Tội Ác Và Hình Phạt

Lượt đọc: 513 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7

❊ ❊ ❊

Một cỗ xe sang trọng dừng giữa đường với một cặp ngựa xám đầy sung sức; không có ai ở trên xe, và người đánh xe đã rời khỏi ghế ngồi để đứng bên cạnh; mấy con ngựa đang bị giữ lấy dây cương... Một đám đông người đã tụ tập xung quanh, phía trước là cảnh sát. Một người trong số họ cầm chiếc đèn lồng đang sáng, rọi vào một vật gì nằm sát ngay bánh xe. Mọi người đều đang nói, đang la hét, đang kêu lên; người đánh xe có vẻ lúng túng và cứ lặp đi lặp lại:

“Thật là một tai họa! Lạy Chúa, đúng là một tai họa!”

Raskolnikov len lỏi chen vào hết mức có thể, và cuối cùng cũng nhìn thấy được đối tượng của sự náo động và quan tâm kia. Trên mặt đất, một người đàn ông vừa bị xe chèn qua đang nằm bất tỉnh nhân sự và bê bết máu; y ăn mặc rất tồi tàn, nhưng không giống một người lao động. Máu từ đầu và mặt y đang chảy ra; gương mặt y bị dập nát, tơi tả và biến dạng. Rõ ràng y bị thương rất nặng.

“Trời Phật thương hại!” Người đánh xe kêu khóc, “tôi còn biết làm gì hơn chứ? Phải chi tôi phóng nhanh hoặc không thèm hò hét cảnh cáo hắn, đằng này tôi đi từ tốn, có vội vã gì đâu. Ai cũng thấy tôi đi đường giống như tất cả mọi người khác. Ai chẳng biết một kẻ say rượu thì đi đứng không thẳng hàng... Tôi thấy hắn băng qua đường, lảo đảo và suýt ngã. Tôi đã thét lên lần thứ nhất, rồi lần thứ hai và lần thứ ba, rồi tôi níu cương ngựa lại, thế mà hắn lại ngã ngay vào dưới chân chúng! Hoặc là hắn cố ý làm vậy, hoặc là hắn đã say mèm... Lũ ngựa còn non và rất dễ hoảng sợ... chúng chồm lên, hắn thét lên... điều đó càng làm chúng hoảng hơn. Mọi chuyện là thế đấy!”

“Đúng là sự việc diễn ra như vậy đấy,” một giọng nói trong đám đông xác nhận.

“Hắn ta có thét thật, đúng thế, hắn đã thét lên ba lần,” một giọng khác khẳng định.

“Đúng là ba lần, tất cả chúng tôi đều nghe thấy,” giọng thứ ba hô lên.

Nhưng người đánh xe không lấy làm đau khổ và hoảng sợ cho lắm. Hiển nhiên là chiếc xe ngựa thuộc về một nhân vật giàu có và quyền quý nào đó đang chờ đợi nó ở một nơi nào đó; cảnh sát đương nhiên là vô cùng sốt sắng muốn tránh làm lỡ việc của vị chủ nhân ấy. Tất cả những gì họ phải làm là đưa kẻ bị thương về đồn cảnh sát và bệnh viện. Chẳng ai biết tên họ y là gì.

Trong khi đó, Raskolnikov đã chen vào và cúi sát xuống người nạn nhân. Chiếc đèn lồng đột nhiên chiếu sáng khuôn mặt bất hạnh của người đó. Cậu nhận ra y.

“Tôi quen hắn! Tôi quen hắn!” Cậu hét lên, len người lên phía trước. “Đó là một viên chức chính phủ đã nghỉ hưu, Marmeladov. Hắn sống ở ngay gần đây trong tòa nhà của Kozel... Mau đi tìm bác sĩ đi! Tôi sẽ trả tiền, thấy chưa?” Cậu rút tiền từ trong túi ra và đưa cho viên cảnh sát xem. Cậu đang vô cùng kích động.

Cảnh sát rất mừng vì đã biết được người đó là ai. Raskolnikov khai tên và địa chỉ của chính mình, rồi khẩn thiết nài nỉ cảnh sát đưa Marmeladov bất tỉnh về thẳng căn phòng trọ của hắn, cứ như thể đó là cha ruột của mình vậy.

“Ngay ở đây thôi, cách ba căn nhà,” cậu hăng hái nói, “ngôi nhà thuộc sở hữu của Kozel, một người Đức giàu có. Chắc chắn là hắn đang trên đường về nhà trong lúc say xỉn. Tôi biết hắn, hắn là một kẻ nát rượu. Hắn có một gia đình ở đó, một người vợ, những đứa con, hắn có một cô con gái... Đưa hắn đến bệnh viện sẽ mất thời gian, mà trong nhà thể nào cũng có bác sĩ. Tôi sẽ trả tiền, tôi sẽ trả tiền! Ít ra thì ở nhà hắn sẽ được chăm sóc... họ sẽ cứu chữa cho hắn ngay lập tức. Chứ còn đưa được đến bệnh viện thì hắn chết mất rồi.” Cậu vội vàng dúi lén một vật gì đó vào tay viên cảnh sát. Nhưng sự việc này rất minh bạch, hợp pháp, và dù sao thì cứu trợ ở đây cũng gần hơn. Họ nâng người bị thương dậy; mọi người tình nguyện giúp đỡ.

Nhà của Kozel cách đó ba mươi bước chân. Raskolnikov bước theo sau, cẩn thận đỡ lấy đầu Marmeladov và chỉ đường.

“Lối này, lối này! Phải khiêng đầu hắn vào trước. Quay đầu lại nào! Tôi sẽ trả tiền, tôi sẽ hậu tạ các anh xứng đáng,” cậu lầm bầm.

Katerina Ivanovna vừa mới bắt đầu, như cô vẫn thường làm vào mọi lúc rảnh rỗi, đi đi lại lại trong căn phòng nhỏ của mình từ cửa sổ cho đến cái lò sưởi rồi lại quay ngược lại, hai tay khoanh trước ngực, lẩm bẩm một mình và ho khan. Dạo gần đây, cô càng ngày càng hay nói chuyện với đứa con gái lớn là Polenka, một đứa trẻ lên mười; dù có nhiều điều chưa thể hiểu, nhưng cô bé hiểu rất rõ rằng mẹ mình đang cần mình, thế nên con bé luôn dõi theo mẹ bằng đôi mắt to thông minh và cố gắng hết sức để tỏ ra mình đã hiểu. Lần này Polenka đang cởi quần áo cho cậu em trai, người đã ốm suốt cả ngày hôm nay và chuẩn bị đi ngủ. Cậu bé đang đợi chị cởi chiếc áo sơ mi vốn phải được giặt ngay trong đêm. Thằng bé ngồi thẳng và bất động trên một chiếc ghế, với gương mặt lặng lẽ, nghiêm nghị, hai chân duỗi thẳng về phía trước – gót chân chạm vào nhau và các ngón chân chĩa ra hai bên.

Nó lắng nghe những gì mẹ đang nói với chị mình, ngồi hoàn toàn bất động với đôi môi bĩu ra và đôi mắt mở to, đúng như tư thế của tất cả những đứa bé ngoan khi được cởi đồ để đi ngủ. Một cô bé khác, nhỏ tuổi hơn nữa, mặc rách rưới đúng nghĩa đen, đứng cạnh tấm bình phong chờ đến lượt mình. Cánh cửa mở ra hướng cầu thang để làm dịu bớt những đám mây khói thuốc bay từ các phòng khác sang, thứ đã gây ra những cơn ho dài khủng khiếp cho người phụ nữ nghèo khổ mắc bệnh lao. Katerina Ivanovna dường như còn gầy đi trong tuần đó và vết đỏ ửng vì sốt trên má cô lại càng rực rỡ hơn bao giờ hết.

“Các con không thể tin được, không thể tưởng tượng nổi đâu, Polenka,” cô vừa đi lại trong phòng vừa nói, “cuộc sống sung túc hạnh phúc biết bao trong nhà cha ta ngày trước, và tên bợm rượu này đã đẩy ta, và sẽ đẩy tất cả các con, đến bờ vực sạt nghiệp như thế nào! Cha ta là một đại tá dân sự và chỉ còn cách chức thống đốc có một bước chân; thế nên bất cứ ai đến thăm ông đều nói: ‘Chúng tôi coi ngài, Ivan Mihailovitch, như thống đốc của chúng tôi vậy!’ Khi ta... khi...” cô ho sặc sụa, “ôi, cuộc đời chết tiệt,” cô kêu lên, tằng hắng và áp hai tay lên ngực, “khi ta... khi ở buổi vũ hội cuối cùng... tại nhà quan tổng trấn... Công chúa Bezzemelny đã trông thấy ta – người đã ban phúc lành khi cha con và ta cưới nhau đấy, Polenka – bà ấy liền hỏi ngay: ‘Đó có phải là cô tiểu thư xinh đẹp từng múa điệu khăn choàng trong buổi lễ bế mạc không?’ (Con phải vá chỗ rách đó đi, con phải lấy kim khâu vá lại như mẹ đã chỉ, bằng không thì ngày mai – ho, ho, ho – nó sẽ làm cái lỗ rách to hơn đấy),” cô nhọc nhằn thốt lên. “Hoàng tử Schegolskoy, một thị vệ triều thần, lúc đó vừa từ Petersburg đến... ngài ấy đã nhảy điệu mazurka với ta và muốn ngỏ lời cầu hôn ta vào ngày hôm sau; nhưng ta đã cảm ơn bằng những lời lẽ đầy mật ngọt và nói rằng trái tim ta từ lâu đã trao cho người khác rồi. Người khác đó chính là cha con đấy, Polya; cha ta giận điên lên vì chuyện đó... Nước đã xong chưa? Đưa áo sơ mi và tất đây mau! Lida,” cô bảo đứa con út, “đêm nay con đành chịu không mặc áo lót vậy nhé... rồi trải tất của con ra cùng với nó luôn... Mẹ sẽ giặt chung một mẻ... Sao mà cái tên lang thang nát rượu ấy vẫn chưa về nhỉ? Hắn mặc cái áo sơ mi rách rưới tơi tả, đến mức trông chẳng khác gì giẻ lau bát đĩa nữa rồi! Ta sẽ giặt tất cả một thể, để khỏi phải làm việc liền hai đêm! Ôi trời ơi! (Ho, ho, ho, ho!) Lại nữa ư?” cô kêu lên khi nhận thấy có một đám đông ở hành lang và mấy người đàn ông đang chen vào phòng cô, khiêng theo một gánh nặng. “Cái gì thế hả? Họ mang cái gì đến vậy? Lạy Chúa nhân từ!”

“Chúng tôi đặt hắn ở đâu đây?” Viên cảnh sát hỏi, ngoái nhìn xung quanh khi Marmeladov đang bất tỉnh và bê bết máu đã được khiêng vào.

“Trên chiếc ghế dài ấy! Đặt thẳng hắn lên ghế dài, quay đầu về phía này,” Raskolnikov chỉ dẫn.

“Bị xe chèn trên đường! Say rượu!” Ai đó ở hành lang la lên.

Katerina Ivanovna đứng chôn chân, mặt cắt không còn một giọt máu và thở dốc. Mấy đứa trẻ sợ hãi khóc thét lên. Bé Lida ré lên, lao về phía Polenka và bấu chặt lấy chị, toàn thân run lẩy bẩy.

Sau khi đặt Marmeladov xuống, Raskolnikov lao tới chỗ Katerina Ivanovna.

“Xin Chúa hãy bình tĩnh lại, đừng sợ hãi!” Cậu nói với giọng nhanh gấp, “hắn đang băng qua đường thì bị xe ngựa đè phải, đừng hoảng sợ, hắn sẽ tỉnh lại thôi, tôi đã bảo họ đưa hắn đến đây mà... Tôi đã ở đây rồi, cô còn nhớ chứ? Hắn sẽ tỉnh lại thôi; tôi sẽ trả tiền!”

“Lần này thì hắn tiêu đời thật rồi!” Katerina Ivanovna tuyệt vọng kêu lên và lao đến chỗ chồng mình.

Raskolnikov nhận ra ngay rằng cô không phải là kiểu phụ nữ dễ ngất xỉu. Cô lập tức lót một chiếc gối dưới đầu kẻ bất hạnh – thứ mà chẳng ai nghĩ đến – rồi bắt đầu cởi áo và kiểm tra cho y. Cô giữ được sự bình tĩnh, quên cả bản thân, cắn chặt đôi môi đang run rẩy và kìm nén những tiếng thét chực trào ra khỏi lồng ngực.

Trong khi đó, Raskolnikov giục ai đó đi tìm bác sĩ ngay. Hóa ra có một bác sĩ ở cách đó hai căn nhà.

“Tôi đã đi gọi bác sĩ rồi,” cậu liên tục trấn an Katerina Ivanovna, “đừng lo lắng, tôi sẽ trả tiền. Cô có nước không?... và đưa cho tôi một chiếc khăn ăn hoặc khăn mặt, cái gì cũng được, nhanh lên... Hắn bị thương, nhưng chưa chết đâu, hãy tin tôi... Chúng ta sẽ xem bác sĩ nói thế nào!”

Katerina Ivanovna chạy vội ra cửa sổ; ở đó, trên một chiếc ghế gãy ở góc phòng, có đặt một cái chậu sành lớn đầy nước để sẵn cho việc giặt quần áo của con cái và chồng vào đêm đó. Công việc giặt giũ này thường được Katerina Ivanovna thực hiện vào ban đêm ít nhất hai lần một tuần, nếu không muốn nói là thường xuyên hơn thế. Bởi vì gia đình họ đã rơi vào cảnh túng quẫn đến mức chẳng có nổi đồ để thay đổi, và Katerina Ivanovna lại không thể chịu được cảnh bẩn thỉu; thà tự hành hạ bản thân làm việc quá sức vào ban đêm khi người khác đã ngủ, để những món đồ giặt ướt kịp phơi lên dây và khô ráo vào buổi sáng, còn hơn là nhìn thấy bụi bẩn trong nhà. Cô nhấc chậu nước theo yêu cầu của Raskolnikov, nhưng suýt ngã quỵ vì sức nặng. May là cậu đã kịp tìm thấy một chiếc khăn, nhúng nước và bắt đầu lau sạch vết máu trên mặt Marmeladov.

Katerina Ivanovna đứng bên cạnh, thở từng nhịp nặng nhọc và áp hai tay lên ngực. Bản thân cô lúc này cũng cần được chăm sóc. Raskolnikov bắt đầu nhận ra rằng có lẽ mình đã sai lầm khi bắt người bị thương mang đến đây. Viên cảnh sát cũng đứng ngập ngừng không biết tính sao.

“Polenka,” Katerina Ivanovna gọi, “chạy đi tìm Sonia đi, mau lên. Nếu con không thấy chị ấy ở nhà, hãy nhắn lại rằng cha đã bị xe cán và chị ấy phải đến đây ngay... khi nào chị ấy về. Chạy đi, Polenka! Nào, khoác chiếc khăn choàng vào.”

“Chạy cho nhanh vào nhé!” Cậu bé đang ngồi trên ghế đột nhiên ré lên, rồi sau đó lại rơi vào trạng thái đờ đẫn câm lặng như cũ, với đôi mắt trợn tròn, gót chân chĩa về phía trước và các ngón chân dang rộng.

Trong khi đó, căn phòng đã chật cứng người đến mức không còn chỗ chèn một cây kim. Trừ một người ở lại một thời gian để cố gắng xua đuổi những kẻ hiếu kỳ từ cầu thang bước vào, các viên cảnh sát khác đều đã rời đi. Hầu như tất cả những người thuê trọ của bà Lippevechsel đều túa ra từ các phòng phía trong của căn hộ; thoạt đầu họ bị kẹt cứng ở ngưỡng cửa, nhưng sau đó tràn cả vào trong phòng. Katerina Ivanovna nổi cơn thịnh nộ.

“Ít nhất các người cũng nên để cho hắn chết trong yên bình chứ,” cô hét vào mặt đám đông, “đây là một cảnh để các người đứng há hốc mồm ra xem chắc? Lại còn hút thuốc lá nữa! (Ho, ho, ho!) Các người cứ đội luôn cả mũ lên đầu đi cũng được đấy... Kìa, có kẻ vẫn đang đội mũ kìa!... Biến đi! Ít nhất thì cũng phải biết tôn trọng người sắp chết chứ!”

Cơn ho bóp nghẹt cổ họng cô – nhưng những lời quở trách ấy không phải là không có kết quả. Hiển nhiên là họ có phần e dè Katerina Ivanovna. Những người thuê trọ từng người một lùi ra phía cửa với cái cảm giác thỏa mãn thầm kín kỳ lạ thường thấy khi có một tai nạn bất ngờ xảy ra, ngay cả ở những người thân cận nhất với nạn nhân, thứ cảm giác mà không một con người sống nào tránh khỏi, dù cho có lòng thông cảm và trắc ẩn chân thành đến đâu đi nữa.

Tuy nhiên, ở bên ngoài vẫn vẳng lên những giọng bàn tán về chuyện đưa vào bệnh viện và nói rằng họ chẳng có lý do gì để gây náo động ở đây cả.

“Chẳng có lý do gì để chết chắc!” Katerina Ivanovna thét lên, và cô đang định lao ra cửa để trút giận lên đầu bọn họ thì ngay ở ngưỡng cửa lại chạm mặt bà Lippevechsel – người vừa mới nghe tin về vụ tai nạn và chạy tới để vãn hồi trật tự. Đó là một người đàn bà Đức vô cùng hách dịch và vô trách nhiệm.

“Ái chà, lạy Chúa tôi!” Bà ta vừa kêu lên vừa chắp hai tay, “chồng cô bị ngựa điên giày xéo rồi kìa! Đưa hắn đến bệnh viện đi! Tôi là chủ nhà đây!”

“Amalia Ludwigovna, tôi đề nghị bà nhớ cho những gì mình đang nói,” Katerina Ivanovna bắt đầu với vẻ kiêu kỳ (cô vẫn luôn dùng giọng điệu cao ngạo với bà chủ nhà cốt để “bà ta nhớ lấy thân phận của mình”, và ngay lúc này cô cũng không thể từ bỏ niềm khoái cảm ấy). “Amalia Ludwigovna...”

“Tôi đã nói với cô một lần rồi, cô không dám gọi tôi là Amalia Ludwigovna đâu nhé; tôi là Amalia Ivanovna.”

“Cô không phải là Amalia Ivanovna, mà là Amalia Ludwigovna, và vì tôi không phải là một kẻ nịnh hót đáng khinh như ông Lebeziatnikov – kẻ đang cười hề hề sau cánh cửa ngay lúc này kia (thực tế là tiếng cười và tiếng kêu ‘chúng lại gây sự với nhau kìa’ đang vẳng lên ở cửa), nên tôi sẽ luôn gọi cô là Amalia Ludwigovna, mặc dù tôi không hiểu tại sao cô lại ghét cái tên đó đến thế. Bà tự nhìn mà xem chuyện gì đã xảy ra với Semyon Zaharovitch đi; ông ấy sắp chết rồi. Tôi yêu cầu bà đóng ngay cái cửa đó lại và không cho ai vào nữa. Ít nhất hãy để ông ấy được chết trong thanh tịnh! Bằng không tôi cảnh cáo bà, chính ngài Toàn quyền sẽ được thông báo về cách hành xử của bà vào ngày mai đấy. Vị vương công từng biết tôi khi tôi còn là một thiếu nữ; ngài ấy rất nhớ Semyon Zaharovitch và đã nhiều lần làm ơn làm phước cho ông ấy. Ai cũng biết rằng Semyon Zaharovitch từng có rất nhiều bạn bè và những người bảo hộ, nhưng vì lòng tự trọng đáng quý, biết rõ điểm yếu bất hạnh của mình nên ông ấy đã tự rời xa họ, còn bây giờ (cô chỉ tay về phía Raskolnikov) một thanh niên hào hiệp đã đến cứu giúp chúng tôi, một người có gia thế và các mối quan hệ mà Semyon Zaharovitch đã quen biết từ thủa bé. Bà cứ yên tâm đi, Amalia Ludwigovna...”

Tất cả những lời này được thốt ra với tốc độ cực kỳ nhanh, càng lúc càng dồn dập, nhưng một cơn ho đã đột ngột cắt đứt sự hùng biện của Katerina Ivanovna. Đúng lúc đó, người đàn ông hấp hối đã hồi tỉnh và rên lên một tiếng; cô liền chạy bổ tới chỗ ông. Người bị thương mở mắt ra và ngước nhìn Raskolnikov đang cúi người bên cạnh mà không hề nhận ra hay hiểu gì cả. Ông thở những nhịp sâu, chậm chạp và nhọc nhằn; máu rỉ ra ở khóe miệng và những giọt mồ hôi túa ra trên trán. Không nhận ra Raskolnikov, ông bắt đầu đảo mắt nhìn xung quanh đầy bứt rứt. Katerina Ivanovna nhìn ông với gương mặt buồn bã nhưng kiên định, và những giọt nước mắt rỉ ra từ khóe mắt cô.

“Lạy Chúa tôi! Toàn bộ lồng ngực ông ấy bị nghiền nát rồi! Máu chảy nhiều quá,” cô tuyệt vọng thốt lên. “Chúng ta phải cởi áo cho ông ấy ra. Xoay người lại một chút đi, Semyon Zaharovitch, nếu ông có thể,” cô kêu lên với ông.

Marmeladov đã nhận ra cô.

“Mời linh mục,” ông khàn giọng thốt lên.

Katerina Ivanovna bước ra cửa sổ, tựa đầu vào khung kính và tuyệt vọng kêu lên:

“Ôi, cuộc đời chết tiệt!”

“Mời linh mục,” người sắp chết lại nói sau một phút im lặng.

“Người ta đi mời rồi,” Katerina Ivanovna quát lên với ông, và ông vâng lời tiếng thét của cô mà im bặt. Với đôi mắt buồn bã và e ấp, ông tìm kiếm hình bóng cô; cô quay lại và đứng cạnh gối ông. Ông có vẻ dễ chịu hơn một chút nhưng chẳng được bao lâu.

Chẳng mấy chốc ánh mắt ông dừng lại ở bé Lida, đứa con gái cưng đang run lẩy bẩy trong góc phòng như thể đang lên cơn động kinh, trân trân nhìn ông bằng đôi mắt trẻ thơ đầy kinh ngạc.

“A-ah,” ông cựa quậy về phía con bé đầy bứt rứt. Ông muốn nói điều gì đó.

“Sao nữa đây?” Katerina Ivanovna kêu lên.

“Chân trần, chân trần kìa!” Ông lẩm bẩm, trừng đôi mắt hoảng loạn chỉ vào đôi chân trần của đứa trẻ.

“Im lặng đi,” Katerina Ivanovna cáu kỉnh quát lên, “ông biết tại sao nó phải đi chân trần cơ mà.”

“Tạ ơn Chúa, bác sĩ đã đến,” Raskolnikov thở phào nhẹ nhõm kêu lên.

Bác sĩ bước vào, một ông lão nhỏ thó, gọn gàng, mang quốc tịch Đức, nhìn quanh với vẻ đầy cảnh giác; ông tiến lại gần người bệnh, bắt mạch, cẩn thận sờ đầu và cùng với sự giúp đỡ của Katerina Ivanovna, ông cởi chiếc áo sơ mi dính đầy máu, để lộ phần ngực bị thương của người đàn ông. Nó bị rách toạc, nghiền nát và gãy vỡ, mấy chiếc xương sườn bên phải đã bị gãy gục. Ở bên phía ngực trái, ngay trên quả tim, có một vết thâm tím ngả vàng đen cỡ lớn trông vô cùng gớm ghiếc – đó là một cú đá tàn nhẫn từ móng guốc ngựa. Viên bác sĩ cau mày. Viên cảnh sát thuật lại rằng nạn nhân đã bị cuốn vào bánh xe và bị kéo lê suốt ba mươi thước trên đường.

“Thật kỳ diệu là ông ta lại có thể tỉnh lại được đấy,” bác sĩ nhỏ giọng thì thầm với Raskolnikov.

“Ông nghĩ thế nào về tình trạng của ông ấy?” Cậu hỏi.

“Ông ta sẽ chết ngay lập tức.”

“Thực sự là không còn chút hy vọng nào nữa sao?”

“Đến một tia hy vọng nhỏ nhoi cũng không! Ông ta đang hấp hối rồi... Đầu cũng bị thương nặng quá... Hừm... Tôi có thể trích huyết cho ông ta nếu anh muốn, nhưng... chẳng ích gì đâu. Ông ta chắc chắn sẽ chết trong vòng năm hay mười phút tới thôi.”

“Vậy thì cứ trích huyết cho ông ấy đi.”

“Tùy anh thôi... Nhưng tôi báo trước là hoàn toàn vô ích đấy.”

Đúng lúc đó, những tiếng bước chân khác lại vang lên; đám đông ngoài hành lang tản ra, và vị linh mục – một ông lão nhỏ thó tóc điểm bạc – xuất hiện ở ngưỡng cửa trên tay mang theo lễ vật ban thánh thể. Một viên cảnh sát đã đi mời ngài từ lúc xảy ra tai nạn. Bác sĩ đổi chỗ cho ngài, hai người liếc nhìn nhau chào hỏi. Raskolnikov nài nỉ bác sĩ ở lại thêm chốc lát. Ông nhún vai rồi ở lại.

Tất cả lùi lại phía sau. Lễ xưng tội nhanh chóng kết thúc. Người sắp chết có lẽ chẳng hiểu gì mấy; ông chỉ có thể thốt ra những âm thanh đứt quãng không rõ nghĩa. Katerina Ivanovna dắt bé Lida lại, đỡ cậu con trai đứng dậy từ chiếc ghế, quỳ xuống góc phòng cạnh lò sưởi và bắt những đứa trẻ quỳ phía trước mình. Đứa bé gái vẫn đang run rẩy; nhưng cậu con trai, quỳ trên đôi đầu gối trần nhỏ xíu, nhịp nhàng giơ tay lên, làm dấu thánh cực kỳ chuẩn xác và cúi rạp người xuống, chạm trán sát xuống sàn nhà – việc này có vẻ mang lại cho thằng bé một sự thỏa mãn đặc biệt. Katerina Ivanovna cắn chặt môi để kìm nén nước mắt; cô cũng cầu nguyện, thỉnh thoảng lại với tay kéo chỉnh lại chiếc áo sơ mi cho con trai, và tranh thủ che đôi vai trần của đứa con gái bằng một chiếc khăn choàng lấy từ chiếc rương ra mà không hề đứng dậy khỏi tư thế quỳ hay ngừng cầu nguyện dẫu chỉ một giây. Trong khi đó, cánh cửa thông sang các phòng phía trong lại hé mở vì sự hiếu kỳ. Ngoài hành lang, đám đông khán giả từ tất cả các căn hộ dọc cầu thang ngày một đông đúc hơn, nhưng họ không dám vượt quá ngưỡng cửa. Chỉ có một mẩu nến leo lét thắp sáng khung cảnh ấy.

Đúng lúc đó, Polenka len lỏi qua đám đông ở cửa. Con bé bước vào, thở hồng hộc vì chạy quá nhanh, cởi chiếc khăn choàng đầu, tìm mẹ, tiến lại gần và nói: “Chị ấy đang đến rồi, con gặp chị ấy ngoài đường.” Người mẹ liền kéo con bé quỳ xuống bên cạnh mình.

Một thiếu nữ e dè, lặng lẽ lách qua đám đông bước vào, và sự hiện diện của cô trong căn phòng này mới kỳ lạ làm sao – giữa chốn túng quấn, rách rưới, cái chết và sự tuyệt vọng. Bản thân cô cũng ăn mặc rách rưới, toàn là những thứ rẻ tiền nhất, nhưng lại được chưng diện những món đồ phù phiếm rẻ tiền đường phố mang một phong cách đặc thù, tố cáo không chút giấu giếm mục đích đáng hổ thẹn của chúng. Sonia khựng lại ở ngưỡng cửa và ngơ ngác nhìn quanh, hoàn toàn không ý thức được gì về bản thân. Cô quên bẵng đi chiếc áo lụa sặc sỡ đã qua mấy đời chủ, trông vô cùng lạc lõng ở đây với cái đuôi váy dài lếch thếch nực cười, cả cái khung tùng váy khổng lồ chiếm trọn lối đi, đôi giày màu sáng, chiếc ô mang theo dù ban đêm chẳng để làm gì, và chiếc mũ rơm tròn vành ngốc nghếch đính một chiếc lông chim màu lửa chói lọi. Dưới chiếc mũ đội lệch vẻ bất kham ấy là một gương mặt nhỏ nhắn, tái nhợt và hoảng sợ với đôi môi hé mở cùng ánh mắt trân trân nhìn nỗi kinh hoàng. Sonia là một cô gái mười tám tuổi gầy gò, nhỏ nhắn với mái tóc vàng nhạt, trông khá xinh xắn cùng đôi mắt xanh tuyệt đẹp. Cô đăm đăm nhìn về phía chiếc giường và vị linh mục; bản thân cô cũng thở dốc vì chạy hụt hơi. Cuối cùng, những tiếng thì thầm, có lẽ là một vài lời bàn tán trong đám đông, cũng lọt vào tai cô. Cô cúi đầu bước một bước vào trong phòng, vẫn đứng nép sát cửa ra vào.

Buổi lễ đã kết thúc. Katerina Ivanovna lại tiến đến bên chồng. Vị linh mục lùi lại, quay người nói vài lời khuyên răn và an ủi Katerina Ivanovna trước khi ra về.

“Tôi phải làm gì với mấy đứa nhỏ này đây?” Cô sắc sảo và cáu kỉnh cắt lời ngài, chỉ tay về phía lũ trẻ.

“Chúa rất nhân từ; hãy trông chờ sự cứu trợ từ Đấng Tối Cao đi con,” vị linh mục bắt đầu.

“Ái chà! Ngài nhân từ lắm, nhưng có chừa chúng tôi ra đâu.”

“Đó là tội lỗi, là tội lỗi đấy, con ạ,” vị linh mục vừa nói vừa lắc đầu.

“Thế đó không phải là tội lỗi chắc?” Katerina Ivanovna thét lên, chỉ tay về phía người sắp chết.

“Có lẽ những kẻ vô tình gây ra tai nạn sẽ đồng ý bồi thường cho cô, ít nhất là khoản tiền thu nhập bị mất của ông ấy.”

“Ông chẳng hiểu gì cả!” Katerina Ivanovna giận dữ xua tay quát lớn. “Và tại sao họ lại phải bồi thường cho tôi chứ? Xí, chính hắn say rượu rồi tự lao đầu vào chân ngựa cơ mà! Thu nhập cái nỗi gì chứ? Hắn chẳng mang lại cho chúng tôi cái gì ngoài sự khốn khổ. Hắn nướng sạch mọi thứ vì rượu! Hắn cướp đoạt của cải của chúng tôi để mua rượu, hắn tàn phá cuộc đời của chúng và đời tôi cũng chỉ vì rượu! Và ơn Chúa là hắn sắp chết rồi đấy! Đỡ được một miệng ăn phải nuôi!”

“Cô phải biết tha thứ trong giờ phút lâm chung chứ, đó là tội lỗi đấy con ạ, những tâm tư tình cảm đó là một tội ác lớn lao.”

Katerina Ivanovna đang bận rộn với người sắp chết; cô đang cho ông uống nước, lau máu và mồ hôi trên trán, chỉnh lại gối cho ngay ngắn, và chỉ thỉnh thoảng mới quay sang đáp lời vị linh mục trong chốc lát. Giờ thì cô lao vào ngài gần như trong cơn cuồng nộ.

“Hỡi cha! Đó chỉ là những lời nói suông mà thôi! Tha thứ ư? Phải chi hắn không bị xe cán, thì hôm nay hắn đã lết về nhà trong cơn say xỉn, chiếc áo sơ mi duy nhất thì bẩn thỉu rách rưới, rồi hắn sẽ lăn ra ngủ say như chết, còn tôi thì sẽ phải hì hục giũ giặt đến tận sáng ngày ra, giặt những mảnh giẻ rách của hắn và của lũ trẻ rồi đem phơi khô bên cửa sổ, và vừa lúc trời rạng sáng tôi lại phải ngồi vá víu chúng. Ngày nào đêm nào của tôi cũng trôi qua như thế đấy!... Còn nói chuyện tha thứ cái gì nữa chứ! Bản thân tôi đã tha thứ cho ông ta lâu lắm rồi!”

Một cơn ho khan trầm đục và kinh hoàng đã cắt ngang lời cô. Cô áp chiếc khăn tay lên miệng rồi đưa cho vị linh mục xem, tay kia ôm lấy lồng ngực đang đau buốt. Chiếc khăn tay đã đẫm máu. Vị linh mục cúi đầu im lặng.

Marmeladov đang trải qua những phút giây hấp hối cuối cùng; ông không hề rời mắt khỏi khuôn mặt Katerina Ivanovna – người đang cúi người bên cạnh. Ông cứ cố gắng nói điều gì đó với cô; ông khó nhọc cử động chiếc lưỡi và thốt lên những âm thanh ngọng ngập, nhưng Katerina Ivanovna hiểu rằng ông muốn xin cô tha thứ, liền nghiêm khắc quát lớn:

“Im lặng đi! Không cần thiết đâu! Tôi thừa biết ông muốn nói gì rồi!” Và người bệnh bỗng im bặt, nhưng ngay khoảnh khắc ấy, đôi mắt thất thần của ông lại trờ về phía ngưỡng cửa và nhìn thấy Sonia.

Trước đó ông không hề nhận ra con bé: nó đang đứng nép trong góc tối.

“Ai thế kia? Ai thế kia?” Ông đột nhiên cất giọng khàn đặc, đứt quãng và đầy kích động, kinh hãi đảo mắt về phía cửa nơi cô con gái đang đứng, rồi cố chồm người ngồi dậy.

“Nằm xuống! Nằm xuố-ng đi!” Katerina Ivanovna thét lên.

Bằng một sức mạnh phi tự nhiên, ông đã chống được khuỷu tay lên. Ông trừng trừng nhìn con gái với vẻ hoang dại hồi lâu, như thể không nhận ra nó. Chưa bao giờ ông thấy nó ăn mặc như thế này. Đột nhiên ông nhận ra con, nhận ra sự tàn tạ và nỗi hổ thẹn trong bộ dạng nhục nhã cùng xiêm y lòe loẹt của nó, khi nó đang ngoan ngoãn chờ đến lượt mình để nói lời từ biệt với người cha sắp qua đời. Gương mặt ông hiện lên vẻ đau đớn tột cùng.

“Sonia! Con gái ơi! Tha lỗi cho cha!” Ông thét lên, cố vươn tay về phía nó, nhưng vì mất thăng bằng nên ông ngã nhào khỏi chiếc ghế dài, úp mặt xuống sàn nhà. Mọi người nhào tới đỡ ông lên, đặt lại lên ghế; nhưng ông đã sắp trút hơi thở cuối cùng. Sonia ré lên một tiếng yếu ớt, lao đến ôm chầm lấy ông và cứ giữ nguyên tư thế ấy bất động. Ông trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay cô.

“Hắn đã đạt được điều mình muốn rồi đấy,” Katerina Ivanovna kêu lên khi nhìn thấy thi thể người chồng đã chết. “Nào, bây giờ phải làm sao đây? Lấy gì mà chôn cất hắn đây! Ngày mai lấy gì cho chúng ăn đây hả giời?”

Raskolnikov bước lại chỗ Katerina Ivanovna.

“Katerina Ivanovna,” cậu bắt đầu, “tuần trước chồng cô đã kể cho tôi nghe toàn bộ cuộc đời và hoàn cảnh của ông ấy... Xin hãy tin tôi, ông ấy nói về cô với một sự kính trọng nồng nhiệt. Kể từ buổi tối hôm đó, khi tôi biết được ông ấy tận tụy với tất cả các cô cậu ra sao, và cách ông ấy yêu thương, kính trọng cô đến nhường nào, Katerina Ivanovna ạ, dẫu cho ông ấy có yếu đuối vướng vào thói hư tật xấu đi nữa, thì từ buổi tối hôm đó chúng tôi đã trở thành bạn bè... Cho phép tôi lúc này đây... được làm một việc gì đó... để trả món nợ cho người bạn quá cố của mình. Đây là hai mươi rúp, tôi nghĩ vậy – và nếu khoản tiền này có thể giúp ích gì cho cô, thì... tôi... nói tóm lại, tôi sẽ quay lại, nhất định tôi sẽ quay lại... Có lẽ ngày mai tôi sẽ lại tới... Tạm biệt cô!”

Và cậu nhanh chóng bước ra khỏi phòng, lách qua đám đông đi ra cầu thang. Nhưng giữa đám đông, cậu bỗng va phải Nikodim Fomitch – người vừa nghe tin về tai nạn và đã thân chinh đến để chỉ thị mọi việc. Từ sau vụ việc ở đồn cảnh sát, họ chưa gặp lại nhau lần nào, nhưng Nikodim Fomitch nhận ra cậu ngay lập tức.

“Ái chà, cậu đấy à?” Ông hỏi cậu.

“Ông ấy mất rồi,” Raskolnikov đáp. “Bác sĩ và linh mục đều đã đến, mọi chuyện đều làm đúng thủ tục cả. Đừng làm khổ người phụ nữ tội nghiệp ấy quá, bản thân cô ấy cũng đang mắc bệnh lao rồi. Hãy cố gắng động viên cô ấy, nếu có thể... tôi biết ông là một người có lòng nhân hậu...” cậu nói thêm với một nụ cười, nhìn thẳng vào mặt ông.

“Nhưng áo quần cậu dính đầy máu kìa,” Nikodim Fomitch nhận xét khi dưới ánh đèn lồng, ông nhìn thấy những vết bẩn còn mới trên chiếc áo ghi-lê của Raskolnikov.

“Vâng... tôi dính đầy máu,” Raskolnikov đáp với một vẻ điệu bộ kỳ lạ; đoạn cậu mỉm cười, gật đầu rồi đi xuống cầu thang.

Cậu bước xuống một cách chậm rãi và thong thả, cơn sốt hầm hập nhưng cậu không hề ý thức được điều đó, hoàn toàn chìm đắm trong một cảm giác mới mẻ, choáng ngợp về sự sống và sức mạnh bỗng chót bùng lên trong huyết quản. Cảm giác này có thể sánh với tâm trạng của một kẻ tử tù bỗng được ơn tha bổng. Nửa đường xuống cầu thang, cậu bị vị linh mục đang trên đường về nhà bắt kịp; Raskolnikov đứng nhường đường, im lặng gật đầu chào ngài. Cậu vừa đặt chân xuống mấy bậc cuối cùng thì nghe thấy tiếng bước chân dồn dập ở phía sau. Ai đó đang đuổi theo cậu; chính là Polenka. Con bé chạy theo sau, miệng gọi “Chờ với! Chờ với!”

Cậu quay người lại. Con bé đã xuống đến chân cầu thang và dừng lại ở bậc cao hơn cậu một chút. Ánh sáng mờ ảo hắt vào từ sân. Raskolnikov có thể nhận ra gương mặt nhỏ nhắn gầy gò nhưng xinh xắn của đứa trẻ đang nhìn cậu với một nụ cười trẻ thơ rạng rỡ. Con bé đã chạy theo cậu để chuyển một lời nhắn mà rõ ràng là nó rất vui khi được nói ra.

“Bác sĩ ơi, tên bác là gì?... và bác sống ở đâu ạ?” Con bé hụt hơi vội vã hỏi.

Cậu đặt cả hai tay lên đôi vai con bé và nhìn nó với một vẻ ngất ngây khó tả. Được ngắm nhìn con bé đem lại cho cậu một niềm vui lớn lao đến mức chính cậu cũng chẳng giải thích nổi vì sao.

“Ai sai em chạy theo thế?”

“Chị Sonia bảo em đấy,” con bé đáp, nụ cười càng thêm rạng rỡ.

“Anh biết ngay là chị Sonia bảo em mà.”

“Mẹ cũng bảo em nữa... lúc chị Sonia đang dặn em, mẹ cũng chạy tới và bảo ‘Chạy cho nhanh vào nhé, Polenka.’”

“Em có yêu chị Sonia không?”

“Em yêu chị ấy nhất trên đời,” Polenka đáp với một vẻ nghiêm túc kỳ lạ, và nụ cười của con bé bỗng trở nên trầm tĩnh hơn.

“Thế em có yêu anh không?”

Đáp lại câu hỏi, cậu thấy gương mặt đứa bé áp sát lại gần mình, đôi môi chúm chím ngây thơ chìa ra để hôn cậu. Bột phát, đôi tay gầy đét như que củi ôm chầm lấy cậu thật chặt, cái đầu nhỏ bé tựa lên vai cậu và cô bé nức nở khóc thầm, áp chặt khuôn mặt vào người cậu.

“Em thương ba lắm,” một lát sau, con bé ngẩng chiếc gương mặt đẫm lệ lên nói, lấy tay gạt những giọt nước mắt. “Bao nhiêu là bất hạnh đổ xuống lúc này,” nó đột nhiên nói thêm với cái vẻ điềm đạm kỳ lạ mà lũ trẻ hay cố tỏ ra khi chúng muốn nói chuyện giống như người lớn.

“Ba có thương em không?”

“Ba thương con Lida nhất,” con bé tiếp tục nói một cách vô cùng nghiêm túc, không hề cười cợt, y hệt như người lớn, “ba thương nó vì nó nhỏ tuổi và vì nó hay ốm đau nữa. Và ba hay mua quà cho nó lắm. Nhưng ba dạy chúng em tập đọc, còn em thì được dạy cả ngữ pháp và kinh thánh nữa,” con bé tự hào nói thêm. “Và mẹ chẳng bao giờ nói gì cả, nhưng chúng em biết là mẹ thích thế và ba cũng biết điều đó. Với lại mẹ muốn dạy tiếng Pháp cho em nữa, vì đã đến lúc em phải bắt đầu đi học rồi.”

“Thế em có thuộc kinh nguyện không?”

“Tụi em thuộc chứ ạ! Tụi em thuộc từ lâu lắm rồi. Em tự đọc kinh một mình vì em lớn rồi, còn Kolya và Lida thì đọc to cùng với mẹ. Đầu tiên chúng đọc kinh ‘Kính mừng Maria’ rồi đến một bài kinh khác: ‘Lạy Chúa, xin tha thứ và ban phúc cho chị Sonia’, và một bài nữa: ‘Lạy Chúa, xin tha thứ và ban phúc cho người cha thứ hai của chúng con’. Vì cha cả của chúng con đã mất rồi và đây là người cha khác, nhưng chúng con vẫn cầu nguyện cho cả người cha kia nữa cơ.”

“Polenka, tên anh là Rodion. Thỉnh thoảng hãy cầu nguyện cho cả anh nữa nhé. ‘Và xin hãy nhớ đến tôi tớ ngài là Rodion’, chỉ thế thôi.”

“Em sẽ cầu nguyện cho bác suốt quãng đời còn lại,” cô bé tha thiết tuyên bố, rồi bỗng nụ cười lại bừng sáng trên môi, nó lao vào lòng cậu và ôm siết lấy cậu một lần nữa.

Raskolnikov cho con bé biết tên và địa chỉ của mình rồi hứa chắc chắn ngày mai sẽ ghé sang. Đứa trẻ ra về trong sự mê mẩn hoàn toàn dành cho cậu. Đã qua mười giờ khi cậu bước ra đường. Năm phút sau, cậu đã đứng trên cây cầu đúng chỗ người phụ nữ từng nhảy xuống tự vẫn.

“Đủ rồi,” cậu kiên quyết và đầy đắc ý thốt lên. “Ta đã chấm dứt những ảo tưởng, những nỗi sợ hãi tưởng tượng và bóng ma rồi! Cuộc đời là thực tế! Chẳng phải ta vừa mới sống đó sao? Sự sống trong ta vẫn chưa chết theo mụ già kia đâu! Cầu Chúa ban vương quốc thiên đàng cho mụ – và giờ thì đủ rồi đấy, thưa bà, hãy để tôi được yên! Giờ là lúc để vương quốc của lý trí và ánh sáng... của ý chí, và của sức mạnh ngự trị... và giờ chúng ta sẽ cùng kiểm chứng! Chúng ta sẽ thử thách sức lực của chính mình!” cậu thách thức nói thêm, tựa hồ như đang khiêu chiến với một thế lực hắc ám nào đó. “Thế mà ta lại sẵn sàng chấp nhận sống lủi thủi trong một không gian chật hẹp bốn thước vuông cơ đấy!

“Lúc này ta đang rất yếu, nhưng... ta tin là cơn bệnh của mình đã tan biến hết rồi. Ta biết nó sẽ dứt hẳn khi ta bước chân ra ngoài. Nhân tiện, nhà của Potchinkov chỉ cách đây vài bước chân. Dứt khoát ta phải đến gặp Razumihin dù cho nhà hắn có không nằm ở đây đi chăng nữa... hãy để hắn thắng cược đi! Hãy làm cho hắn thỏa mãn một chút – mặc thây nó chứ! Sức mạnh, sức mạnh mới là thứ con người ta cần, chẳng thể đạt được bất cứ điều gì nếu thiếu nó, và sức mạnh phải được giành lấy bằng sức mạnh – đó là điều mà bọn họ không hề biết,” cậu kiêu hãnh và đầy tự tin nói thêm, rồi lê những bước chân mệt mỏi rời khỏi cây cầu. Niềm kiêu hãnh và sự tự tin trong cậu không ngừng lớn lên; từng giây từng phút trôi qua, cậu lại biến thành một con người khác. Chuyện gì đã xảy ra để tạo nên cuộc cách mạng trong con người cậu thế này? Chính cậu cũng chẳng rõ; tựa như một kẻ chết đuối với phải cọng rạ, cậu bỗng cảm thấy rằng bản thân mình cũng ‘có thể sống được, rằng vẫn còn sự sống dành cho mình, rằng sự sống trong cậu chưa hề chết đi cùng mụ già ấy.’ Có lẽ cậu đã quá vội vã đưa ra kết luận, nhưng cậu chẳng màng nghĩ đến điều đó.

“Nhưng mà ta có thực sự bảo con bé hãy nhớ đến ‘tôi tớ Rodion’ trong lời cầu nguyện của nó đâu cơ chứ,” ý chợt lóe lên trong đầu cậu. “À, thì đó là... phòng khi khẩn cấp thôi mà,” cậu tự nhủ và phì cười trước trò đùa trẻ con của chính mình. Tâm trạng cậu đang vô cùng phấn chấn.

Cậu dễ dàng tìm được nhà Razumihin; vị khách trọ mới đã quá quen thuộc ở nhà Potchinkov và bác gác cổng chỉ đường cho cậu ngay. Lên đến lưng chừng cầu thang, cậu đã nghe thấy tiếng ồn ào và cuộc trò chuyện náo nhiệt của một đám đông tụ tập. Cánh cửa mở toang ra hướng cầu thang; cậu có thể nghe thấy những tiếng reo hò và tranh cãi. Phòng của Razumihin khá rộng; buổi tụ tập có tới mười lăm người. Raskolnikov dừng lại ở lối vào, nơi hai người đầy tớ của bà chủ nhà đang bận rộn sau tấm bình phong với hai chiếc ấm samovar, những chai lọ, đĩa bánh ngọt cùng các món nhắm được mang từ dưới bếp của bà chủ nhà lên. Raskolnikov bảo người vào gọi Razumihin. Hắn hớn hở chạy ra. Thoạt nhìn là biết ngay hắn đã uống rất nhiều và dù không lượng rượu nào có thể làm Razumihin say mèm hoàn toàn, thì lần này hắn cũng đã thực sự ngấm men rồi.

“Nghe này,” Raskolnikov vội vã lên tiếng, “tôi đến đây chỉ để báo cho anh biết là anh đã thắng cược rồi đấy, và chẳng ai biết trước được điều gì sẽ xảy ra với mình đâu. Tôi không vào trong được đâu; tôi đang yếu đến mức có thể ngã quăn ra đây bất cứ lúc nào. Thôi chào buổi tối và tạm biệt anh nhé! Ngày mai hãy sang thăm tôi đấy.”

“Biết gì không? Tôi sẽ đưa anh về nhà. Đã tự nhận mình yếu thì anh phải...”

“Thế còn các vị khách của anh thì sao? Cái cậu đầu xoăn vừa mới thò đầu ra lúc nãy là ai thế?”

“Nó á? Chúa mới biết được! Chắc là bạn của ông chú tôi, hoặc có lẽ tự đến mà không được mời... Tôi sẽ để ông chú ở lại tiếp họ, ông ấy là một nhân vật vô giá, tiếc là bây giờ tôi không giới thiệu anh với ông ấy được. Nhưng mặc xây bọn họ đi! Họ sẽ chẳng để ý đến tôi đâu, với lại tôi đang cần một chút không khí trong lành, vì anh đến đúng lúc không thể đúng hơn được nữa – chậm hai phút nữa thôi là tôi thượng cẳng chân hạ cẳng tay với tụi nó mất! Bọn họ đang bàn toàn chuyện nhảm nhí... anh không thể tưởng tượng nổi con người ta có thể nói ra những gì đâu! Dù sao thì tại sao anh lại không thể tưởng tượng cơ chứ? Chẳng lẽ bản thân chúng ta không nói nhảm chắc? Cứ để mặc họ đi... đó là cách để học cách không bao giờ tái phạm!... Chờ chút, tôi đi gọi Zossimov.”

Zossimov chộp lấy Raskolnikov gần như với vẻ háu hức; hắn tỏ ra đặc biệt quan tâm đến cậu; chẳng mấy chốc gương mặt hắn sáng bừng lên.

“Anh phải lên giường đi ngủ ngay lập tức,” hắn vừa tuyên bố, vừa thăm khám cho bệnh nhân trong khả năng có thể, “và uống một liều thuốc cho đêm nay. Anh sẽ uống chứ? Tôi đã chuẩn bị sẵn từ nãy rồi... một gói thuốc bột.”

“Hai gói cũng được,” Raskolnikov đáp. Gói thuốc được uống ngay lập tức.

“Cậu đưa anh ta về là phải lắm,” Zossimov nói với Razumihin – “chúng ta sẽ xem ngày mai tình hình anh ấy thế nào, còn hôm nay thì anh ấy trông không đến nỗi nào – đã có sự thay đổi đáng kể từ chiều nay rồi. Càng sống lại càng học hỏi thêm được khối điều hay...”

“Anh có biết lúc nãy ra ngoài Zossimov đã thì thầm với tôi cái gì không?” Razumihin bép xép ngay khi cả hai ra đến đường cái. “Tôi sẽ không kể hết cho anh nghe đâu, người anh em ạ, vì bọn họ quá ngốc nghếch. Zossimov bảo tôi cứ thoải mái trò chuyện với anh trên đường về và khơi gợi để anh dốc bầu tâm sự, rồi sau đó tôi phải báo cáo lại cho hắn, vì trong đầu hắn đang ôm một ý nghĩ rằng anh... bị điên hoặc suýt soát phát điên rồi. Thử tưởng tượng mà xem! Thứ nhất, trí tuệ của anh gấp ba lần hắn; thứ hai, nếu anh không bị điên thì anh thèm vào mà quan tâm đến cái ý nghĩ hoang đường tẻ nhạt ấy của hắn; và thứ ba, cái tên chuyên môn cắt xẻo cái thớ thịt bò ấy đã phát cuồng vì các chứng bệnh tâm thần rồi, và điều dẫn hắn đến kết luận này về anh chính là cuộc trò chuyện ngày hôm nay của anh với Zametov.”

“Zametov đã kể hết cho anh nghe à?”

“Đúng thế, và hắn làm thế là phải. Giờ thì tôi đã hiểu tất cả chuyện này có nghĩa là gì rồi và Zametov cũng vậy... ừm, thực ra thì, Rodya... vấn đề là thế này... bây giờ tôi đang hơi say một chút... Nhưng mà... không hề gì... vấn đề là ý nghĩ này... anh hiểu chứ? vừa mới nảy mòi trong đầu bọn chúng... anh hiểu chứ? Nghĩa là, chẳng ai dám nói lớn ra cả, vì ý nghĩ đó quá ư vô lý, và nhất là từ sau vụ bắt giữ tên họa sĩ kia, cái bong bóng xà phòng đó đã vỡ tung và biến mất vĩnh viễn rồi. Nhưng sao tụi nó lại ngốc thế cơ chứ? Hồi đó tôi đã cho Zametov một trận đòn nhừ tử – chuyện này là giữa chúng ta thôi nhé, người anh em; làm ơn đừng hé lộ nửa lời là anh biết chuyện này; tôi nhận ra hắn rất nhạy cảm với chuyện đó; sự việc diễn ra ở quán của Luise Ivanovna. Nhưng hôm nay, hôm nay thì mọi chuyện đã sáng tỏ rồi. Chính cái tên Ilya Petrovitch đó là kẻ đứng sau giật dây! Lúc ở đồn cảnh sát hắn đã lợi dụng lúc anh ngất xỉu, nhưng giờ thì chính hắn cũng đang cảm thấy xấu hổ vì việc đó; tôi biết điều này...”

Raskolnikov chăm chú lắng nghe. Razumihin đã say đến mức nói năng không kiêng nể gì nữa.

“Hồi đó tôi ngất đi là vì không khí ngột ngạt và mùi sơn,” Raskolnikov lên tiếng giải thích.

“Chẳng cần phải giải thích! Mà cũng chẳng phải chỉ vì sơn đâu: cơn sốt đã âm ỉ đeo bám suốt một tháng trời rồi; Zossimov là người làm chứng cho điều đó! Nhưng mà anh không thể tưởng tượng nổi cậu nhóc đó bây giờ đang cảm thấy suy sụp thế nào đâu! ‘Tôi chẳng đáng một góc móng tay của anh ấy,’ hắn nói thế. Ý hắn là anh đấy. Đôi khi hắn cũng có những tình cảm tốt đẹp, người anh em ạ. Nhưng còn bài học, bài học mà anh dành cho hắn ngày hôm nay trong Palais de Cristal ấy, quả là hay tuyệt cú mèo! Anh đã làm hắn hoảng vía lúc đầu, anh biết đấy, hắn suýt thì lên cơn co giật! Anh suýt nữa thì thuyết phục hắn tin trở lại vào đống nhảm nhí ghê tởm ấy, rồi sau đó anh đột nhiên – lè lưỡi ra chế nhạo hắn: ‘Đấy, thế bây giờ anh tính sao nào?’ Quá ư hoàn hảo! Giờ thì hắn đã bị đè bẹp, đã tiêu đời hoàn toàn rồi! Quá đỉnh cao, thề có Chúa, bọn chúng đáng kiết phải nhận những vố như thế! A, tiếc là lúc đó tôi không có ở đấy! Hắn đang khát khao gặp anh lắm đấy. Cả Porfiry nữa, cũng muốn làm quen với anh...”

“À!... cả hắn nữa sao... nhưng tại sao họ lại gán cho tôi cái mác bị điên cơ chứ?”

“À, không hẳn là điên đâu. Chắc là tôi lỡ lời rồi, người anh em... Điều khiến hắn ấn tượng, anh thấy đấy, là chỉ có mỗi chủ đề đó mới thu hút được sự quan tâm của anh; giờ thì rõ nguyên nhân tại sao nó lại hấp dẫn anh rồi; biết hết mọi hoàn cảnh... và chuyện đó đã kích động anh ra sao, kết hợp với căn bệnh của anh như thế nào... Tôi đang hơi say một chút, người anh em ạ, chỉ là, mặc thây hắn đi, hắn có những suy nghĩ quái đản của riêng mình... Tôi bảo anh rồi, hắn phát cuồng vì mấy bệnh tâm thần. Nhưng đừng có để tâm đến hắn làm gì...”

Cả hai im lặng trong nửa phút.

“Nghe này, Razumihin,” Raskolnikov bắt đầu, “tôi muốn nói thẳng với anh điều này: tôi vừa mới đến bên một giường bệnh lâm chung, một viên chức đã qua đời... Tôi đã dốc sạch tiền của mình cho họ... và ngoài ra tôi vừa được hôn bởi một người mà nếu tôi có giết ai đi chăng nữa, thì cô ấy vẫn cứ... thực ra tôi vừa nhìn thấy một người khác ở đó... đội một chiếc lông chim màu lửa... nhưng tôi đang nói nhảm đấy; tôi đang rất yếu, dìu tôi với... chúng ta sắp đến cầu thang rồi đây...”

“Sao thế? Có chuyện gì với anh vậy?” Razumihin lo lắng hỏi.

“Tôi hơi chóng mặt chút thôi, nhưng vấn đề không phải ở đấy, tôi thấy buồn quá, buồn lắm... như một đứa con gái vậy. Nhìn kìa, cái gì thế? Nhìn đi, nhìn kìa!”

“Cái gì cơ?”

“Anh không thấy à? Có ánh đèn trong phòng tôi kìa, anh thấy không? Chiếu qua khe cửa ấy...”

Họ đã ở ngay chân cầu thang tầng trên cùng, ngang mức cửa nhà bà chủ nhà, và quả thực họ có thể nhìn thấy từ phía dưới rằng căn gác xép của Raskolnikov đang có ánh đèn sáng.

“Lạ thật! Chắc là Nastasya rồi,” Razumihin nhận xét.

“Giờ này chẳng bao giờ con bé ở trong phòng tôi cả và chắc nó đã đi ngủ từ đời thủa nào rồi, nhưng mà... mặc xác nó! Tạm biệt anh!”

“Ý anh là sao? Tôi lên cùng anh, chúng ta cùng vào phòng!”

“Tôi biết là chúng ta sẽ cùng vào, nhưng tôi muốn bắt tay anh ở đây và nói lời tạm biệt với anh ngay tại đây. Nào, đưa tay anh đây, tạm biệt nhé!”

“Có chuyện gì với anh thế, Rodya?”

“Không có gì đâu... đi thôi... anh sẽ là nhân chứng.”

Họ bắt đầu bước lên cầu thang, và ý nghĩ lại loé lên trong đầu Razumihin rằng có lẽ Zossimov đã đúng thật. “Ái chà, mình lại lỡ lời làm hắn kích động mất rồi!” Hắn tự lầm bầm với bản thân.

Khi họ lên đến cửa, họ nghe thấy tiếng người nói chuyện trong phòng.

“Cái quái gì thế này?” Razumihin kêu lên. Raskolnikov là người mở cửa trước tiên; cậu giật tung cánh cửa rộng mở và chết trân đứng chôn chân ngay ngưỡng cửa.

Mẹ và em gái cậu đang ngồi trên chiếc ghế dài trong phòng, họ đã chờ cậu suốt một tiếng rưỡi đồng hồ rồi. Tại sao cậu chưa từng mong đợi, chưa từng nghĩ đến họ, dẫu cho tin tức họ đã khởi hành, đang trên đường đến và sẽ tới nơi ngay lập tức, mới chỉ được nhắc đi nhắc lại với cậu đúng vào ngày hôm nay? Họ đã dành suốt một tiếng rưỡi đó để gặng hỏi Nastasya đủ điều. Con bé vẫn đang đứng trước mặt họ và đã kể cho họ nghe tất cả mọi chuyện từ đầu đến cuối. Họ hoảng hốt đến phát điên khi nghe kể về việc cậu “bỏ trốn” vào ngày hôm nay trong tình trạng ốm đau và, theo như họ hiểu từ câu chuyện của con bé, là đang mê sảng! “Lạy Chúa tôi, chuyện gì đã xảy ra với nó thế này?” Cả hai đã khóc ngất, cả hai đã quằn quại trong nỗi dằn vặt suốt một tiếng rưỡi đồng hồ ấy.

Một tiếng thét vui sướng, ngất ngây chào mừng sự xuất hiện của Raskolnikov. Cả hai lao về phía cậu. Nhưng cậu vẫn đứng như một thối thây; một cảm giác không thể dung tha bỗng dội thẳng vào cậu như sét đánh ngang tai. Cậu không nhấc tay lên để ôm họ, cậu không thể làm thế. Mẹ và em gái ôm chầm lấy cậu, hôn cậu, vừa cười vừa khóc. Cậu bước một bước, lảo đảo rồi ngã quỵ xuống sàn, bất tỉnh nhân sự.

Sự hoảng loạn, những tiếng thét kinh hoàng, những tiếng rên rỉ... Razumihin đang đứng ở ngưỡng cửa lao vồ lấy căn phòng, chộp lấy thân hình người bệnh trong đôi tay lực điền của mình và chỉ trong tích tắc đã đặt được cậu lên chiếc ghế dài.

“Không có gì đâu, không sao cả!” Hắn hét lên với mẹ và em gái – “chỉ là ngất xỉu thông thường thôi, chuyện nhỏ ấy mà! Mới hồi nãy bác sĩ còn bảo là anh ấy đỡ nhiều lắm rồi, rằng anh ấy hoàn toàn khỏe mạnh cơ mà! Nước đâu! Thấy chưa, anh ấy sắp tỉnh lại rồi, lại đâu vào đấy thôi!”

Và túm lấy cánh tay Dounia đến mức suýt làm trật khớp của cô, hắn bắt cô cúi xuống để nhìn thấy rằng “anh ấy đã ổn lại rồi đấy.” Mẹ và em gái nhìn hắn với nỗi niềm xúc động và biết ơn, cứ như thể hắn chính là vị cứu tinh của đời họ vậy. Họ đã nghe Nastasya kể hết mọi chuyện về những gì mà “cậu thanh niên vô cùng tháo vát” này đã làm cho Rodya của họ trong suốt thời gian ngã bệnh, đúng như lời Pulcheria Alexandrovna Raskolnikov đã gọi hắn trong cuộc trò chuyện với Dounia tối hôm đó.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 17 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.