Bốn Triệu Người

Lượt đọc: 79 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Căn Phòng Trang Bị Đồ Đạc

❊ ❊ ❊

Bồn chồn, đổi dời, thoáng qua như chính thời gian là một bộ phận đông đảo dân cư tại khu nhà gạch đỏ thuộc khu Tây Side hạ lưu. Vô gia cư, họ lại có đến hàng trăm mái nhà. Họ bay từ căn phòng trang bị sẵn đồ đạc này sang căn phòng khác, mãi mãi là những kẻ lữ khách—lữ khách trong chốn ở, lữ khách cả trong tim và trí óc. Họ ngân nga bài “Home, Sweet Home” theo điệu ragtime; họ mang theo gia thần gia tổ trong một chiếc hộp đựng mũ; cây tầm gửi của họ quấn quanh một chiếc mũ vành rộng; còn cây cao su chính là cây vả của họ.

Do đó, những ngôi nhà ở khu này, từng là nơi dung thân của cả ngàn con người, hẳn phải có ngàn câu chuyện để kể, phần lớn chắc hẳn là những chuyện tẻ nhạt; nhưng sẽ thật lạ lùng nếu người ta không thể tìm thấy dăm ba bóng ma phảng phất sau dấu chân của những vị khách lang thang ấy.

Một buổi tối sau khi trời tối, một thanh niên lang thang giữa những dinh thự gạch đỏ đang mục nát ấy, bấm chuông từng nhà. Đến ngôi nhà thứ mười hai, anh đặt hành lý xách tay gầy giơ xương xuống bậc cửa và phủi lớp bụi trên dải băng mũ cùng trán mình. Tiếng chuông vang lên yếu ớt và xa xăm từ những tầng sâu thẳm, trống trải nào đó.

Ra mở cửa ngôi nhà này, căn nhà thứ mười hai mà anh bấm chuông, là một nữ quản gia khiến anh liên tưởng đến một con sâu béo múp míp, độc hại đã gặm hạt dẻ của nó trơ lại một cái vỏ rỗng và giờ đang tìm cách lấp đầy khoảng trống ấy bằng những vị khách trọ có thể ăn được.

Anh hỏi xem có phòng cho thuê không.

“Mời vào,” người quản gia nói. Giọng bà phát ra từ cổ họng; cổ họng bà có vẻ như được lót một lớp lông thú. “Tôi còn phòng phía sau tầng ba, trống từ một tuần trước. Cậu có muốn lên xem không?”

Cậu thanh niên bước theo bà lên cầu thang. Ánh sáng mờ ảo không rõ từ đâu phát ra làm dịu bớt những bóng tối ở các hành lang. Họ bước đi không tiếng động trên một tấm thảm cầu thang mà chính khung cửi dệt ra nó cũng phải chối bỏ. Nó có vẻ đã hóa thành thực vật; đã thoái hóa trong bầu không khí ngột ngạt, thiếu ánh sáng mặt trời ấy thành một lớp địa y tươi tốt hoặc rêu lan rộng mọc từng mảng trên cầu thang và nhầy nhụa dưới chân giống như chất hữu cơ. Tại mỗi khúc cua của cầu thang là những hốc tường trống rỗng. Có lẽ trước kia người ta từng đặt cây cối trong đó. Nếu vậy thì chúng đã chết trong bầu không khí hôi hám và ô uế ấy. Có thể những bức tượng thánh từng đứng ở đó, nhưng không khó để tưởng tượng rằng lũ yêu tinh và quỷ dữ đã lôi chúng ra trong bóng tối và kéo xuống những tầng sâu ô uế của một cái hố trang bị đồ đạc nào đó bên dưới.

“Đây là phòng,” người quản gia cất giọng bằng cái cổ họng phủ lông của mình. “Đây là một căn phòng đẹp. Nó hiếm khi trống lắm. Mùa hè năm ngoái tôi có dăm vị khách vô cùng lịch sự ở đây—chẳng phiền hà gì cả, lại trả tiền trước đến từng phút. Phòng tắm ở cuối hành lang. Vợ chồng Sprowls và Mooney đã thuê nó ba tháng. Họ diễn một tiểu phẩm tạp kỹ. Cô B’retta Sprowls—cậu có thể từng nghe danh cô ấy—Ồ, đó chỉ là nghệ danh thôi—ngay trên chiếc tủ đựng quần áo kia là nơi treo khung giấy chứng nhận kết hôn. Ồ cắm lò sưởi ở đây, và cậu thấy đấy có rất nhiều chỗ để tủ quần áo. Đây là căn phòng ai cũng thích. Nó chẳng bao giờ để trống lâu đâu.”

“Bà có nhiều người làm nghệ thuật trọ ở đây không?” cậu thanh niên hỏi.

“Họ cứ đến rồi đi. Phân sói khách trọ của tôi có dính dáng đến các nhà hát. Vâng, thưa cậu, đây là khu vực nhà hát. Mấy người làm nghề diễn viên chẳng ở đâu lâu cả. Tôi cũng có phần của mình chứ. Vâng, họ đến rồi đi.”

Anh thuê căn phòng, trả tiền trước một tuần. Anh nói mình mệt và sẽ dọn vào ở ngay. Anh đếm tiền giao đủ. Bà ta bảo căn phòng đã được chuẩn bị sẵn sàng, từ khăn tắm cho đến nước nôi. Khi người quản gia bước đi, anh lại thốt lên, lần thứ một nghìn, câu hỏi vẫn luôn thường trực trên đầu lưỡi.

“Một thiếu nữ—cô Vashner—cô Eloise Vashner—bà có nhớ vị khách nào như thế trong số những người trọ đây không? Khả năng cao cô ấy đi hát trên sân khấu. Một cô gái da trắng, chiều cao trung bình và mảnh khảnh, tóc vàng ánh đỏ và có một nốt ruồi đen gần chân mày trái.”

“Không, tôi không nhớ cái tên đó. Mấy người làm sân khấu ấy đổi tên liên tục như đổi phòng. Họ đến rồi đi. Không, tôi không nhớ ra người đó.”

Không. Luôn luôn là không. Năm tháng gặng hỏi không ngừng nghỉ và câu trả lời phủ định là điều không thể tránh khỏi. Biết bao thời gian ban ngày dành ra để dò hỏi các giám đốc, bầu sô, trường học và các đoàn hợp xướng; ban đêm chen lấn giữa những khán giả tại các nhà hát từ dàn diễn viên ngôi sao cho đến những quán ca m nhạc bình dân đến mức anh sợ hãi việc tìm thấy thứ mà mình hằng mong ước nhất. Người yêu thương cô nhất đã tìm kiếm cô. Anh chắc chắn rằng kể từ khi cô biến mất khỏi nhà, thành phố lớn được bao bọc bởi sông nước này đang giấu cô ở đâu đó, nhưng nó giống như một bãi cát lún quái ác, các hạt cát không ngừng dịch chuyển, chẳng có lấy một nền móng, những hạt cát ở tầng trên hôm nay ngày mai đã bị vùi lấp trong bùn lầy nhầy nhụa.

Căn phòng trang bị đồ đạc đón vị khách mới nhất bằng một tia sáng giả tạo của lòng hiếu khách, một sự chào đón cuồng nhiệt, hốc hác, chiếu lệ giống như nụ cười sượng sùng của một ả giang hồ gác tía. Sự thoải mái ngụy biện ấy tỏa ra từ những món đồ nội thất đã mục nát, từ lớp vải bọc gấm rách rưới của một chiếc ghế dài và hai chiếc ghế bành, từ chiếc gương soi toàn thân rẻ tiền rộng một gang tay treo giữa hai khung cửa sổ, từ một vài khung tranh dát vàng và một chiếc giường sắt trong góc phòng.

Vị khách nằm vật ra, phờ phạc, trên một chiếc ghế, trong khi căn phòng với thứ ngôn ngữ hỗn độn như thể một căn hộ ở tháp Babel, cố gắng kể lể với anh về những đời khách trọ muôn hình vạn trạng của nó.

Một tấm thảm nhiều màu sắc trông giống như một hòn đảo nhiệt đới hình chữ nhật rực rỡ hoa lá nằm lọt thỏm giữa một vùng biển nhấp nhô những chiếu trải sàn bẩn thỉu. Trên bức tường dán giấy hoa sặc sỡ là những bức tranh chuyên bám theo những kẻ vô gia cư từ nhà này sang nhà khác—Đôi tình nhân Huguenot, Cuộc cãi vã đầu tiên, Bữa sáng ngày cưới, Psyche bên đài phun nước. Đường viền thanh nghiêm đến mức khắc khổ của chiếc lò sưởi bị che khuất một cách kệch cỡm đằng sau lớp vải rủ xấc xược kéo xộc xệch như dải băng của đội múa ba lê nữ chiến binh. Trên đó là một vài món đồ trôi dạt hoang tàn bị bỏ lại bởi những kẻ đắm tàu trong căn phòng khi một cánh buồm may mắn đưa họ đến bến bờ mới—một hay hai chiếc bình hoa nhỏ xíu, ảnh các nữ diễn viên, một lọ thuốc, vài lá bài thất lạc khỏi một cỗ bài.

Từng chút một, giống như các ký tự của một bản mật mã dần trở nên rõ ràng, những dấu hiệu nhỏ do chuỗi khách trọ để lại bắt đầu bộc lộ ý nghĩa. Khoảng thảm mòn vẹt trước bàn trang điểm kể rằng những người phụ nữ kiều diễm từng bước qua đám đông. Những dấu vân tay nhỏ xíu trên tường nói lên hình ảnh những tù nhân nhỏ bé đang cố dò dẫm tìm đường ra ánh nắng và bầu trời. Một vết bẩn bắn tung tóe, tỏa ra như bóng dáng của một quả bom phát nổ, làm chứng cho nơi một chiếc ly hoặc cái chai bị ném vỡ tung tóe cùng chất lỏng bên trong vào tường. Ngang qua tấm gương soi toàn thân, người ta dùng kim cương khắc nguệch ngoạc những chữ cái xiêu vẹo dòng tên “Marie”. Có vẻ như những đời khách trọ nối tiếp nhau trong căn phòng đã quay sang giận dữ—có lẽ vì bị khiêu khích vượt quá giới hạn bởi vẻ lạnh lùng lòe loẹt của nó—và trút mọi cơn thịnh nộ lên đó. Đồ đạc sứt mẻ và bầm dập; chiếc ghế dài với những lò xo bung bét trông giống như một con quái vật gớm ghiếc đã bị hạ sát trong cơn co giật quái đản nào đó. Một biến động mạnh mẽ hơn đã tiện đứt một mảng lớn khỏi chiếc lò sưởi bằng đá cẩm thạch. Mỗi tấm ván sàn nhà đều cất lên tiếng càu nhàu và kêu cót két đặc trưng như thể chịu đựng một nỗi đau đớn riêng biệt, cá nhân. Thật khó tin là tất cả sự ác ý và tổn thương này lại giáng xuống căn phòng bởi chính những kẻ từng gọi nơi đây là mái nhà trong một khoảng thời gian; và dẫu vậy, đó có lẽ là bản năng gia đình bị lừa dối vẫn âm ỉ tồn tại một cách mù quáng, là cơn giận hờn oán trách đối với những vị thần gia đình giả dối đã nhen nhóm ngọn lửa thịnh nộ trong họ. Một mái tranh dù là của riêng ta, ta vẫn có thể quét dọn, trang hoàng và nâng niu.

Cậu thanh niên ngồi trên ghế để mặc những suy nghĩ ấy lướt qua tâm trí một cách nhẹ nhàng, trong khi lọt vào căn phòng là những âm thanh và hương thơm đậm chất phòng trọ. Anh nghe thấy ở phòng bên tiếng cười khúc khích và vô liêm sỉ, lả lơi; ở những phòng khác là tiếng mắng mỏ độc thoại, tiếng xúc xắc lách cách, tiếng ru con, và tiếng ai đó khóc nghẹn ngào; phía trên anh, tiếng đàn banjo vang lên đầy hứng khởi. Đâu đó những cánh cửa đóng sầm lại; những đoàn tàu điện trên cao gầm rú từng hồi; một con mèo kêu thảm thiết trên hàng rào phía sau. Và anh hít thở bầu không khí của ngôi nhà—một thứ hơi ẩm mốc chứ không hẳn là mùi hương—một thứ mùi tanh lạnh, mốc meo như từ những hầm ngầm pha lẫn với hơi bốc lên nồng nặc từ vải sơn lót sàn và những món đồ gỗ mục nát, ẩm mốc.

Rồi đột nhiên, khi anh đang nghỉ ngơi ở đó, căn phòng ngập tràn hương thơm ngọt ngào, nồng nàn của hoa mộc tê. Nó ập đến như trong một đợt gió thốc với sự chắc chắn, ngát hương và đầy điểm nhấn đến mức suýt chút nữa khiến người ta tưởng đó là một vị khách sống động. Và người đàn ông thốt lên thành tiếng: “Gì thế em?” như thể mình vừa được gọi, rồi vùng đứng dậy quay ngoắt lại. Hương thơm nồng nàn bám lấy và ôm trùm lấy anh. Anh với tay ra khoảng không, mọi giác quan lúc bấy giờ đều rối bời và hòa quyện vào nhau. Làm sao một người có thể bị gọi một cách gấp gáp bởi một làn hương chứ? Chắc chắn đó phải là một âm thanh. Nhưng, chẳng phải đó là âm thanh đã chạm vào, đã ve vuốt anh sao?

“Em đã ở trong căn phòng này,” anh kêu lên, và anh lao tới để giật lấy một kỷ vật từ nó, vì anh biết mình sẽ nhận ra dù chỉ là món đồ nhỏ nhất từng thuộc về cô hoặc từng được cô chạm vào. Hương thơm hoa mộc tê bao trùm này, thứ hương thơm mà cô từng yêu và biến thành của riêng mình—nó từ đâu tới?

Căn phòng chỉ vừa được dọn dẹp qua loa. Rải rác trên tấm khăn trải bàn mỏng manh là nửa tá kẹp tóc—những người bạn kín đáo, không thể phân biệt của phái nữ, thuộc giống cái, ở mọi trạng thái vô định và không chịu hé lộ thời gian. Anh phớt lờ chúng, hoàn toàn nhận thức được sự thiếu vắng danh tính đầy trơ trẽn của chúng. Lục lọi các ngăn kéo của bàn trang điểm, anh tìm thấy một chiếc khăn tay nhỏ xíu, rách rưới đã bị vứt bỏ. Anh ép nó vào mặt mình. Nó nồng nặc và xấc xược mùi hoa vòi voi; anh vứt phăng nó xuống sàn. Ở một ngăn kéo khác, anh tìm thấy những chiếc cúc áo lẻ loi, một chương trình biểu diễn sân khấu, một chiếc thẻ của hiệu cầm đồ, hai viên kẹo dẻo marshmallow bị bỏ quên, một cuốn sách về thuật bói giấc ngủ. Ở ngăn cuối cùng là một chiếc nơ cài tóc bằng sa đen của phụ nữ, thứ khiến anh khựng lại, lơ lửng giữa băng giá và lửa. Nhưng chiếc nơ cài tóc bằng sa đen ấy cũng chỉ là món đồ trang trí khiêm nhường, vô danh, phổ biến của phái nữ, và chẳng kể lại câu chuyện nào cả.

Và rồi anh sục sạo căn phòng như một con chó săn theo dấu, lướt dọc chân tường, xem xét từng góc của tấm chiếu trải sàn phồng lên trong tư thế bò quỳ, lục tung lò sưởi và bàn ghế, rèm cửa và các vật dụng treo, chiếc tủ xiêu vẹo trong góc, để tìm một dấu hiệu hữu hình, không thể nhận ra rằng cô đang ở ngay bên cạnh, xung quanh, áp sát, bên trong, phía trên anh, đang bám lấy anh, đang vỗ về anh, đang gọi anh một cách đầy thổn thức qua những giác quan tinh tế nhất để ngay cả những giác quan thô kệch nhất của anh cũng phải nhận thức được tiếng gọi ấy. Một lần nữa anh lớn tiếng đáp lời: “Vâng, em yêu!” và quay phắt lại, với đôi mắt dại đi, để ngước nhìn khoảng không trống rỗng, vì anh vẫn chưa thể nhận diện được hình hài, màu sắc, tình yêu và đôi bàn tay đang rộng mở trong làn hương hoa mộc tê ấy. Ôi Chúa ơi! Từ đâu mà có thứ hương thơm ấy, và từ bao giờ mà hương thơm lại có tiếng nói để cất lời gọi? Cứ thế anh mày mò trong vô vọng.

Anh sục sạo trong các khe nứt và góc khuất, để rồi chỉ tìm thấy những nút chai và đầu mẩu thuốc lá. Anh phớt lờ chúng bằng thái độ thờ ơ, thụ động. Nhưng có lần anh tìm thấy trong nếp gấp của chiếu trải sàn một điếu xì gà hút dở, và anh giẫm nát nó dưới gót giày cùng một lời thề độc địa, xanh mét. Anh lọc lựa căn phòng từ đầu này đến đầu kia. Anh tìm thấy những dấu tích nhỏ bé, tẻ nhạt và hèn mọn của biết bao đời khách trọ du mục; thế nhưng về người mà anh đang tìm kiếm, người có lẽ từng trọ ở đây, và có linh hồn dường như đang vương vấn nơi này, anh chẳng tìm thấy chút dấu vết nào.

Và rồi anh nghĩ đến người quản gia.

Anh chạy từ căn phòng bị ma ám xuống dưới nhà và tiến đến cánh cửa đang hở một khe sáng nhỏ. Bà ta bước ra tiếng gõ cửa của anh. Anh cố nén sự kích động xuống mức thấp nhất có thể.

“Xin bà cho biết,” anh khẩn khoản, “ai là người đã thuê căn phòng của tôi trước khi tôi đến?”

“Vâng, thưa cậu. Tôi có thể nói lại lần nữa. Đó là vợ chồng Sprowls và Mooney, như tôi đã nói. Cô B’retta Sprowls là tên cô ấy dùng trên sân khấu, nhưng cô ấy là bà Mooney. Nhà tôi nổi tiếng là đán hoàng. Giấy chứng nhận kết hôn được treo có lộng khung trên một chiếc đinh ở—”

“Cô Sprowls là người thế nào—ý tôi là về ngoại hình ấy?”

“À, tóc đen, thưa cậu, thấp và mập mạp, với một khuôn mặt buồn cười. Họ rời đi vào thứ Ba tuần trước.”

“Và trước khi họ thuê thì sao?”

“À, có một vị khách nam độc thân làm nghề vận tải bằng xe ngựa. Cậu ta rời đi mà còn thiếu tôi tiền phòng một tuần. Trước cậu ta là bà Crowder và hai đứa con, ở lại trong bốn tháng; và trước họ nữa là cụ ông Doyle, có các con trả tiền thay. Cụ thuê phòng được sáu tháng. Tính ra là đã một năm rồi đấy, thưa cậu, còn xa hơn nữa thì tôi không nhớ.”

Anh cảm ơn bà và lê bước trở lại phòng mình. Căn phòng đã chết. Bản chất từng làm nó hồi sinh đã biến mất. Hương hoa mộc tê đã phảng phất bay đi. Thay vào đó là mùi cũ kỹ, hôi hám của đồ đạc ẩm mốc trong nhà, của bầu không khí bị nén đọng lâu ngày.

Sự lụi tàn của niềm hy vọng đã rút cạn niềm tin trong anh. Anh ngồi trân trân nhìn ngọn đèn gas màu vàng đang réo xì xèo. Chẳng mấy chốc, anh bước đến giường và bắt đầu xé ga giường thành từng dải. Dùng lưỡi dao nhỏ, anh nhét thật chặt chúng vào mọi khe hở quanh cửa sổ và cửa ra vào. Khi mọi thứ đã khít khao và căng cứng, anh tắt đèn, vặn van gas mở hết cỡ trở lại rồi ngả mình lên giường với một niềm biết ơn.

Đó là đêm bà McCool phải đi xách bình đi mua bia. Thế là bà mang bia về và ngồi với bà Purdy trong một trong những căn hầm ngầm nơi các bà quản gia tụ họp và con sâu rúc rỉa chẳng bao giờ chết.

“Tối nay tôi vừa cho thuê căn phòng phía sau tầng ba rồi đấy,” bà Purdy nói qua một lớp bọt bia đẹp mắt. “Một thanh niên đã thuê nó. Cậu ta lên giường đi ngủ từ hai tiếng trước rồi cơ đấy.”

“Thế á, bà Purdy thân mến?” bà McCool thốt lên với vẻ ngưỡng mộ tột cùng. “Bà quả thực là một tay cự phách trong việc cho thuê mấy cái phòng kiểu đó nhỉ. Thế rồi bà có kể cho cậu ta nghe không đấy?” bà kết luận bằng một giọng thì thầm khàn đặc, đầy vẻ huyền bí.

“Phòng ốc,” bà Purdy đáp bằng cái giọng khàn đặc nhất của mình, “sinh ra là để cho thuê. Tôi chẳng đời nào kể đâu, bà McCool ạ.”

“Bà nói chuẩn đấy, thưa bà; nhờ có việc cho thuê phòng mà chúng ta mới sống nổi chứ. Bà đúng là có con mắt kinh doanh nhạy bén thật đấy, thưa bà. Khối kẻ sẽ nguầy nguẩy từ chối thuê phòng nếu nghe người ta kể rằng có kẻ vừa tự sát chết trên chiếc giường trong đó đấy.”

“Như bà nói đấy, chúng ta còn phải kiếm sống qua ngày mà,” bà Purdy nhận xét.

“Vâng, thưa bà; đúng thế đấy. Đúng đúng một tuần vào hôm nay là ngày tôi giúp bà liệm xác cái cô ở phòng sau tầng ba đấy. Con bé trông xinh xắn làm sao thế mà lại đi tự sát bằng gas—nó có khuôn mặt ngọt ngào biết mấy, bà Purdy thân mến ạ.”

“Nó cũng được coi là xinh đẹp, đúng như bà nói,” bà Purdy vừa đồng tình vừa phán xét, “nếu không vì cái nốt ruồi mọc ngay cạnh chân mày trái của nó. Nào, rót đầy lại cốc đi chứ, bà McCool.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.