉ tơ tằm đi ăn tối, nhưng bà ấy không đeo bám. Đây là một điều tuyệt vời. Scrap đi về phía bàn trà với tâm trạng khá mong đợi được gặp bà Wilkins; và khi nhìn thấy bàn trà, cô chỉ thấy bà Fisher và bà Arbuthnot.

Bà Fisher đang rót trà, còn bà Arbuthnot thì đang mời bà Fisher bánh hạnh nhân. Mỗi lần bà Fisher mời bà Arbuthnot thứ gì — tách trà, sữa, hay đường — bà Arbuthnot lại mời bà Fisher bánh hạnh nhân — nài nỉ bà cụ với một sự ân cần kỳ lạ, gần như là bướng bỉnh. Đây là một trò chơi sao? Scrap tự hỏi, ngồi xuống và chộp lấy một chiếc bánh hạnh nhân.

“Bà Wilkins đâu rồi ạ?” Scrap hỏi.

Họ không biết. Ít nhất, bà Arbuthnot, khi Scrap hỏi, không biết; còn nét mặt bà Fisher, khi nghe đến cái tên đó, trở nên thờ ơ một cách có tính toán.

Hóa ra bà Wilkins đã không xuất hiện từ sau bữa sáng. Bà Arbuthnot nghĩ có lẽ cô ấy đã đi dã ngoại. Scrap nhớ cô ấy. Cô ăn những chiếc bánh hạnh nhân to tướng, những chiếc bánh ngon nhất và to nhất mà cô từng thấy, trong sự im lặng. Trà mà không có bà Wilkins thì thật tẻ nhạt; và bà Arbuthnot lại mang cái hương vị tình mẹ tai hại đó, cái kiểu muốn cưng nựng người khác, muốn làm người ta cảm thấy vô cùng thoải mái, dỗ dành người ta ăn — dỗ dành cô, người vốn dĩ đã ăn uống một cách công khai, thậm chí là thái quá — thứ hương vị dường như cứ đeo bám từng bước chân Scrap suốt cuộc đời. Băng hỏa người ta không thể để yên cho mình sao? Cô hoàn toàn có thể tự ăn những gì mình muốn mà không cần ai thúc ép. Cô cố dập tắt sự nhiệt tình của bà Arbuthnot bằng cách cộc lốc với cô ấy. Vô ích. Sự cộc lốc không hề lộ ra. Nó vẫn nằm đó, như mọi cảm xúc tiêu cực khác của Scrap, được che đậy bởi tấm màn che kiên cố của vẻ đẹp tuyệt mỹ.

Bà Fisher ngồi uy nghi như một pho tượng, chẳng buồn chú ý đến ai trong hai người họ. Bà đã trải qua một ngày kỳ lạ, và có chút lo lắng. Bà đã ở một mình hoàn toàn, vì không ai trong ba người họ đến ăn trưa, và cũng chẳng ai buồn báo cho bà biết họ sẽ không đến; còn bà Arbuthnot, khi thong thả bước vào dùng trà, lại có những hành vi kỳ quặc cho đến khi Tiểu thư Caroline gia nhập và làm phân tán sự chú ý của cô ấy.

Bà Fisher đã chuẩn bị tinh thần để không ghét bà Arbuthnot, người có mái tóc ngôi giữa và nét mặt dịu dàng trông rất đứng đắn, thùy mị, nhưng cô ấy chắc chắn có những thói quen thật khó mà ưa nổi. Thói quen lập tức lặp lại bất kỳ lời mời ăn uống nào dành cho mình, đáp trả lại lời mời ấy, theo một nghĩa nào đó, không phải là điều người ta mong chờ ở cô ấy. “Bà có dùng thêm chút trà không?” chắc chắn là một câu hỏi mà câu trả lời chỉ đơn giản là có hoặc không; nhưng bà Arbuthnot vẫn khăng khăng giữ cái thói quen mà cô đã thể hiện vào bữa sáng hôm trước, là thêm vào câu có hoặc không của mình hai từ: “Còn bà?” Cô ấy đã làm lại điều đó vào bữa sáng sáng nay và giờ lại làm lúc uống trà — hai bữa ăn mà bà Fisher chủ trì và rót nước. Tại sao cô ấy lại làm vậy? Bà Fisher không thể nào hiểu nổi.

Nhưng đây không phải là điều khiến bà lo lắng; đây chỉ là chuyện vặt rãnh. Điều khiến bà lo lắng là hôm nay bà hoàn toàn không thể chú tâm vào việc gì, và chẳng làm được gì ngoài việc đi lại bồn chồn từ phòng riêng ra bức tường thành rồi lại quay vào. Đó là một ngày lãng phí, và bà ghét sự lãng phí biết bao. Bà đã thử đọc sách, và bà đã thử viết thư cho Kate Lumley; nhưng không — đọc được vài từ, viết được vài dòng, bà lại đứng dậy đi ra bức tường thành và đăm đăm nhìn ra biển.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.