CHƯƠNG VI
Mari mở mắt ra đã trông thấy Nina đứng cạnh
- Cái gì vậy? - Nàng hỏi, hãy còn ngái ngủ.
- Thưa bà, đã muộn lắm rồi ạ! Bà còn phải tới biệt thự Bôlônhơ lúc một giờ, mà bây giờ đã mười hai giờ rồi.
Bất chợt Mari nhớ lại, nỗi khổ đau nhói trong tim. Nàng tỉnh hẳn, nhìn người tớ gái. Chị ta vẫn tức cười và thân thiện như mọi ngày. Mari trấn tĩnh lại.
- Từ lúc chị đánh thức tôi dậy, tôi không sao ngủ lại được. Tôi không muốn thao thức suốt đêm, thế là tôi uống luôn mấy viên thuốc.
- Xin lỗi bà! Tôi nghe thấy tiếng động nên nghĩ rằng phải đến chỗ bà xem có gì xảy ra chăng.
- Tiếng động gì?
- Nghe như tiếng súng nổ vậy. Tôi nhớ là ông có để cho bà giữ khẩu súng, thế là tôi sợ hết hồn.
- Chắc có cái ô tô nào chạy qua đường đó thôi! Ban đêm tiếng động vang xa lắm. Cho tôi cốc cà phê, sau đó tôi sẽ đi tắm, tôi vội!
Khi Nina vừa ra khỏi phòng, Mari vội nhảy xuống giường, tới ngăn kéo nàng giấu khẩu súng. Trong giây lát, nàng sợ Nina đã tìm thấy nó khi nàng ngủ say rồi mang đi luôn. Sirô, chồng chị ta có thể cho biết là đã mất một viên đạn trong ổ. May sao khẩu súng vẫn còn đây. Trong lúc đợi cà phê, nàng suy nghĩ miên man. Nàng hiểu tại sao Rôlây cứ nhấn mạnh nàng phải đi dự bữa tiệc trưa nay. Như vậy sẽ chẳng có gì là không bình thường trong cách ứng xử của nàng. Giờ đây, vì anh cũng như chính nàng, phải cẩn thận mới được. Nàng cảm thấy biết ơn anh vô hạn. Anh đã bình tĩnh, anh đã nghĩ được hết. Ai có thể nghĩ rằng cái anh chàng lười biếng, lêu lổng này lại gan dạ đến thế. Cái gì sẽ xảy ra cho nàng nếu anh không giữ được bình tĩnh khi chiếc xe của bọn người Ý say rượu đã tới chỗ họ vào lúc nguy hiểm nhất? Nàng thở dài. Có thể anh không phải là một thành viên có ích lắm trong xã hội, nhưng anh là người bạn tốt. Không ai chối cãi được điều đó.
Khi đã uống cà phê, và tắm táp xong, ngồi vào bàn trang điểm. Mari bắt đầu cảm thấy tự tin hơn nhiều. Thật lạ lùng, trông nàng không hề thay đổi dù đã phải trải qua một đêm như thế. Tất cả những nỗi kinh hoàng, tất cả những giọt nước mắt đều không còn vết tích. Trông nàng vẫn lanh lợi, khỏe mạnh. Nước da bánh mật của nàng chẳng hề có vẻ gì là mệt mỏi, tóc nàng mượt mà, mắt nàng ngời sáng. Nàng cảm thấy có cái gì kích thích lan tỏa khắp người khiến nàng nghĩ đến bữa tiệc tươi sắp tới, nơi nàng sẽ phải đóng vai mọt người phấn khởi, hân hoan, cực kỳ vui nhộn, làm cho mọi người phải bàn tán, ca ngợi nàng khi nàng dời gót. Hôm nay trông Mari đẹp tuyệt trần. Nàng quên không hỏi Rôlây xem anh có đi không, vì anh nói là đã nhận lời mời. Nàng mong anh có mặt tại đó, như thể nàng sẽ yên tâm hơn.
Nàng đã sửa soạn xong, nhìn vào gương ngắm mình lần cuối.
Nina trìu mến nhìn nàng cười:
- Thưa bà, tôi chưa trông thấy bà đẹp như thế này bao giờ!
- Nina, chị khen tôi nhiều quá đấy!
- Nhưng đúng như vậy, thưa bà, giấc ngủ ngon đã làm cho bà đẹp hẳn. Trông bà trẻ trung như cô con gái vậy!
Vợ chồng ông Atkinhsơn là những người Mỹ thuộc tuổi trung niên, sở hữu chủ của một ngôi biệt thự đồ sộ, cực kỳ sang trọng, trước đây thuộc về dòng họ Mêđixi. Họ đã bỏ ra hai mươi năm trời để thu lượm, tàng trữ các loại tranh, tượng khiến cho nơi ở của họ trở thành một trong những địa điểm triển lãm tại Phlorăng. Họ rất hiếu khách và luôn tổ chức tiệc tùng. Khi Mari được giới thiệu vào phòng khách có các ngăn chứa những tác phẩm, thời Phục hưng, với các tranh tượng Đức mẹ Đồng trinh của Đêxiđêriô đa Satinban và Sasôvinô với các tranh của Peruginô và Philipino Lipi[1] thì các vị khách phần lớn đã có mặt đông đủ. Hai người hầu mặc chế phục riêng đi đi lại lại, một người bưng cái khay rượu, người kia bưng khay thức ăn. Các quý bà đều xinh đẹp trong y phục mùa hè sắm từ Pari về, các quý ông trong các bộ đồ nhẹ nhõm trông mát mẻ, thoải mái. Các cửa sổ lớn đều mở trông ra khu vườn chăm chút công phu, xén tỉa vuông vắn, có những chậu hoa lớn bằng đá đặt cân đối cùng với các pho tượng đã bị thời gian làm sứt mẻ, chế tác kiểu Barốc[2].
Vào một ngày ấm áp của đầu tháng sáu hôm ấy, trong không khí có cái gì náo nức làm cho mọi người dễ tính hẳn lên, ta có cái cảm giác là chẳng ai có điều gì ưu tư phiền muộn, ai cũng có vẻ rủng rỉnh bọc tiền, sẵn sàng phè phỡn; khó mà tin được ở một nơi nào đó trên trái đất lại có cả những con người chẳng đủ bát ăn. Một ngày như thế, được sống là một điều thú vị.
Vừa bước vào phòng, Mari cảm thấy được ngay cái không khí chung tiếp đón nàng: vừa vui vẻ vừa thiện chí. Song chính cái đó, cái niềm hân hoan vô ý thức ấy, trong phút chốc đã làm nàng choáng váng như thình lình gặp phải hơi nóng ở hỏa lò bốc lên, nó giống hệt như khi ta vừa rời khỏi bóng mát của một đường phố hẹp ở Phlorăng để đi vào một quảng trường có mặt trời hun nóng. Nàng thấy nhói lên một cái gì nhọn, sắc, dữ dội khiến nàng mất tinh thần. Cùng lúc này, anh chàng thanh niên khốn khổ kia vẫn nằm tênh hênh giữa thanh thiên bạch nhật bên sườn đồi, bên sông Ácnô với viên đạn trong tim! Nhưng thoáng thấy bóng Rôlây ở cuối phòng, mắt hướng về nàng, nàng chợt nhớ điều anh dặn. Anh đang rẽ mọi người tiến về phía nàng. Chủ nhân, ông Haron Atkinhsơn là một người trông đàng hoàng, tóc đã hoa râm, cái gì cũng thái quá, người to béo, có biệt nhỡn đối với phụ nữ đẹp. ông thích tán tỉnh Mari theo cách sỗ sàng, kiểu cha nói với con. Ông cứ cầm mãi tay nàng lâu hơn sự cần thiết. Rôlây bước tới.
Ông Atkinhsơn quay lại nói với anh:
- Tôi vừa nói với cô Mari là cô đẹp như trong tranh vậy.
- Thôi đừng mất thì giờ, cha nội – Rôlây kéo dài giọng kèm theo cái mỉm cười – Cha hãy ca ngợi tượng Thần Tự do thì hơn.
- Nàng đã cho cậu no đòn rồi phải không?
- No rồi!
- Tôi không trách gì nàng!
- Thưa ông Atkinhsơn, thực tế là tôi không ưa bọn lau nhau! – Mari nói, cặp mắt long lanh vui vẻ - Tôi rút ra kinh nghiệm là không đáng nói chuyện với những người dưới năm mươi tuổi.
- Chúng ta phải gặp nhau để bàn thêm về vấn đề này mới được! – Ông Atkinhsơn trả lời – Tôi tin là chúng ta sẽ có nhiều cái hợp ý tâm đầu!
Rồi ông quay ra bắt tay với một vị khách khác vừa đến.
- Ông cừ thật đấy! – Rôlây hạ giọng.
Cái nhìn tán thưởng của anh khiến nàng được khuyến khích, tuy thế nàng cũng không giữ được, liếc sang anh những cái nhìn lo âu phiền muộn.
- Gắng lên! Cứ coi như mình là một diễn viên đang sắm vai ấy! – Anh nói với nàng.
- Tôi vẫn nói với anh, tôi không có tài diễn xuất – Nàng trả lời và cười gượng.
- Đã là đàn bà là đóng được! – Anh đáp lại.
Và nàng làm theo lời đó trong bữa tiệc. Bên phải nàng là chủ nhà. Nàng tiếp tục đùa cợt, phỉnh nịnh ông khiến ông rất thích thú. Ngồi cạnh nàng phía bên trái là một tay chuyên viên về nghệ thuật Ý. Nàng nói về các họa sĩ thuộc trường phía Siema[3].
Cái xã hội tại Phlorăng đâu có rộng lớn gì. Nhiều người có mặt tại đây hôm nay cũng là những người đã cùng ăn với nhau tại bữa tiệc chiều hôm trước. Bà quận chúa San Phocđinanđô chủ nhân bữa tiệc hôm trước của nàng hôm nay ngồi bên phải ông Atkinhsơn. Điều này khiến Mari suýt mất bình tĩnh. Vị phu nhân già cứ vươn người qua bàn mà nói chuyện với Mari:
- Tôi vừa nói với ông bá tước về chuyện chiều qua – Rồi bà quay ra nói chuyện với ông Atkinhsơn – Tôi yêu cầu họ tới ăn chiều ở nhà hàng Pepinô để nghe một người có giọng hát tuyệt vời, mà, ông biết không, anh ta không có ở đó!
- Tôi có nghe nói – Ông Atkinhsơn trả lời – Bà Atkinhsơn nhà tôi muốn bỏ tiền ra để anh ta luyện tập. Bà ấy cho là anh ta phải hát ôpêra mới đúng.
- Thay vào đó họ lại có cái thằng cha chơi viôlông tởm lợm chưa từng có. Tôi có nói chuyện với tay chủ tiệm Pepinô. Hắn nói đó là một tên tị nạn người Đức mà hắn thương hại để cho làm. Nhưng hắn sẽ không để cho tên ấy đến đây nữa. Mari còn nhớ tên đó, phải không?
- Thằng cha hoàn toàn không thương được!
- Anh ta chơi không hay!
Nàng không hiểu giọng mình nói có cái gì không tự nhiên đối với mọi người như đối với chính mình không?
- Nói thế nhẹ nhàng quá! – Bà quận chúa tiếp – Nếu tôi mà chơi đàn như thế, tôi đã tự bắn vào mình rồi!
Mari cảm thấy mình phải nói một điều gì đó, nàng nhún vai:
- Những người như vậy rất khó kiếm được việc làm.
- Đó là một việc dở ẹc! – Ông Atkinhsơn nói – Thằng cha đó trẻ lắm phải không?
- Vâng, chưa hơn một chú nhóc! – Bà quận chúa nói tiếp – Thằng cha có cái đầu trông ngồ ngộ, phải không Mari?
- Tôi không chú ý đến anh ta lắm! – Nàng trả lời – Tôi chỉ thấy là họ cố tình cho anh ta ăn mặc những áo quần trông kỳ cục thôi.
- Tôi không hề biết hắn là người tị nạn. Bây giờ tôi thấy hơi ân hận về chuyện ấy. Tôi e rằng vì tôi làm om sòm quá mức mà Pepinô nói là sẽ đuổi anh ta. Không biết tôi có tóm được anh ta không, nếu có, tôi sẽ cho anh ta hai, ba trăm lia để sống cho đến khi tìm được việc khác.
Cứ thế, họ tiếp tục nói về anh ta như không bao giờ dứt. Mari ném một cái nhìn lo lắng về phía Rôlây, song anh ngồi ở tận đầu bàn bên kia nên không nhìn thấy. Nàng buộc phải đối phó với tình huống một mình. May sao, cuối cùng thì câu chuyện chuyển sang vấn đề khác. Mari cảm thấy mệt lử. Nàng tiếp tục trò chuyện lan man, chuyện này qua chuyện khác, cười ngặt nghẽo vì những câu pha trò của người ngồi bên, vờ ra vẻ quan tâm, làm ra điều thích thú. Suốt bữa tiệc, ở nơi sâu thẳm trong ý thức của nàng vẫn hiện rõ mồn một như đang xem một vở kịch diễn trên sân khấu từ đầu đến cuối, tất cả những gì là biến cố của đêm hôm trước cứ trải ra, trải mãi ra trước cái ký ức đã bị tra tấn dữ dội của nàng. Nàng thoát nạn khi, cuối cùng, nàng đã có thể cáo từ:
- Xin cảm ơn vô cùng; thật là một bữa tiệc rất vui. Không biết có bao giờ tôi lại thấy thích thú hơn thế này chăng?
Bà Atkinhsơn tóc bạc trắng, tốt bụng, sắc sảo, giọng hài hước tỉnh khô, cầm tay nằng, nói:
- Cảm ơn cô em? Cô em đẹp quá. Bất cứ bữa tiệc nào có cô em cũng đều thành công. Còn ông Haron nhà tôi thì đã có một thời cự phách lắm. Một lão già tán gái thành thần đấy!
- Thưa bà! Ông rất tử tế với tôi.
- Ông ấy phải thế thôi. Có phải thật sự chồng tôi sẽ mất cô em sớm như vậy sao?
Cách nói của bà Atkinhsơn cho Mari biết là bà đang nói bóng nói gió tới Étga. Cũng có thể bà quận chúa đã nói gì với bà rồi.
- Thưa bà, ai mà nói trước được ạ? – Nàng mỉm cười.
- Này, tôi mong điều tôi biết là sự thật. Cô biết không, tôi tin tôi là người xét đoán tính nết không bao giờ sai. Chẳng những cô em xinh đẹp mà còn là một con người tốt bụng, dịu dàng, hồn nhiên. Tôi rất mong cô em được hết sức sung sướng!
Mari không sao giữ mình khỏi rớm nước mắt, nàng nở một nụ cười yếu ớt với người đàn bà tử tế ấy rồi vội vã ra về.
❀ ❀ ❀
[1] Các nhà điêu khắc và họa sĩ danh tiếng Ý thời Phục hưng
[2] Barốc: Một khuynh hướng nghệ thuật chủ yếu là kiến trúc hội họa, văn chương thế kỷ 16, 17, 18 xuất phát từ Ý lan sang Áo, Đức, Tây Ban Nha và Mỹ la tinh
[3] Trường phái Siema: Trường phái hội họa Ý thế kỷ 13, 14