Thế Nhân Ô Trọc

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 119 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Một Giờ Trước Buổi Tiệc Trà

❊ ❊ ❊

Bà Skinnơ không thích đến muộn. Bà đã diện xong bộ trang phục bằng lụa màu đen óng ả hợp với lứa tuổi của mình vào dịp để tang người con rể vừa chết cách đây không lâu. Bà chỉ hơi ngại chiếc mũ cắm lông chim diệc làm những người quen được mời đến dự buổi tiệc trà bàn tán không hay. Mà thực ra chả lẽ vô nhân đạo đến mức giết hại những con chim trắng tinh tuyệt đẹp này ngay cả lúc chúng đang ở thời kỳ yêu đương chỉ để rút lấy bộ lông mà thôi ư. Nhưng khi mà chuyện đó đã xảy ra thì khó lòng từ chối được thứ trang phục xinh xắn và lịch thiệp này, mà có thể còn làm mếch lòng người con rể. Anh ta đem cái mũ cắm lông chim từ Borneo[1] về và bà rất thích món quà tặng đó. Cô Ketli đã nói nhiều điều khó chịu vì những chuyện mà chắc bây giờ tự bản thân cũng lấy làm hối tiếc. Nói chung Ketli không hoàn toàn thích Herôn.

 Bà Skinnơ dứt luồng suy nghĩ trong đầu (mà cuối cùng thì đấy là chiếc mũ lịch sự duy nhất của bà) và đứng trước gương gắn nó lên đầu bằng chiếc ghim có đính mẩu đá mã não lên ở cuối. Nếu có ai đó định trách móc vì cái mũ lông này thì bà đã có cách trả lời.

 - Tất nhiên là đáng sợ thật! – Bà bảo – Tôi chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện mua sắm một vật như thế, nhưng đây lại là món quà cuối cùng mà người con rể tội nghiệp tặng tôi.

 Đó sẽ là lời giải thích và thanh minh cho bà: tất cả mọi người đều thông cảm với nỗi đau buồn như vậy. Bà Skinnơ lấy từ trong tủ ra chiếc khăn mùi xoa và rẩy nhẹ lên mấy giọt nước thơm. Bà không khi nào dùng nước hoa vì coi đó là dấu hiệu không đúng đắn, quá lộ liễu, còn nước thơm tỏa mùi rất dễ chịu thì lại là chuyện khác. Bây giờ thì có thể xem là mình đã chuẩn bị xong xuôi. Bà Skinnơ rời mắt khỏi tấm gương nhìn ra cửa sổ. Linh mục Hâyút quả đã chọn được một ngày đẹp trời để mở buổi tiệc trà[2] trong vườn. Không khí ấm áp, bầu trời không một gợn mây, lá cây xanh vẫn chưa phai hết vẻ tươi mát của mùa xuân. Bà Skinnơ mỉm cười khi nhìn thấy trong mảnh vườn đứa cháu gái bé xíu của mình cầm cào cỏ ra vẻ bận rộn quanh bồn hoa dành riêng cho nó. Giâuen là đứa bé xanh xao, không để nó sống ở vùng nhiệt đới được. Với lại nó có vẻ lớn trước tuổi, không bao giờ chạy nhảy, nô đùa, chỉ thích tưới luống hoa hay lặng lẽ chơi chơi mấy trò chơi tự nghĩ ra mà thôi. Bà Skinnơ sửa vạt áo trước ngực, cầm lấy găng tay và bước xuống dưới.

Ketli ngồi bên bàn viết cạnh cửa sổ, đang bận kiểm tra mấy bản danh sách gì đó. Cô là thư ký danh dự của câu lạc bộ những người ưa thích chơi gonphơ[3] nên phải bỏ nhiều công sức mỗi khi có cuộc thi. Cô cũng đã chuẩn bị xong xuôi.

- Mẹ thấy là con vẫn diện áo pulơvơ đấy nhỉ - Bà Skinnơ nhận xét.

Trong bữa ăn sáng họ đã bàn xem Ketli nên diện áo pulơvơ hay là áo choàng bờlu bằng satơ màu đen. Áo Pulơvơ nửa trắng nửa đen Ketli diện rất hợp, chẳng biết có mặc được trong lúc đang để tang hay không. Nhưng Milixơnt ủng hộ việc diện áo pulơvơ.

- Chúng ta chẳng cần thiết phải làm ra vẻ như vừa đi dự tang về - cô bảo – Herôn đã mất được tám tháng rồi còn gì.

Bà Skinnơ có phần bất ngờ trước sự nhẫn tâm đó. Milixơnt trở nên lạ lùng khó hiểu sau khi từ Borneo về.

- Chả nhẽ con định gỡ băng tang trước thời hạn à? – Bà hỏi cô con gái.

Milixơnt tránh trả lời thẳng.

- Bây giờ người ta chẳng để tang như trước kia nữa đâu – Cô bảo vậy và im lặng một lúc. Khi cô nói tiếp, bà Skinnơ cảm thấy trong giọng con gái có những âm thanh không bình thường. Chắc là Ketli cũng thấy vậy vì cô ngạc nhiên nhìn chị - Con tin rằng Herôn chẳng muốn con để tang anh ấy suốt đời đâu.

- Con trang điểm trước một chút vì muốn nói chuyện với chị Milixơnt – Ketli đáp lại lời nhận xét của mẹ.

- Có chuyện gì thế?

Ketli lặng im, nhưng đặt bản danh sách của mình sang một bên, cau mày đọc lại bức thư của một bà than phiền việc ban tổ chức đã giảm từ 21 xuống 18 số điểm lợi thế của bà ta một cách không công bằng. Làm thư ký danh dự của câu lạc bộ những người ưa thích gonphơ quả là một trọng trách nặng nề và đòi hỏi rất lịch thiệp. Bà Skinnơ bắt đầu kéo căng đôi găng tay của mình. Những bức màn ngoài cửa sổ che bớt ánh mặt trời làm dịu đi cơn nóng bức. Bà Skinnơ nhìn lên con chim tê ngưu bằng gỗ to lớn được trang điểm sặc sỡ mà Herôn nhờ bà giữ hộ. Bà luôn có cảm giác hơi vô lý khi để một vật như vậy trong phòng nhưng Herôn quý con chim lắm. Con chim chắc có liên quan tới một điều gì được tôn thờ vì linh mục Hâyút cũng rất quan tâm đến nó. Ở bức tường sau chiếc đi văng có trên bộ vũ khí Mãlai (bà Skinnơ chẳng nhớ tên gọi nữa) và khắp nơi trang điểm những vật bằng bạc, đồng mà Herôn mang về vào những lúc khác nhau. Bà luôn có cảm tình với Herôn và ý nghĩ về người con rể làm cho bà vô tình nhìn sang chiếc đàn pianô, nơi có đặt bức chân dung của anh ta cùng với ảnh hai cô con gái, cháu chắt, các chị em và họ hàng.

- Ketli! Bức chân dung Herôn đâu rồi? – Bà hỏi. Ketli quay lại. Bức chân dung không có.

- Chắc ai đó đã cất – Ketli ngạc nhiên bảo.

Cô đứng dậy và bước tới gần đàn pianô. Những tấm ảnh được xếp lại để khỏi phát hiện ra chỗ trống.

Hay là Milixơnt muốn đặt vào trong phòng mình – Bà Skinnơ đoán.

- Nếu thế thì con đã nhận thấy. Với lại Milixơnt còn nhiều ảnh của Herôn lắm. Chị ấy cất trong ngăn tủ mà.

Bà Skinnơ luôn cảm thấy lạ lùng khi trong phòng của con gái không hề treo một tấm ảnh nào của Herôn. Bà đã có lần thử nói về chuyện đó, nhưng Milixơnt lảng tránh đi. Milixơnt trở nên ít nói sau khi từ Borneo về, và mọi cố gắng của bà Skinnơ muốn thể hiện lòng thông cảm của người mẹ đều bị con gái đáp lại bằng sự im lặng. Cô không muốn nhắc đến sự mất mát của mình. Mỗi người chịu đựng đau khổ theo cách khác nhau. Chắc ông Skinnơ xử sự đúng khi khuyên nên để cho con gái được yên. Ý nghĩ về người chồng làm cho bà Skinnơ quay trở lại cuộc thăm viếng sắp tới.

- Bố hỏi mẹ có nên đội mũ trụ hay không – bà nhớ ra – Mẹ bảo là mang theo chẳng sao.

Buổi tiệc trà ở nhà ông linh mục là một sự kiện long trọng. Trong những trường hợp như vậy, bánh kem, dâu tây, vani thường đặt ở nhà hàng Body, nhưng món cà phê đen trộn kem thì ông Hâyút luôn chuẩn bị ở nhà. Cả giới thượng lưu trong vùng được mời tới. Lý do của buổi tiệc trà là giáo chủ Hồng Kông, người bạn học cũ ghé đến thăm ông linh mục. Khách khứa được biết trước là giáo chủ sẽ kể về những hoạt động truyền giáo ở Trung Quốc. Bà Skinnơ, người có con gái sống tám năm ở phương bắc và con rể là công sứ một vùng tại Borneo, đã rất quan tâm đến những chuyện như vậy. Tất nhiên trong lĩnh vực này, bà hiểu biết nhiều hơn những người chẳng có quan hệ gì đến xứ thuộc địa và những công việc đó.

“Người nào chỉ biết mỗi nước Anh thì làm sao mà hiểu hết nước Anh được?” – ông Skinnơ thích trích dẫn ra như vậy.

Ông Skinnơ – người đúng lúc ấy bước vào phòng – là nhà luật sư cũng như bố ông, và có văn phòng ở Lincôn – In – Phinđơtx. Hằng ngày ông đánh xe đến Lơnđơn từ sáng, chỉ đến chiều mới quay trở về nhà. Ông có thể cùng vợ và con gái đến thăm nhà linh mục Hâyút vì buổi tiệc trà được tổ chức vào ngày thứ bảy. Trong chiếc áo lễ phục và quần sọc, ông Skinnơ trông rất đường bệ. Bề ngoài ông không có vẻ ăn diện nhưng trông đàng hoàng tự nhiên. Đó là bộ dạng của một vị luật sư có nhiều kinh nghiệm và trong thực tế ông quả là như vậy. Văn phòng của ông không khi nào chịu nhận những vụ việc có chút nghi vấn, và nếu khách hàng bày tỏ hoàn cảnh có vẻ không chính đáng, ông Skinnơ cau mày lo lắng.

- Đáng tiếc là chỗ chúng tôi không tiến hành những công việc như vậy được – Ông bảo – Tốt nhất ngài thử ghé vào một chỗ khác nhé.

Ông kéo cuốn sổ ghi chép lại, ghi lên tờ giấy đầu họ tên và địa chỉ. Sau đó ông tách tờ giấy ra và trao cho khách hàng.

- Tôi khuyên ngài nên hỏi đến những vị gientơmen[4] này. Nếu ngài bảo là từ chỗ tôi đến thì họ sẽ giúp ngài mọi điều có thể.

Ông Skinnơ có khuôn mặt cạo sạch sẽ và trán hói rất cao. Miệng mím chặt nghiêm nghị, đôi môi tái nhợt trái ngược với đôi mắt xanh biếc có vẻ rụt rè. Hai má xanh xao và nhăn lại.

- Em thấy là anh đã diện quần mới rồi – Bà Skinnơ nói.

- Theo anh, hôm nay là đúng dịp đấy – Ông chồng đáp lại – Anh không biết có nên đính thêm cành hoa vào phù hiệu nữa hay không?

- Không cần bố ơi – Ketli bảo – Như thế chẳng hợp lắm đâu.

- Rồi con xem, sẽ có nhiều người đính thêm cành hoa nữa là chắc – Bà Skinnơ phản đối.

- Chẳng lẽ ở đấy toàn công chức à – Ketli không chịu. Ba mẹ cũng biết là ông Hâyút mời đủ loại khách. Với lại chúng ta đang để tang cơ mà.

- Mà này, không biết sau bài nói chuyện của giáo chủ có tổ chức quyên góp không nhỉ? – Ông Skinnơ lo lắng.

- Em nghĩ là không đâu – Bà Skinnơ an ủi.

- Đấy là một trò rất ngu xuẩn – Ketli hưởng ứng.

- Cần phải mang theo tiền để phòng sẵn – Ông Skinnơ bảo – Nếu cần thiết thì tôi sẽ nộp phần cho cả nhà. Nhưng không biết mười siling có đủ không hay vẫn cần đến cả pao[5].

- Bố ơi, nếu đã cho thì cho ít nhất một pao – Ketli bảo.

- Thôi được, đến đấy sẽ liệu sau. Tôi chẳng muốn cho ít hơn những người khác, nhưng cho hơn mức cần thiết cũng chẳng để làm gì.

Ketli bỏ tất cả mớ giấy tờ của mình vào tủ rồi đứng dậy. Cô nhìn đồng hồ.

- Thế Milixơnt chưa chuẩn bị à? – bà Skin nơ hỏi.

- Chúng ta còn nhiều thời gian. Người ta mời lúc 5 giờ, chẳng cần phải đến sớm trước 5 rưỡi làm gì. Tôi đã bảo Đavit đánh xe đến lúc năm giờ mười lăm.

Thường thì Ketli lái ô tô, nhưng trong những trường hợp long trọng hiếm có, ông làm vườn thay bộ trang phục và biến thành người lái xe. Người ngoài trông vào sẽ hay hơn, với lại Ketli không có ý định ngồi sau tay lái khi diện áo pulơvơ mới. Nhìn mẹ đang cố sức xỏ đôi găng tay mới vào các ngón tay, cô chợt nhớ rằng mình còn chưa đeo găng tay. Cô ngửi xem đôi găng còn mùi xăng sau khi giặt hay không. Cũng có mùi nhưng chỉ thoang thoảng nên cô cho rằng chẳng ai nhận biết được.

Cuối cùng cánh cửa bật mở và Milixơnt bước vào trong bộ trang phục với dải băng tang dài của người vợ góa. Bà Skinnơ không thể nào quen được với bộ quần áo đó, mặc dù biết rằng cần phải mặc nó suốt một năm. Tiếc là Milixơnt mặc không hợp, khuôn mặt trông u ám. Bà đã tự đội thử chiếc mũ của Milixơnt trông rất hay. Thượng đế chắc để cho ông chồng Anphơret thân yêu sống lâu hơn bà, nhưng nếu xảy ra điều ngược lại thì bà chắc sẽ không bỏ tang phục đến suốt đời, giống như nữ hoàng Victoria vậy. Tất nhiên Milixơnt lại là chuyện khác, cô đang còn trẻ, mới có ba mươi sáu tuổi. Ở cái lứa tuổi đó mà góa bụa thì chẳng sung sướng nỗi gì. Mà cô cũng khó lấy chồng. Ketli chắc cũng không lấy được chồng nữa, cô đã ba mươi lăm rồi còn gì. Khi Milixơnt và Herôn ở đây lần cuối, bà có ý muốn cho Ketli đi chơi theo họ. Herôn hình như chẳng ý kiến gì nhưng Milixơnt thì phản đối thẳng. Như thế để làm gì? Dù sao thì ở đó có thể còn gặp may mắn hơn. Không phải ông bà muốn để Ketli đi cho rảnh, nhưng ở đây đàn ông chưa vợ quen biết chẳng tìm thấy một ai. Milixơnt lấy lí do vì khí hậu. Quả thật da mặt cô cũng hoàn toàn xấu đi. Bây giờ không ai tin rằng Milixơnt xinh xắn hơn cô em gái được. Ketli ngày càng gầy, một số người cho rằng như thế là rất khó coi rồi. Nhưng bây giờ cô cắt bớt tóc, đôi má ửng hồng lên vì chơi gonphơ trong mọi thời tiết, bà Skinnơ thấy con gái xinh hơn. Còn Milixơnt tội nghiệp thì ngược lại, thân hình chẳng thấy đâu nữa. Cô vốn không cao lắm, khi béo ra thì không còn ra thể thống gì. Mà cô béo ra một cách đáng sợ, chắc là khi hậu vùng nhiệt đới khiến cho cử động khó khăn đã gây nên điều đó. Da của Milixơnt xanh xao và không mịn. Đôi mắt xanh biếc tuyệt vời của cô trước kia dường như đã đổi màu hẳn.

“Phải có gì đó phủ lên cổ nó mới được – Bà Skinnơ nghĩ thầm – chẳng bao lâu nữa sẽ thấy ngấn mỡ ở đó mất”

Bà thử bàn chuyện đó với chồng. Ông phản đối vì dù sao Milixơnt cũng chẳng còn nhỏ dại gì nữa. Tất nhiên là như vậy, nhưng bà vẫn không muốn từ bỏ ý định của mình. Bà quyết định sẽ nói thẳng với con gái, nhưng vì cô đang đau buồn nên đành phải đợi đến hết thời kỳ để tang. Nói chung bà vui mừng vì xếp được câu chuyện đáng ngại này lại. Milixơnt trên thực tế đang thay đổi hẳn. Có gì đó u ám trên khuôn mặt của cô. Khiến cho bà mẹ cũng không kìm mình được mỗi khi có mặt con gái. Những lúc ấy bà thường nói ra bất kỳ điều gì có thể nghĩ ra trong đầu còn Milixơnt giữ vẻ im lặng cau có mỗi khi nghe hỏi (chỉ để khỏi phải đáp lại) mà chẳng biết cô có lắng nghe hay không. Đôi lúc bà Skinnơ rất bực bội và để giữ mình khỏi trách móc con gái, bà phải tự an ủi rằng Hêrôn mới chết cách đây có tám tháng.

Tia sáng từ cửa sổ dọi vào khuôn mặt sưng lên của người góa phụ đang đứng giữa phòng. Ketli dựa lưng vào cửa sổ ngắm nhìn khuôn mặt đó một lúc.

- Chị Milixơnt này, em có chuyện muốn nói với chị - Cô bắt đầu – sáng nay em có chơi gonphơ với Gleditx Hâyut.

- Em có thắng không? – Milixơnt hỏi.

Gleditx Hâyut là cô con gái chưa chồng độc nhất của ông linh mục.

- Cô ấy nói với em một chuyện có liên quan đến chị. Em cho rằng chị phải biết điều đó.

Milixơnt đưa mắt nhìn ra cửa sổ, nơi đứa con gái của cô đang tưới hoa.

- Mẹ bảo Enni cho Giâuen uống trà trong nhà bếp đấy à? – Cô hỏi.

- Ừm, con bé sẽ uống trà cùng với đám đầy tớ.

Ketli nhìn chị gái với vẻ không thân thiện.

- Giáo chủ trên đường về nước có ghé lại Xinhgapo mấy ngày – Cô tiếp tục - Ông ta rất thích du lịch. Ông cũng ở Borneo và biết nhiều người quen của chị.

- Chắc ông ta thú vị khi được gặp con đấy – Bà Skinnơ bảo – Có thể ông ấy biết cả Herôn tội nghiệp cũng nên.

- Vâng, ông ta có gặp anh ấy và còn nhớ lắm. Ông bảo là rất bất ngờ khi nghe tin anh ấy chết.

Milixơnt ngồi xuống và kéo đôi găng tay đen của mình ra.

Bà Skinnơ có cảm giác lạ lùng rằng con gái không hề để ý đến những lời nói của Ketli.

- Milixơnt này – Bà hỏi – không biết bức chân dung của Herôn biến đi đâu. Con không lấy đi à?

- Có, con đã cất đi rồi.

- Có lẽ con sẽ cảm thấy dễ chịu hơn nếu luôn thấy chồng trước mặt chứ?

Lần này Milixơnt lại im lặng. Đó là một cách khẳng định đã thành thói quen.

Ketli khẽ quay đầu lại nhìn thẳng vào mặt chị.

- Milixơnt, tại sao chị lại bảo Herôn chết vì bệnh sốt rét?

Người góa phụ không nhúc nhích và chớp mắt, nhưng khuôn mặt vàng vọt của cô thấy đỏ ửng lên. Cô vẫn im lặng như cũ.

- Câu hỏi của con nghĩa là thế nào Ketli? – Ông Skinnơ băn khoăn hỏi.

- Giáo chủ cho rằng Herôn đã tự tử.

Bà Skinnơ kêu lên sợ hãi nhưng ông chồng đã ra hiệu cho vợ đừng can thiệp vào.

- Chuyện đó có thật không, Milixơnt?

- Phải.

- Sao con không nói cho cả nhà biết?

Milixơnt trì hoãn câu trả lời. Cô xoay trên mấy ngón tay bức tượng bằng đồng cầm ở bàn lên. Đó cũng là quà tặng của Herôn.

- Con nghĩ rằng sẽ tốt hơn cho Giâuen nếu mọi người xem bố nó chết vì bệnh sốt rét. Con không muốn để cho nó biết điều đó.

- Chị đặt cả nhà vào một tình trạng rất khó xử - Ketli nhăn trán lại nhận xét – Gleditx trách em tại sao lại nói dối cô ấy. Em phải hết sức thuyết phục là bản thân cũng chẳng biết tí gì cả. Cô ấy bảo linh mục rất phật lòng. Ông ta cho rằng sau từng ấy năm quen biết, thậm chí còn thân thiết nữa, nhà mình nên tin tưởng ông ta hơn, hơn nữa ông ta đã làm lễ cưới cho chị với Herôn nữa cơ mà. Nếu giả sử chúng ta không muốn kể cho ông ta biết sự thật thì cũng chẳng nên bịa chuyện làm gì.

- Cần phải nói rằng bố hoàn toàn đồng ý với ông ta – Ông Skinnơ tuyên bố bằng một giọng băng giá.

- Hy vọng rằng câu chuyện không làm em chơi thua cuộc chứ - Milixơnt hỏi.

- Con đùa thật chẳng đúng chỗ tí nào cả - Ông Skinnơ kêu lên.

Ông đứng dậy bước dọc theo phòng và đứng trước lò sưởi nguội lạnh, vô tình vén vạt sáo sau của chiếc áo lễ phục lên.

- Điều đó chỉ liên quan đến con – Milixơnt bảo – Tại sao con không có quyền che giấu nó nếu coi rằng như thế sẽ tốt hơn?

- Hình như đối với con, mẹ cũng trở nên xa lạ rồi nên con chẳng muốn thổ lộ điều gì với mẹ nữa chăng? – Bà Skinnơ nhận xét.

Milixơnt chỉ nhún vai.

- Chẳng có gì khó khăn cũng đoán được là chuyện đó sớm muộn gì cũng phải lộ ra thôi – Kétli nói thêm.

- Mà do đâu? Làm sao mà con lại biết được khi hai ông cố đạo lâu ngày gặp nhau lại không nghĩ ra chuyện gì khác mà nói.

- Khi giáo chủ nhắc đến chuyện mình ghé qua Borneo, nhà ông Hâyut liền hỏi rằng ông có quen biết chị và Herôn không là hoàn toàn có lý chứ!

- Đấy không phải là chuyện đáng nói – Ông Skinnơ bảo – Trong mọi trường hợp đáng lẽ con phải nói cho cả nhà biết hết sự thật thì chúng ta mới quyết định tốt nhất phải làm gì. Là một luật sư, ba có thể nói với con rằng, mưu toan che giấu thực tế sự việc thì cuối cùng chỉ có hại mà thôi.

- Herôn đáng thương – Bà Skinnơ thốt lên và nước mắt tuôn ra trên gò má – Thật là khủng khiếp. Nó luôn là đứa con rể chu đáo, vậy mà... Cái gì dẫn nó đến hành động đáng sợ như vậy?

- Khí hậu.

- Ba muốn nghe con kể lại mọi chuyện đã xảy ra như thế nào, Milixơnt – Ông bố bảo.

- Để cho Ketli tự nói.

Ketli ngập ngừng. Điều cô sắp phải nói trên thực tế quá khủng khiếp. Có cảm tưởng nó kỳ quái bởi vì lẽ nào lại xảy ra trong một gia đình như của họ được.

- Giáo chủ nói rằng anh ấy tự cứa cổ.

Bà Skinnơ hét lên và tự nhiên đâm bổ đến đứa con gái bị số phận đầy đọa. Bà khao khát muốn được ôm chặt lấy Milixơnt.

- Đứa con bé bỏng tội nghiệp của tôi – Bà thốt lên.

Nhưng cô đã tránh ra.

- Không, không, mẹ ơi con xin mẹ. Con không chịu được khi bị ai đó đụng đến người đâu.

- Milixơnt, con quá lắm – Ông Skinnơ cau mặt lại bảo. Rõ ràng ông không đồng tình với hành động của cô con gái.

Bà Skinnơ thở dài, đau khổ lắc đầu, cẩn thận lấy khăn mùi xoa che mắt, quay lại chỗ mình. Ketli đưa tay mân mê vòng dây chuyền vàng dài đeo trước cổ.

- Thật là bực khi con được nghe sự thật về cái chết của anh rể mình do bạn gái mình kể lại. Chúng ta ở vào một hoàn cảnh rất tồi tệ. Giáo chủ rất mong gặp chị đấy, Milixơnt ạ. Ông ấy muốn được chia buồn với chị - Cô ngừng lại một lúc nhưng Milixơnt vẫn im lặng – Giáo chủ bảo rằng Milixơnt cùng Giâuen đi đâu đó, lúc trở về thì thấy Herôn tôi nghiệp nằm chết cứng trên giường.

- Phải trải qua một cơn chấn động như thế! – Bà Skinnơ thốt lên.

Bà lại khóc nức nở, nhưng Ketli nhẹ nhàng đặt bàn tay lên vai mẹ:

- Đừng khóc nữa mẹ ạ - Cô an ủi – Mắt mẹ sẽ đỏ lên, trông không hay tí nào.

Trong im lặng, bà Skinnơ lau nước mắt và cố gắng cầm lòng được. Chẳng hiểu sao bà không thể rời bỏ ý nghĩ là trên đầu mình đang đội chiếc mũ cắm lông chim diệc do Herôn tặng.

- Con chưa kể hết cho cả nhà nghe đâu – Ketli lại bắt đầu.

Milixơnt chậm rãi ngẩng đầu lên và nhìn cô em gái với ánh mắt cứng rắn nhưng cũng pha chút chăng thẳng. Những người chờ đợi nghe mà sợ bỏ qua một điều gì thường có bộ dạng như vậy.

- Em chẳng hề muốn đem lại cho chị sự đau khổ - Ketli tiếp tục – nhưng em còn chưa kể một điều mà theo em chắc chị cũng phải biết. Giáo chủ nói là Herôn nghiện rượu.

- Trời ơi đang sợ thật! – Bà Skinnơ kêu lên – Làm sao mà có thể nói đến những chuyện như vậy được! Gleditx Hâyut đã kể cho con như thế ư? Con bảo cô ấy thế nào?

- Con bảo là không đúng.

- Giấu giếm có hại thế đấy – Ông Skinnơ giận dữ nhận xét – Luôn luôn như vậy mà. Con càng muốn giấu thì càng làm cho thiên hạ bàn tán đủ chuyện còn tồi tệ hơn cả sự thật.

- Ở Xinhgapo, giáo chủ được kể lại là hình như Herôn tự hại mình trong cơn say rượu. Chị Milixơnt, em cho rằng chị phải có nghĩa vụ bác bỏ chuyện đó vì tất cả chúng ta. - Thật đáng sợ khi nhắc đến người đã mất với những chuyện như vậy – Bà Skinnơ bảo – Mà điều đó có thể ảnh hưởng xấu đến Giâuen khi nó lớn lên.

- Milixơnt, do đâu mà có những chuyện như vậy? – Ông bố hỏi – Herôn luôn biết kiềm chế cơ mà.

- Chỉ có ở đây thôi – Người góa phụ trả lời.

- Chả lẽ cậu ta uống rượu thật à?

- Như ngựa vậy! Câu trả lời bất ngờ và gay gắt làm cho cả nhà sửng sốt.

- Milixơnt, sao con có thể nói về người chồng đã mất như thế được? – Bà Skinnơ kêu lên, vung bàn tay đeo găng – Mẹ không thể hiểu nổi con. Nói chung là không thể hiểu kể từ khi con trở về nhà này. Mẹ chẳng tin là đứa con gái ruột thịt của mình lại có thể đối xử với cái chết của chồng như vậy được.

- Bây giờ khoan đừng nói đến chuyện đó, bà ạ - Ông Skinnơ khuyên – Ta sẽ nói sau.

Ông đến bên cửa sổ và nhìn khoảng vườn hoa được mặt trời chiếu sáng rồi quay lại chỗ cũ. Ông rút trong túi ra cái kính không gọng, mặc dù không có ý định đeo nó lên vẫn dùng khăn lau mặt kính cẩn thận. Milixơnt nhìn bố và trong ánh mắt của cô hoàn toàn có ý mỉa mai, không chút giấu diếm. Ông Skinnơ nổi giận. Cả một tuần lễ làm việc vất vả đã trôi qua, cho đến thứ hai ông cảm thấy được tự do. Mặc dù ông bảo vợ rằng buổi tiệc trà ở chỗ linh mục là một trò buồn tẻ, cứ ngồi trong vườn mình thanh thản mà uống trà còn tốt hơn nhiều, nhưng thật ra ông cũng nóng lòng mong đợi cuộc viếng thăm sắp tới. Những hoạt động truyền đạo ở Trung Quốc thì ông chẳng quan tâm lắm, nhưng làm quen được với giáo chủ thì quả là lý thú. Vậy mà bây giờ thế đấy! Dính dáng đến câu chuyện này hệt như một trò đùa nhạo báng vậy. Bỗng nhiên lại biết rằng chàng rể là một gã sâu rượu và tự tử. Milixơnt lơ đãng sửa lại cổ tay áo màu trắng của mình. Thái độ lạnh lùng của cô làm ông bực bội thêm. Nhưng đáng lẽ nói với cô điều đó, ông chỉ quay lại cô em gái:

- Sao con đứng thế Ketli? Hình như trong phòng vẫn còn ghế đấy.

Ketli không nói một lời, kéo ghế và ngồi xuống. Ông Skinnơ bước đến gần và dừng lại trước mặt Milixơnt.

- Tất nhiên bố hiểu vì sao con bảo cả nhà rằng Herôn chết vì bệnh sốt rét. Đó là sai lầm sớm muộn gì những chuyện như thế cũng phải lộ ra. Bố không biết những tin người ta báo cho giáo chủ có đúng thật không, nhưng khuyên con hãy kể hết cho cả nhà biết, càng cụ thể càng tốt, khi đó cả nhà sẽ tính chuyện. Khi mà linh mục và Gleditx biết chuyện đó rồi thì chẳng giữ kín được nữa đâu. Ở cái vùng như thế này, chuyện ngồi lê mách lẻo là thường tình. Nhưng chúng ta phải biết hết sự thật thì mới lo liệu được.

Bà Skinnơ và Ketli trong đầu thầm đồng ý với cách đặt vấn đề của ông. Họ đợi xem Milixơnt trả lời ra sao. Khuôn mặt cô không có phản ứng gì, vẫn sưng lên xanh xao như thường lệ.

- Chắc cả nhà sẽ chẳng dễ chịu khi nghe con kể sự thật – Cô bảo.

- Trong mọi trường hợp chị có thể tin tưởng ở sự hiểu biết và đồng cảm của gia đình – Ketli long trọng tuyên bố.

Milixơnt liếc nhìn em gái với điệu nhếch mép lướt nhanh qua cặp môi mím chặt của cô. Sau đó cô chậm rãi đưa mắt nhìn cả ba người. Bà Skinnơ có cảm giác như con gái đang nhìn ba hình mẫu trưng bày quần áo trước mặt mình vậy. Cô dường như đang ở trong một thế giới khác hẳn họ.

- Như cả nhà đã biết, con lấy Herôn không phải vì tình yêu – Cô nói, vẻ đăm chiêu.

Bà Skinnơ đã định phản đối nhưng kìm mình lại vì thấy chồng ra hiệu, tuy không rõ lắm nhưng cũng đủ để bà nhận ra. Không phải vô lý mà họ đã bao năm chung sống cùng nhau. Milixơnt tiếp tục. Cô nói bằng giọng đều đều, không vội vã, chẳng hề thay đổi âm điệu.

- Khi đó con hai mươi tám tuổi rồi mà chưa có ai. Anh ấy thật ra bốn mươi tư tuổi rồi, con nghĩ đã nhiều tuổi, nhưng anh ấy có địa vị khá tốt, đúng không? Chắc gì con có thể kiếm được đám khác khá hơn,

Bà Skinnơ lại ứa nước mắt. Nhưng đúng lúc ấy bà nhớ đến buổi tiệc trà.

- Ừ, bây giờ thì mẹ hiểu vì sao con lại cất tấm ảnh đi – Bà nói bằng một giọng buồn nản.

- Mẹ ơi, con van mẹ! – Ketli thốt lên.

Tấm ảnh chụp lúc Herôn mới là chồng chưa cưới của Milixơnt trông rất đạt. Bà Skinnơ luôn coi Herôn là người đàn ông lí tưởng. Anh ta cao lớn, thân hình nặng nề, hơi phì nộn nhưng vẫn chững chạc, nói chung nhìn bề ngoài có vẻ đường bệ. Tuy rằng anh ta đã hói đầu, nhưng thời này đàn ông thường bị hói sớm, ngoài ra anh ta còn giải thích là việc đội mũ cát che cái nắng nhiệt đới rất hại tóc. Anh ta để một hàng râu con kiến đen bóng, khuôn mặt gần như nâu sạm vì cháy nắng. Đôi mắt anh ta là đẹp nhất, màu nâu sẫm, mở to như mắt Giâuen. Đó là một người có thể chuyện trò thú vị được. Ketli bảo anh ta hay khoa trương nhưng bà Skinnơ không đồng ý với cô vì cho rằng đàn ông phải biết tự tin. Khi bà nhận thấy (mà bà nhận thấy rất nhanh) rằng Herôn thích Milixơnt thù bà đứng hẳn về phía anh ta. Anh ta luôn săn đón bà, còn bà Skinnơ thì giả bộ quan tâm đến những chuyện kể về vùng đất anh ta cai quản hay các chiến công săn bắt ở đó. Ketli bảo anh ta hơi hợm hĩnh nhưng bà Skinnơ lại thuộc loại người sẵn sàng tin tưởng mọi điều mà đàn ông khoe khoang về mình. Milixơnt chẳng bao lâu đã hiểu được ngọn gió đang thổi về đâu, và mặc dù cô không hề nói gì với mẹ, bà cũng biết rằng nếu Herôn ngỏ lời cầu hôn thì sẽ không bị từ chối.

Herôn đến thăm những người đã ở Borneo ba chục năm và họ rất khen ngợi vùng thuộc địa ấy. Hình như những người đàn bà lấy chồng vẫn đàng hoàng sinh sống tại vùng đó được, còn trẻ con khi bảy tuổi có thể gửi về nước, nhưng bà Skinnơ chẳng cần phải nhìn đến mức xa xôi như vậy. Bà mời Herôn đến dùng bữa trưa,bảo khéo anh ta là họ luôn ở nhà uống trà một mình. Hình như chính anh ta cũng chẳng bận bịu công việc lắm, cho nên khi khách nói đến chuyện đã ở chơi nhà bạn bè quá nhiều, gia đình Skinnơ liền mừng rỡ mời anh ta đến chơi vào tuần sau. Hết thời hạn đó, Herôn đã là chồng chưa cưới của Milixơnt. Đám cưới được tiến hành rất long trọng. Đôi vợ chồng trể hưởng tuần trăng mặt ở Venhexia và sau đó đi về phương đông. Cứ mỗi khi tàu thủy ghé vào một cảng nào đó, Milixơnt lại viết một bức thư về, có vẻ rất hạnh phúc.

- Con được đón tiếp ở Quala – Xolóc rất lịch thiệp – Cô kể lại – Đó là thành phố chính của tỉnh Xemhulu. Khi dừng lại ở dinh tổng đốc, mọi người tranh nhau đón chúng con đến dùng bữa trưa. Một vài lần con nghe đám đàn ông mời Herôn uống rượu nhưng anh ta từ chối, bảo rằng đã có gia đình, và bắt đầu một cuộc sống mới. Con không hiểu sao tất cả đều cười ầm lên. Bà Gơrây, vợ tổng đốc cứ luôn bảo là mọi người rất sung sướng khi Herôn cưới vợ. Một mình không có gia đình ở những nơi xa xôi hẻo lánh thật là buồn chán. Khi rời khỏi Quala – Xolóc, bà Gơrây chia tay con với một thái độ rất cảm động. Bà như trông cậy vào con trong việc chăm sóc Herôn.

Cả ba người im lặng nghe. Ketli không rời mắt khỏi khuôn mặt xanh xao lãnh đạm của chị cô. Ông Skinnơ nhìn vào bức tường trước mặt, nơi có treo crit, parang cùng các loại vũ khí Mã lai khác và nơi đặt chiếc đi văng mà bà vợ đang ngồi.

- Chỉ khi đến Quala – Xolóc sau đó một năm rưỡi con mới biết rõ nguyên nhân của cách cư xử kỳ lạ như vậy – Milixơnt phát ra một tiếng “hừ” đáng sợ trong cổ họng giống hệt tiếng cười khinh miệt – Con biết nhiều thứ mà trước kia không đoán ra. Lần đó Herôn về Anh chỉ để lấy vợ, còn lấy ai thì không quan trọng. Mẹ còn nhớ là chúng ta đã làm đủ trò để giữ anh ta lại không? Đáng ra thì chẳng cần phải phí sức như thế.

- Mẹ không hiểu con đang nói gì, Milixơnt! – Bà Skinnơ kêu lên ra vẻ bị xúc phạm vì không thích nhắc bóng gió đến những mưu kế đã qua – Mẹ thấy ngay là anh ta yêu con cơ mà!

Milixơnt nhún đôi vai nặng nề của mình.

- Anh ta chỉ là một con sâu rượu mà thôi. Cứ mỗi khi đi ngủ lại cầm theo một chai uýtki, đến sáng là cạn sạch. Người ta đã dọa nếu anh ấy không chịu bỏ rượu thì thì sẽ cho nghỉ việc. Cấp trên thương tình cho anh ta nghỉ phép về Anh. Họ muốn anh ấy kiếm được một cô vợ để có người chăm sóc. Herôn cưới con chỉ vì cần một người hầu hạ thôi. Ở Quala – Xolóc, người ta đã cược xem con giữ anh ta khỏi uống rượu được bao lâu.

- Nhưng anh ta yêu con cơ mà! – Bà Skinnơ cắt ngang – Con còn chưa biết là anh ta đã nói về con như thế nào khi con phải đến Quala – Xolóc để sinh Giâuen đợt đó. Mẹ nhận được của anh ta một bức thư rất tình cảm chỉ nhắc mỗi đến con.

Milixơnt lại nhìn bà mẹ và da mặt và úa trở nên đỏ ửng. Bàn tay đặt trên gối khẽ run rẩy. Cô nhớ lại thời kì đầu của cuộc sống gia đình. Chiếc ca nô đem họ đến cửa sông và họ nghỉ đêm tại một ngôi nhà tranh, nơi Herôn gọi đùa là biệt thự ven biển của mình. Ngày hôm sau chiếc xuồng của dân bản xứ chở họ đi ngược sông. Qua những cuốn sách được đọc, Milixơnt có ý nghĩ dòng sông Borneo chỉ bao phủ bởi màn đêm tối tăm bí ẩn đáng sợ, còn ở đây phía trên đầu là bầu trời trong xanh rực rỡ, vài đụn mây trắng lững lờ trôi, màu xanh của dãy xoài tượng và cọ trải dài xuống vệ nước lung linh ánh mặt trời. Dọc hai bên bờ, cánh rừng nhiệt đới như những bức tường rậm rạp và những dãy núi thẫm màu nhấp nhô nổi lên xa xa trên nền trời. Không khí buổi sáng trong lành và dễ chịu. Có cảm giác vùng đất mến khách màu mỡ đang mở cửa chào đón cô, và cô như đắm mình vào khoảng không bao la phóng đãng này. Họ nhìn những lùm cây bên bờ, quan sát những chú khỉ nhảy nhót. Một lần Herôn còn chỉ cho cô một vật trong giống như thân cây dưới mặt nước và bảo đó là cá sấu. Ở bên sông, người phụ tá của Herôn đội mũ cát, mặc quần thụng và một đoàn chừng mười lăm chàng lính trẻ măng đứng làm hàng rào danh dự đón chào những người mới đến. Herôn giới thiệu người phụ tá với vợ. Anh ta là Ximxơn.

- Ôi, xếp, may mắn thật! – Anh ta thốt lên với Herôn – Tôi rất mừng thấy ngài quay trở lại. Thiếu ngài, không biết xoay xở thế nào được.

Dinh tổng đốc ở trên một ngọn đồi, giữa khu vườn, nơi đủ thứ hoa sặc sỡ mọc lộn xộn. Ngôi nhà hơi hoang tàn, bàn ghế ít nhưng các phòng rất rộng rãi và mát mẻ.

- Làng xóm ở phía bên kia – Herôn bảo cô.

Cô đưa mắt nhìn theo tay chồng và đúng lúc đó từ những rặng dừa vọng tiếng cồng chiêng đều đặn. Tim cô như thắt lại vì sợ hãi. Mặc dù không phải làm gì, suốt ngày cô không có lúc nào buồn chán. Sáng sớm người bồi mang trà đến cho hai vợ chồng và họ nhấm nháp ngoài hiên, hít thở bầu không khí buổi sáng trong lành mát mẻ (chồng mặc áo len dài tay và xaronga, còn cô mặc áo choàng) cho đến khi phải thay quần áo ăn sáng. Tiếp đó Herôn đến văn phòng mình, còn cô học tiếng Mã lai trong vài giờ. Sau bữa ăn sáng thứ hai, chồng đi làm việc tiếp còn cô nằm ngủ. Chiều đến, họ uống tạm chén trà rồi cùng đi dạo hay chơi gonphơ trên khoảng sân dưới đồi mà Herôn cho dọn phẳng lì. Khoảng sáu giờ, trời đã tối và anh chàng Ximxơn xuất hiện cùng họ uống một ly rượu nhỏ. Câu chuyện kéo dài đến hết bữa ăn tối thường rất muộn. Thỉnh thoảng Herôn còn chơi cờ với Ximxơn. Những buổi chiều tràn trề hương vị ngọt ngào làm ngây ngất lòng người. Mấy hàng cây ngoài hiên đầy đom đóm lập lòe biến thành chùm lửa sáng xanh giống như những ngọn đèn hiệu mờ ảo. Còn bầu không khí sực nức mùi hoa thơm và cây cỏ. Sau bữa ăn tối họ đọc những tờ báo phát hành cách đây nửa tháng, từ Lơnđơn chuyển đến, rồi cuối cùng đi ngủ. Milixơnt rất thích làm người phụ nữ có chồng, bà chủ của gia đình. Cô thích cả những người đầy tớ bản xứ lặng lẽ nhưng niềm nở mặc áo choàng xaronga sặc sỡ, đi chân đất bước trong các phòng. Ý nghĩ là vợ của một thống đốc làm cô thấy mình có tầm quan trọng hẳn lên. Herôn làm cô kính trọng vì anh nói thạo tiếng Mã lai, phong cách oai nghiêm và biết cách đối xử với cấp dưới. Cô thấy anh có nhiều trọng trách và đàng hoàng giải quyết mọi công việc ngay trước mắt mình. Anh chàng Ximxơn bảo cô rằng ở đây không ai có thể hiểu thổ dân hơn Herôn. Trong người anh có cả sự cứng rắn lịch thiệp và rộng lượng để có thể đối xử với đám dân chúng vốn sợ hãi, không tin tưởng và hay thù hằn. Milixơnt đã bắt đầu kính nể chồng mình.

Họ sống như thế được gần một năm cho đến khi hai nhà tự nhiên học người Anh muốn đi sâu vào vùng đất này xin ở trọ chỗ họ vài ngày. Lời yêu cầu đó còn kèm theo bức thư của quan toàn quyền, và Herôn muốn đón khách thật long trọng. Có họ đến trong nhà càng thêm vui vẻ. Milixơnt mời Ximxơn đến dự bữa tối (anh ta sống trong đền và chỉ ăn chỗ họ vào ngày chủ nhật mà thôi); còn sau khi ăn xong cánh đàn ông tụ tập lại, Milixơnt bỏ mặc họ và sửa soạn đi ngủ, nhưng tiếng ồn áo trong phòng khách làm cô rất lâu mới chợp mắt được. Không biết khoảng mấy giờ Herôn mới bước vào phòng đánh thức cô. Milixơnt không trả lời lại. Anh ta bỗng có ý định tắm trước khi đi ngủ. Nhà tắm ở ngay phía dưới phòng ngủ nên phải lần bước xuống cầu thang. Chắc dọc đường anh có va vấp vì nghe tiếng ầm ầm kèm theo tiếng chửi rủa. Sau đó anh ta nôn mửa ra. Cô nghe tiếng anh ta dội lên người từng xô nước, một lúc sau quay trở lại theo cầu thang rất cẩn thận rồi chui vào chăn. Milixơnt giả vờ ngủ. Cô thấy khó chịu, biết là Herôn say rượu. Cô tự nhủ thầm đến sáng sẽ nói chuyện này với chồng. Hai nhà nghiên cứu tự nhiên có thể nghĩ gì về chuyện này? Nhưng buổi sáng Herôn có vẻ long trọng oai nghiêm đến nỗi cô không dám nhắc lại chuyện đêm qua. Đúng tám giờ, hai vợ chồng Herôn cùng hai vị khách ngồi dùng bữa sáng. Herôn đưa mắt nhìn mặt bàn.

- Lại cháo kiều mạch – Anh bảo – Milixơnt này, các vị khách của chúng ta muốn có món gì đó đậm miệng hơn bữa sáng thế này. Còn anh chẳng cần gì ngoài một cốc rượu uýtki với nước khoáng.

Hai nhà tự nhiên học bật cười, nhưng trên khuôn mặt có chút ngượng ngùng.

- Chồng bà là người nguy hiểm thật – Một người bảo.

- Tôi nghĩ mình chẳng tỏ ra có lòng hiếu khách nếu hôm đầu tiên các ngài đến thăm mà chúng tôi lại để cho khách ngủ không say sưa – Cũng như mọi lần, Herôn biết cách bày tỏ và tô điểm cho ý định mình muốn nói.

Milixơnt lắng nghe với nụ cười nở rộng trên môi. Cô cảm thấy nhẹ nhõm khi biết rằng hôm qua khách cũng say mềm như chủ. Từ đó cô không rời đám đàn ông ra và họ đành phải trở về phòng mình ngủ sớm. Cô rất mừng khi các nhà tự nhiên học tiếp tục cuộc hành trình bị gián đoạn của họ. Cuộc sống ở dinh thự trở lại bình thường như cũ. Vài tháng sau Herôn phải lên đường đi thanh tra trong vùng. Khi trở về, anh ta bị mắc bệnh sốt rét. Lần đầu tiên Milixơnt được nhìn tận mắt căn bệnh đã nghe kể từ trước và chẳng hề ngạc nhiên khi thấy Herôn không khỏe hẳn được sau cơn sốt. Anh ta dường như không giống mình nữa. Trở về nhà, Herôn chỉ im lặng nhìn cô bằng cặp mắt lạnh lùng hay lảo đảo bước ra giữa hiên nhưng vẫn giữ được phong thái trang nghiêm và tuôn ra những bài diễn văn dài dòng về tình hình chính trị nước Anh. Rồi bỗng nhiên mất hứng, anh ta nheo cặp mắt láu lỉnh mà trước kia cô chưa từng thấy và bảo:

- Cái bệnh sốt rét chó má làm hại con người thật. Chà, cô vợ của anh, em dã biết là người xây dựng một đế quốc phải trải qua khó khăn thế nào rồi đấy.

Cô bắt đầu nhận thấy rằng trên khuôn mặt Ximxơn có sự lo sợ. Một vài lần khi chỉ có hai người, anh ta muốn nói với cô điều đó nhưng đến phút chót tính rụt rè bẩm sinh đã cản lại. Cuối cùng cô không giữ được nữa. Một lần khi Herôn ở lại văn phòng lâu hơn mọi ngày, cô tự bắt đầu câu chuyện.

- Hình như ông có điều gì muốn nói với tôi phải không, ông Ximxơn? – cô không chút rào đón.

Anh ta hơi đỏ mặt và luống cuống.

- Không, không. Tại sao bà lại nghĩ vậy?

Ximxơn là một anh chàng hai mươi tư tuổi, gầy gò, vụng về, có mái tóc xoăn dày mịn luôn được trau chuốt cẩn thận. Hai cánh tay anh ta rộp lên đầy vết muỗi đốt. Milixơnt nhìn thẳng vào mắt anh ta.

- Nếu chuyện đó liên quan đến Herôn thì ông cũng hiểu là tốt nhất nên nói thật cho tôi biết chứ.

Anh ta đỏ bừng mặt lên và cựa quậy trên chiếc ghế mây. Cô tiếp tục nài nỉ.

- Tôi sợ bà coi việc này là hèn hạ - Cuối cùng anh ta cũng mở miệng – Mà thực tế là như vậy khi dám nói xấu sau lưng người chỉ huy. Sốt rét là thứ bệnh ma quái. Khi mà nó dính đến người mình thì sau đó chỉ có dở sống dở chết thôi.

Anh ta lại luống cuống. Khóe môi sệ xuống như sắp khóc. Milixơnt có cảm giác là anh ta có cái gì đó rất trẻ con.

- Tôi sẽ câm lặng như hến – Cô hứa và che đậy sự lo lắng của mình bằng một nụ cười – Ông cứ nói đi, đừng sợ.

- Đáng lẽ ra chồng bà không nên cất uýtki trong văn phòng, có chai rượu cạnh tay là lại ngập đầu vào nó.

Giọng của Ximxơn bị khản lại vì xúc động. Milixơnt bỗng cảm thấy lạnh người. Cô cố gắng kìm giữ mình, sợ làm anh chàng hoảng sợ thì sẽ không dò hỏi được gì nữa. Mà anh ta cũng chẳng muốn nói thêm. Cô phải yêu cầu, van vỉ, kêu gọi trách nhiệm và cuối cùng òa lên khóc. Chỉ đến lúc đó, anh ta mới cho biết rằng đã hai tuần nay Herôn lúc nào cũng say mềm. Dân bản xứ bàn tán về chuyện đó, nói rằng mọi việc sẽ quay trở lại nếp cũ, như trước khi tổng đốc cưới vợ. Chắc là thời đó anh ta uống nhiều quá mức cần thiết, nhưng Milixơnt không thể dò hỏi để biết cụ thể thêm được.

- Ông nghĩ rằng bây giờ chồng tôi còn đang uống rượu ở đó à – Cô hỏi.

- Tôi không biết.

Milixơnt bỗng thấy nóng bừng lên vì giận giữ và xấu hổ. Văn phòng ở luôn trong khu vực được gọi là đồn lính vì nơi đó cất giữ vũ khí, đạn dược. Khu này đối diện với dinh tổng đốc và cũng nằm giữa khu vườn cây. Mặt trời đã lên cao nhưng Milxơnt không đội mũ nón gì, đứng dậy và chạy về hướng đó. Cô gặp Herôn trong phòng làm việc phía sau gian nhà rộng thường dùng làm nơi xét xử. Trước mặt chồng là một chai uýtki. Anh ta rít thuốc và đang giải thích gì đó cho mấy người Mã lai đang vừa khúm núm lắng nghe, vừa nhếch mép khinh bỉ.

Mặt anh ta đỏ tía lên.

Đám người Mã lai lập tức biến mất.

- Em đến xem anh đang làm gì! – Cô bảo.

Anh ta đứng dậy tỏ vẻ niềm nở với vợ như thường ngày nhưng lảo đảo. Cảm thấy hai chân đứng không vững anh cố làm ra vẻ long trọng hơn.

- Ngồi xuống đi em, cứ ngồi xuống. Anh về muộn một chút, có mấy việc phải làm gấp.

Milixơnt giận giữ nhìn chồng.

- Anh say rồi! – Cô bảo.

Anh ta hơi trố mắt nhìn vợ, cố tỏ vẻ ngạc nhiên trên khuôn mặt đầy đặn, béo múp.

- Thậm chí anh không hình dung được em đang nói gì – Anh ta thốt lên.

Milixơnt định quát tháo mắng chồng, nhưng chỉ bật lên khóc nức nở. Cô ngồi bệt xuống ghế, hai tay ôm lấy mặt. Herôn nhìn vợ một lúc, hai hàng nước mắt cũng ứa ra trên gò má. Anh ta đưa tay về phía vợ, bước lên rồi nặng nề khụy gối quỳ xuống. Anh ta khóc và ôm chầm lấy cô.

- Hãy tha lỗi cho anh! – Herôn van xin – Anh hứa với em là sẽ không bao giờ có chuyện như vậy nữa. Tất cả chỉ tại cái bệnh sốt rét ma quỉ thôi.

- Thật là xấu hổ - Cô rên rỉ.

Anh ta khóc nức mở như đứa trẻ. Có vẻ gì đó đáng thương hại như khi con người to lớn bệ vệ này hạ mình như thế. Cuối cùng Milixơnt cũng ngẩng mặt lên. Cô thấy ánh mắt chứa đầy sự cầu khẩn và hối hận đang nhìn mình.

- Anh thật lòng hứa không bao giờ đụng đến uýtki nữa chứ?

- Anh hứa, anh hứa mà. Tự anh cũng thấy khó chịu khi nghĩ đến chuyện đó.

Và khi đó cô bảo chồng là sắp có con. Anh ta mừng rỡ đến tột độ.

- Thế là trên đời này anh chẳng cần gì thêm. Bây giờ em đừng lo lắng về anh nữa.

Họ cùng trở về nhà. Herôn tắm rửa và nằm ngủ. Sau bữa tối, họ nói chuyện với nhau rất lâu. Anh ta thú nhận với cô rằng trước lúc cưới cô đôi lúc hơi quá chén vì ở những chốn hẻo lánh như thế này, rất dễ mắc tật xấu. Anh hứa sẽ tuân theo hết mọi yêu cầu của vợ. Cho đến lúc cô chưa phải đi Quala – Xolóc, Herôn luôn là người chồng gương mẫu, dịu dàng, săn sóc đầy yêu thương và kiêu hãnh, không hề có một điều gì quá đáng. Milixơnt được ca nô chở đi một tháng rưỡi và Herôn thề sẽ không đụng đến chai rượu trong lúc vợ đi vắng. Lúc tạm biệt anh đặt bàn tay lên vai cô:

- Anh không bao giờ phạm lời hứa – Người chồng nói bằng giọng trang trọng vốn có – Mà cũng chẳng phải nhắc nhở. Chả lẽ em xem anh là người có thể làm cho vợ thêm lo lắng trong những lúc này hay sao?

Giâuen được sinh ra. Milixơnt sống trong dinh tổng đốc và được bà Gơrây, một thiếu phụ đứng tuổi tốt bụng chăm sóc như người thân. Khi chỉ còn hai người, suốt ngày không có việc gì làm ngoài chuyện trò, Milixơnt biết rõ được tất cả những gì trước đây có liên quan đến người chồng nghiện rượu của mình. Cô đau lòng nhất khi nghe kể việc Herôn bị tuyên bố thẳng thừng: nếu anh không kiếm được vợ ở Anh thì sẽ cho nghỉ việc. Điều đó làm Milixơnt bị xúc phạm nặng nề. Khi biết chồng mình nghiện rượu đến mức độ nào, cô không thể yên tâm được nữa. Sự sợ hãi bắt đầu dày vò cô: chuyện gì có thể xảy ra nếu như ở nhà chồng mình không chống được sự buồn tẻ? Cô mang theo đứa con gái và vú nuôi trở về nhà ngay. Đến cửa sông, cô cho người về báo trước, còn mình ngủ lại trong căn nhà tranh ở đó. Sáng hôm sau khi ca nô cập bến, cô lo lắng nhìn đám người tụ tập sẵn. Herôn và Ximxơn đứng trước hàng lính trẻ măng. Tim cô như thắt lại khi thấy anh ta lảo đảo nghiêng ngả cố giữ mình đứng vững và hiểu rằng chồng mình vẫn còn say rượu.

Chuyến trở về đó quả là không vui, Milixơnt dường như quên hẳn bố mẹ và em gái đang im lặng lắng nghe. Chỉ bây giờ cô mới hơi giật mình nhớ đến sự có mặt của họ và cảm thấy những điều mình kể đang ở một chốn rất xa xôi.

- Trong giây phút đó, con rất căm thù anh ta – cô bảo – con có ý muốn giết chết anh ấy.

- Milixơnt, con nói bậy bạ gì thế! – Bà mẹ kêu lên – con quên là người chồng tội nghiệp đã mất rồi ư?

Milixơnt đưa mắt nhìn mẹ. Một bóng đen thoáng qua trên khuôn mặt lạnh lùng của cô. Ông Skinlơ cựa quậy trong chiếc ghế bành.

- Chị kể tiếp đi! – Ketli yêu cầu.

- Khi biết là con đã rõ hết mọi chuyện, anh ta không thèm che đậy nữa. Ba tháng sau anh ấy bị bệnh rối loạn thần kinh do nghiện rượu.

- Sao chị không bỏ anh ấy mà đi? – Ketli hỏi.

- Điều đó chẳng giúp ích được gì. Nếu làm thế sau hai tuần anh ấy sẽ phải nghỉ việc. Lúc đó thì con và Giâuen sinh sống ra sao? Con phải ở bên cạnh anh ấy. Khi tỉnh rượu thì không thể chê trách anh ấy điều gì được. Con không yêu anh ấy, nhưng anh ấy lại yêu con theo kiểu của mình. Thì con lấy anh ta đâu có phải vì tình yêu mà chỉ là vì cần phải có chồng thôi. Mà con đã bằng mọi cách, để bắt anh ta bỏ rượu. Con còn yêu cầu bà Gơrây không cho chở rượu từ Quala -Xolóc đến, nhưng anh ấy kiếm được ở chỗ dân Hoa kiều. Con rình mò anh ấy như mèo rình chuột. Còn anh ấy thì tìm mọi cách đánh lừa. Sau một thời gian ngắn, anh ấy tiếp tục uống, bỏ bê mọi công việc. Con sợ mọi người bắt đầu kêu ca than phiền vì chồng mình. Từ đây đến Quala - Xolóc phải mất hai ngày đường nhưng rồi tin đồn cũng lan đi và bà Gơrây gửi đến một bức thư báo trước. Con đem thư cho Hêrôn xem. Anh ta làm ầm lên và nổi giận nhưng chắc bức thư cũng có tác dụng vì suốt hai tháng liền anh ấy không uống rượu. Rồi cuối cùng mọi thứ trở lại như cũ. Cứ thế tiếp diễn cho đến lúc chúng con được về nước nghỉ phép.

Khi chuẩn bị lên đường, con yêu cầu và van nài Hêrôn hãy giữ mình. Con không muốn cho cả nhà ta biết chồng mình là người như thế nào. Trong suốt thời gian ở Anh, anh ấy đã nghe lời. Đến lúc quay trở lại, con và anh ấy nói chuyện rất nghiêm chỉnh. Anh ấy rất yêu đứa con gái và tự hào về nó. Giâuen cũng quấn quýt bên bố. Nó thích bố hơn cả mẹ. Con hỏi chả lẽ anh ấy lại muốn đứa bé lớn lên trong ý nghĩ bố mình là một con sâu rượu sao. Và lúc đó con hiểu ra sợi dây ràng buộc được anh ấy. Những lời nói đó của con làm anh ấy sửng sốt. Con nói thêm rằng nếu Giâuen lúc nào đó phải nhìn thấy bố nó say rượu thì con đem đứa bé bỏ đi ngay lập tức. Nghe thế anh ấy tái mặt đi. Khi còn lại một mình, con quỳ tạ ơn Thượng đễ đã chỉ ra con đường cứu vớt chồng mình.

Hêrôn bảo rằng nếu có con giúp đỡ, anh ấy sẽ hối cải được. Mà thực tế anh ấy cũng đã cố gắng hết sức. Chúng con quyết định cùng nhau chống lại căn bệnh này. Khi mà anh ấy cảm thấy rất muốn uống rượu, anh ấy thường đến chỗ con. Bố mẹ cũng biết là anh ấy thích làm ra vẻ quan trọng, nhưng đối với con anh ấy ngoan ngoãn như một đứa trẻ nhỏ. Cứ cho là anh ấy cưới con không phải vì tình yêu, nhưng lúc này anh thật hết lòng yêu con, yêu cả bé Giâuen nữa. Trước kia con đã căm thù anh ấy vì bị sỉ nhục, ghê tởm anh ấy vì đã say mềm lại còn làm ra vẻ cao thượng, bệ vệ, nhưng nay con đã có cảm giác thân thuộc với anh ấy. Đấy không phải là tình yêu, nhưng cũng là thái độ âu yếm dịu dàng, có chút rụt rè. Anh ấy đối với con không chỉ là người chồng mà còn như đứa trẻ mà con phải gánh chịu mọi sự đau khổ. Anh ấy tự hào vì con không còn căm ghét kiểu nói ba hoa của anh ấy nữa, thấy thái độ bệ vệ của anh ấy chỉ buồn cười, đáng yêu. Bản thân con cũng có cái cảm giác đó và chúng con đã chiến thắng. Anh ấy hoàn toàn thoát khỏi thói quen tai hại, thậm chí còn đùa cợt vì chuyện đã qua.

Anh chàng Xinxơn đi khỏi, một anh chàng khác là Phơranxít đến thay.

- Cậu biết không, Phơranxít, tôi là một kẻ nghiện rượu không bỏ được – Một lần, Hêrôn bảo với anh ta như vậy – Nếu không có vợ thì tôi đã bị đuổi cổ từ lâu khỏi đây rồi. Tôi có một cô vợ tuyệt vời, Phơranxít ạ, trên thế gian này không thể kiếm ra một cô khác như thế đâu.

Bố mẹ không thể tưởng tượng được con có cảm giác thế nào khi nghe những lời nói ấy. Chỉ vì thế cũng đáng phải chịu đựng những đau khổ như con đã phải trải qua. Con thấy hạnh phúc thật sự.

Cô im lặng. Con sông rộng lớn màu mỡ mà cô đã nhiều năm gắn bó như đang trải sóng lăn tăn ngay trước mắt. Đàn chim diệc bay dọc bờ sông, đôi cách lấp lánh dưới ánh hoàng hôn đang buông xuống, đáp mình lượn lờ ngay trước mặt nước. Trông đàn chim như một dải tiếng kêu trong vắt, mang vẻ ngọt ngào của mùa xuân, như vang lên từ dây đàn thụ cầm – được một bàn tay vô hình gảy lên thánh thót. Chuyến bay của những con chim này trên dải đất xanh lững lờ khói lam chiều tà như ý nghĩ phóng khoáng đang bay bổng.

- Và bỗng nhiên Giâuen bị bệnh. Suốt ba tuần liền chúng con sống trong lo âu. Chỉ ở Quala - Xolóc mới có bác sĩ nên đành phải nghe theo lời khuyên của các thầy thuốc bản xứ. Khi đứa bé đã đỡ, con đem nó ra bờ biển để hít thở không khí của biển. Hai mẹ con ở đó cả tuần. Đó là lần đầu tiên từ khi sinh ra Giâuen con để Hêrôn lại một mình. Cách của sông không xa chỉ có một làng đánh cá với vài mái nhà sàn. Con nghĩ nhiều đến Hêrôn, nghĩ với vẻ trìu mến và thấy rõ ràng là con yêu anh ấy. Con rất vui sướng khi có canô đến đón vì muốn về nhanh để nói cho anh ấy biết điều mình vừa khám phá ra. Con biết đối với anh ấy đó là một niềm hạnh phúc to lớn. Con không thể kể hết cho bố mẹ biết được con vui sướng như thế nào.

Dọc đường người lái canô kể cho con rằng Phơranxít đã đi đến một làng xa xôi để bắt giữ một người đàn bà vừa giết chồng. Anh ta đi được hai ba ngày rồi.

Con ngạc nhiên khi không thấy Hêrôn đón ở bến sông. Anh ấy thường rất chú ý đến những chuyện như thế này. Anh bảo vợ chồng phải biết quan tâm đến nhau hơn những người xa lạ. Không hiểu anh bận chuyện gì. Con leo lên đồi về nhà. Đi sau là bà vú nuôi bế Giâuen. Trong nhà im lặng đáng sợ, có cảm giác như không có một ai, kể cả đám đày tớ. Con nghĩ có thể Hêrôn cho là vợ chồng không về sớm như vậy nên đi đâu đó. Con bước ra ngoài hè. Giâuen muốn uống, bà vú nuôi phải bế nó vào bếp tìm nước. Trong phòng khách cũng không có Hêrôn. Con gọi nhưng chẳng hề có tiếng trả lời. Con bực bội muốn tìm ra anh ấy ngay liền bước vào phòng ngủ. Không, Hêrôn chẳng hề đi đâu, anh đang nằm ngủ. Thậm chí con còn thấy buồn cười: chả là anh ấy thường ba hoa không ngủ ngày bao giờ. Anh ấy coi thói quen ngủ ngày chỉ là thói xấu của những anh chàng lười. Con nhón chân bước đến cạnh giường, định bụng sẽ đùa anh ấy. Khi vén màn lên, con thấy chồng nằm ngửa, cởi trần, chỉ mặc mỗi quần, còn bên cạnh là một chai uýtki đã cạn. Anh ấy đang say mềm.

Tất cả quay lại từ đầu. Thế là công sức hàng năm trời của con tan ra như mây khói. Con đã ước mơ, đã hy vọng vô ích. Con tức nghẹn cổ. Khuôn mặt Milixơnt tối hẳn đi vì tức giận dồn lên và cô như áp sát mình xuống đi văng.

- Con túm lấy vai anh ta, dùng hết sức để lay: “Đồ súc vật” – Con như hét lên – “Đồ súc vật”. Quá tức giận nên con cũng chẳng nhớ mình làm gì, nói gì nữa. Con chỉ biết lay gọi anh ấy. Nếu bố mẹ biết được lúc ấy trông anh ta kinh tởm như thế nào: nặng nề, phì nộn, cởi trần, mặt sưng lên đỏ tía, râu ria tua tủa. Anh ấy ngáy ầm lên, con thét to bên tai mà anh ấy không nghe gì hết. Con thử kéo chồng ra khỏi giường nhưng nặng quá. Anh ấy nằm như một khúc gỗ vậy. “Mở mắt ra!” – Con không kìm mình được, thét lên, rồi lại lắc anh ấy. Con căm thù chồng. Và lại càng căm thù hơn vì suốt tuần đã tin yêu anh ấy. Anh ấy đã phản bội con, anh ấy phản bội. Con muốn bảo với chồng rằng anh ấy chỉ là đồ súc vật bẩn thỉu, nhưng những lời kêu thét không thấm được vào tai anh: ‘Tôi bắt anh phải mở mắt ra!” – Con thét lên. Con muốn chồng phải nhìn vào mắt mình.

Người góa phụ liếm đôi môi khô cứng. Hơi thở của cô gấp gáp. Cô lại im lặng.

- Trong trạng thái như thế tốt nhất cứ để anh ấy ngủ đã – Ketli lên tiếng.

- Trên bức tường sát giường có treo bức parang. Bố mẹ cũng đã biết là Hêrôn rất thích những đồ đạc kì quái như vậy.

- Parang là cái gì? – bà Skinơ hỏi.

- Bà đừng hỏi những câu ngớ ngẩn nhu thế nữa – Ông chồng bực bội cắt ngang – Chiếc parang treo ngay trên đầu bà ấy.

Ông chỉ lên thứ vũ khí Mã lai dài ngoãng, không hiểu vì sao từ lâu ông đã để mắt tới. Bà Skinnơ vội vàng dịch sang một góc đi văng, dường như bên cạnh là cả một bầy rắn cuộn tròn.

- Và bỗng máu từ cổ họng Hêrôn tuôn trào ra. Một vết nứt đỏ, làm rộng toác dọc theo cổ.

- Milixơnt! – Ketli kêu lên và đâm bổ đến chị - Lạy chúa, chị nói gì vậy?

Bà Skinnơ ngồi yên, há miệng ra sợ hãi.

- Chiếc parang không còn treo trên tường nữa. Nó nằm trên giường.

Và khi đó Hêrôn đã mở mắt ra. Cặp mắt anh ấy trông giống hệt cặp mắt Giâuen.

- Nhưng bố không thể hiểu – Ông Skinnơ lên tiếng – Làm sao cậu ta có thể tự tử được trong trạng thái mà con vừa kể?

Ketli cầm lấy tay chị mà lắc mạnh:

- Milixơnt chị nói ngay đi!

Milixơnt quay người lại gạt cô em đi.

- Con đã nói rồi, chiếc parang treo ở ngay trên tường. Con cũng chẳng biết có chuyện gì đã xảy ra. Máu trào ra và sau đó Hêrôn mở mắt. Anh ấy chết ngay lập tức không thốt lên một lời nào, hình như chỉ khẽ rên.

Ông Skinnơ lại thốt lên:

- Thật là bất hạnh, đó chính là một vụ giết người!

Milixơnt khắp người đỏ bừng lên, nhìn người bố với một vẻ căm thù đến nỗi ông phải quay mặt đi.

Bà Skinnơ kêu:

- Milixơnt, nhưng đấy không phải là do con, không phải con chứ?

Lúc đó cô góa phụ làm một điệu bộ khiến cho cả ba người chung quanh lạnh người đi. Cô cười gằn.

- Còn ai nữa! – Cô bảo.

- Lạy chúa tôi! – Ông Skinnơ thì thào.

Ketli đứng yên, toàn thân căng ra hai tay ôm lấy ngực dường như muốn đo nhịp đập của tim.

- Sau đó thế nào? – Cô em hỏi.

- Con kêu ầm lên, rồi chạy bổ ra của sổ và đạp tung nó ra. Sau đấy gọi người vú nuôi. Bà ta đang đem Giâuen đi dạo. “Không cần Giâuen đâu! - Con kêu lên – Đừng để nó vào đây”. Bà ta liền gọi người đầu bếp nhờ đem con bé ra chỗ khác. Con gọi bà ta: “Nhanh lên, nhanh lên!” Khi bà bước vào phòng, con chỉ Hêrôn và bảo: “Ông ấy tự sát” – Bà ta kêu thất thanh và bỏ chạy.

Không ai dám bước vào phòng. Tất cả dường như mất trí vì quá sợ hãi. Con gửi cho Phơranxít một bức thư khẩn, trong đó kể hết mọi chuyện và mong cậu ta quay trở về ngay.

- Kể hết mọi chuyện xảy ra có nghĩa là thế nào?

- Con viết là khi từ bờ biển trở về nhà đã thấy Hêrôn bị cứa cổ họng đang nằm trên giường. Khí hậu nhiệt đới không thể giữ xác chết lâu được. Con kiếm quan tài ở chỗ dân Hoa kiều và đám lính chôn cất anh ấy ngay sau đồn. Khi Phơranxít quay về thì đám tang đã được hai ngày rồi. Mà cậu ta thì còn quá trẻ con. Con có thể làm bất cứ điều gì khi đã muốn. Con kể là tìm thấy Hêrôn cầm chiếc parang trong tay, chắc là anh ấy đã tự cứa mình trong cơn rối loạn tinh thần do nghiện rượu. Con còn chỉ cho cậu ta xem chai rượu uống cạn. Đám người phục vụ cũng công nhận rằng Hêrôn say mềm trong suốt thời gian vắng con. Ở Quala - Xolóc con cũng kể hệt như vậy. Mọi người rất thương hại con, còn chính phủ thì cho con một khoản trợ cấp.

Trong vài phút không ai nói câu nào. Cuối cùng ông Skinnơ cố gắng bình tĩnh lại.

- Bố là luật sư. Bố buộc phải bảo vệ pháp luật. Bố còn có nghĩa vụ nghề nghiệp. Văn phòng luật sư nhà ta luôn tự hào về tiếng tăm của mình. Con đã đặt bố vào một tình thế ngu xuẩn hết mức.

Ông chậm rãi lựa chọn từng ý nghĩa xáo trộn trong đầu mình. Milixơnt trùm lên bố cái nhìn ngạo mạn.

- Thế bố định làm gì nào?

- Giết người là giết người. Tôi không thể nhắm mắt làm ngơ trước những việc như vậy.

- Thật ngu ngốc, bố ạ - Ketli cắt ngang – Chả lẽ bố lại đi tố giác cả con gái mình à.

- Con đã đặt bố vào một tình thế ngu xuẩn hết sức – Ông nhắc lại. Milixơnt vẫn nhún vai.

- Bố mẹ đã bắt con phải kể hết sự thật. Với lại một mình con chịu đựng nó cũng quá lâu rồi. Đến lúc phải chia sẻ với mọi người thôi.

Cánh của bật mở và người hầu phòng ló mặt vào.

- Thưa ông, ô tô đã đón ở ngoài hiên! – Người ấy bảo.

Ketli kịp nghĩ và trả lời câu gì đó để người hầu phòng bước ra.

- Thế nào, ta đi chứ - Milixơnt lên tiếng.

- Nhưng mẹ không thể đi được đâu – Bà Skinnơ thốt lên sợ hãi – Mẹ xúc động quá. Chúng ta sẽ nhìn mặt ông Hâyut thế nào đây? Còn giáo chủ nữa? Ông ấy muốn được làm quen với con mà.

Milixơnt lạnh lùng nhún vai. Trong đôi mắt của cô vẫn giữ vẻ mỉa mai như cũ.

- Cần phải đi thôi mẹ ạ! – Ketli khuyên - Nếu mà ta không đến thì sẽ có chuyện đấy Cô đưa mắt giận giữ nhìn Milixơnt – Và câu chuyện này chỉ toàn những điều bậy bạ hết.

Bà Skinnơ bất lực nhìn chồng mình. Ông tiến lại gần và đưa tay giúp vợ đứng dậy.

- Cần phải đi thôi bà ạ! – Ông bảo.

- Lạy chúa, còn thêm cái mũ lông chim mà Hêrôn đã tặng tôi nữa- Bà rên rỉ.

Ông Skinnơ dìu vợ ra cửa. Ketli bám ngay theo bố mẹ, còn Milixơnt bước ra sau cùng, hơi cách biệt với họ.

- Rồi cả nhà sẽ quen cho mà xem – Cô nói với giọng bình thản – Lúc đầu con cũng chẳng thể nghĩ ngợi được gì cả, nhưng bây giờ thì vài ba ngày liền cũng không nhớ đến. Chẳng có gì phải sợ cả.

Không ai đáp lại. Họ đi qua sân để ra xe. Mấy phụ nữ ngồi ghế sau, còn ông Skinơ ngồi với lái xe… Chiếc ôtô kiểu cũ, không có bộ khởi động khiến Đa-vít phải bước xuống để quay động cơ. Ông Skinnơ quay đầu lại và giận giữ nhìn Milixơnt.

- Đáng lẽ bố không cần biết gì về chuyện này – Ông bảo – Con đã ích kỉ quá mức đấy.

Đa-vít ngồi lại chỗ của mình và họ cùng đi đến chỗ linh mục để dự bữa tiệc trà.

TRẦN SĨ NGHĨA dịch

❀ ❀ ❀

[1] Borneo: một đảo ở Malayxia, nguyên là thuộc địa của Anh (N.D.).

[2] “Five – o’clock”: Buổi tiệc trà tổ chức vào lúc năm giờ chiều, trong thời gian giữa hai bữa: ăn sáng lót dạ lần thứ hai và bữa ăn tối phổ biến ở Anh, Mỹ. Ở đây chúng tôi dịch là buổi tiệc trà (N.D.).

[3] Golf: Trẻ chơi thể thao sử dụng gậy và bóng tròn trên sân cỏ tự nhiên. Những người chơi phải đánh cho quả bóng lăn theo 9 hoặc 18 đường vạch vào hố đã đào sẵn. Thịnh hành ở Anh, Mỹ, Úc, Canada (N.D.)

[4] Gentleman: Những người được coi là đứng đắn, quân tử trong xã hội tư bản.

[5] Đơn vị tiền tệ của Anh; 20 shilling bằng 1 pound sterlling.

Nguyên tác: The Human Element, Dịch giả: Lê Đức Hải, Nguyễn Như Đạt, Trần Sĩ Nghĩa
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 9 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.