Cùng mấy người bạn ở cơ quan, vào công tác tại Nghệ An, tôi ghé về thăm nhà. Vừa đến ngõ, mấy đứa cháu đã chạy ra báo tin: “Bà ốm năng, chú ạ”. Tôi rụng rời chân tay, chạy thẳng vào giường mẹ năm.
- Mẹ ơi! Tôi òa khóc, ngồi bên cạnh mẹ.
- Trực à, con... Mẹ vẫn tỉnh táo. Có lẽ nghe tiếng tôi, mẹ mới tỉnh đến thế.
Từ ngày thoát ly gia đình, ra Hà Nội làm việc, năm nào tôi cũng về thăm quê - nói đúng hơn là về thăm mẹ. Mọi quan hệ họ hàng làng xóm bị đổ vỡ rất nhiều qua những cuộc đấu đá, nghi kỵ, xoi mói nhau, tôi càng thấy yêu thương làng quê hơn, càng thấy thương mẹ hơn. Cha tôi mất năm năm trước, mẹ mất đi một nửa cuộc đời, niềm vui còn lại một nửa, ý nghĩa cuộc đời còn lại một nửa. Tôi muốn bù vào cho mẹ chỗ mất mát đó bằng sự biểu hiện cụ thể sự chăm sóc những ngày còn lại ngắn ngủi của mẹ. Năm nay mẹ đã tám mươi ba tuổi, đến cái tuổi ấy cũng đã thọ lắm rồi, nhưng giá như... không còn mẹ nữa... tôi sẽ còn lại cái gì ở mảnh đất yêu dấu này? Tôi chỉ còn lại nỗi cô đơn, nỗi bơ vơ, nỗi nuối tiếc...
Nghĩ vơ vẩn, tôi không cầm được nước mắt. Mẹ nằm lặng bên tội. Vẫn cái giường ấy, mẹ nằm suốt cả một cuộc đời. Từ khi lên năm lên bảy, tôi đã thấy cái giường này rồi, ít ra nó cũng có mặt trong gia đình tôi hơn nửa thế kỷ. Bốn thang gỗ và bốn chân ghép lại với nhau bằng mộng vững chắc. Gỗ đã lì mòn, nhẵn thín. Cái góc giường phía sát tường kia, tôi nhớ lắm, hồi nhỏ tôi ngồi nghịch bên cạnh mẹ đang may vá, tôi ngã xuống đất, trán vập vào góc giường chảy máu. Mẹ xuýt xoa, lo lắng. Mẹ cầm con dao gọt góc giường cho tròn lại... Có phải không, đây là chiếc giường tân hôn của cha mẹ? Và những ngày cuối cùng của đời mình, mẹ vẫn nằm trên chiếc giường ấy.
Ở góc bếp, cái vại cà vẫn để nguyên tại đó đến hàng mấy thập kỷ, lì lợm, bất di bất dịch, bụi bám đen xỉn. Tôi đến mở vại cà, vẫn y xì như vại cà của hàng vạn gia đình nông dân Nghệ - Tĩnh tồn tại đến hàng may thế kỷ: hòn đá hình vuông tròn đè nặng trên cái vị đan bằng tre, dưới cái vỉ là những quả cà để lưu cữu hàng năm, nước đen ngòm, dăm ba con dòi bò lúc nhúc. Đó là nguồn thực phẩm dự trữ chủ yếu ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác. Bình thường, mỗi bữa ăn mẹ tôi bốc ra một bát cà. Sang trọng hơn một chút, mẹ rửa sạch những quả cà rồi xào với mỡ. Cái vị mặn lâu ngày được ngấm mỡ tạo ra một vị ngon đặc biệt của quê kiểng. Xa nhà lâu ngày, tôi thấy nhớ món cà muối xào mỡ. Biết ý thích của tôi, mỗi lần về thăm nhà, thế nào mẹ cũng làm món ăn này cho tôi.
Trọn một đời mẹ vật lộn với đất đai và một phần đời của mẹ tham gia việc làng việc xóm việc đoàn thể với bao nhiêu khát vọng, đến nay sắp vĩnh viễn nhắm mắt, cái giường lì mòn vẫn nằm đó, cái vại cà đen ngòm vẫn nằm đó. Gia tài mẹ còn lại những gì để trao cho con?
Khi còn khỏe mạnh, mẹ lo được cái cỗ hậu sự để đỡ phiền cho con cháu lúc nhắm mắt. Mẹ còn gì nữa? Còn bộ quần áo nâu sờn mặc trong người. Và trong cái túi áo nâu kia chẳng có đồng xu dính túi. Con trao mẹ một ít tiền, mẹ cầm. Con trao mẹ một gói kẹo, mẹ cầm. Con biết chắc chắn rằng số tiền đó sẽ nằm im trong túi, khi mẹ tắt thở rồi, mấy đứa con sẽ lục tìm để góp vào việc tang chay. Còn gói kẹo? Mẹ có ăn được kẹo nữa đâu. Các cháu đến chơi, đến chăm sóc bà, bà sẽ cho mỗi đứa vài ba cái kẹo trước khi bà mãi mãi xa cháu...
Dường như có điều gì băn khoăn, mẹ định nói, lại thôi... Mẹ giơ bàn tay cầm tay tôi. Chao ôi, cái bàn tay của mẹ xương xẩu, nhăn nheo nắm lấy tay tôi, lạnh buốt. Mắt mẹ nhìn tôi vừa mệt
mỏi vừa như muốn phân trần:
- Mẹ chẳng có gì để lại cho con... Tôi vô ý buột miệng:
- Cho con đôi hạc đồng ngậm hoa sen, con đem ra Hà Nội lập bàn thờ để các cháu nhớ đến tổ tiên, ông bà bên nội.
Mẹ lắc đầu: - Bán hồi “thuế khả năng” rồi con ạ... - Thế con xin mẹ cái mâm đồng cũng được. - Mâm đồng bán hồi “thuế khả năng” rồi...
• Chẳng cần đâu mẹ ạ... Con cầm đi vài cái bát đĩa cổ để các cháu nhớ đến ông bà, đến quê hương...
- Cũng bán hết hồi “thuế khả năng” rồi... Mẹ không đủ sức để lắc đầu nữa. Mẹ vẫn im lặng nhìn tôi, vừa đượm chút xót xa vừa đượm chút ân hận, Nước mắt mẹ đa ra và lăn xuống làn da nhăn nheo như vỏ quả thị héo. Tôi cũng không đủ can đảm nấc lên thành tiếng, nước mắt từ từ ứa ra. Tôi cắn môi và cố nuốt tiếng khóc vào người. Cái đêm hôm ấy xa rồi, tôi nhớ lại như in... Nông Hội họp, chú Văn mắt toét nói: “Ngày mai bà Đoan không nộp đủ hai tạ thuế khả năng thì sẽ lấy vồ đập trên đầu cho mồm ga”. Nửa đêm, cha mẹ tôi khiêng cái hòm đựng đồ cổ xuống... Thì ra cha mẹ tôi đã đem bán đồ tế tự và đồ cổ từ hồi ấy. Tôi cứ nghĩ là chỉ bán một ít, ai ngờ bán sạch sành sanh cả hạc đồng, mâm đồng, bát đĩa cổ. Tôi đã vô ý hỏi mẹ, xin xỏ mẹ để mẹ tôi mẹ buồn. Tôi day dứt mãi về những lời xin xỏ ấy.
Tôi cảm thấy tức ngực, ngạt thở, đứng dậy ra vườn vươn vai, rồi quay vào.
- Con... - Da...
Mẹ ra hiệu cho tôi cúi sát đầu xuống để mẹ nói một điều bí mật:
- Hằng năm ngày giỗ mẹ, con cũng đúng ngày mẹ mất, đừng cúng theo ngày quy định của hợp tác xã. Con chớ làm mâm cỗ, chi bộ biết sẽ phê bình, con chỉ cần múc chén nước trắng và thắp hương cho mẹ đúng ngày mẹ mất...
Tôi ngẩn người, ngực nấc liên hồi... Từ ngày thành lập hợp tác xã, để khỏi mất thì giờ sản xuất, chi bộ ra quyết nghị không cho các gia đình cúng giỗ lẻ tẻ, mà cả làng mỗi năm chỉ được cúng giỗ vào hai ngày sau khi thu hoạch vụ chiêm và vụ mùa... Lúc đang sống thì mẹ tuân theo nghị quyết của chi bộ, lúc nằm xuống mồ mẹ mới dám chống lại nghị quyết...
Tôi định ở nhà sống với mẹ những ngày cuối cùng của đời mẹ. Nhưng mẹ giục tôi đi: “Con cứ lo công tác cho tốt. Mẹ chưa chết đâu. Khi nhỡ ra có làm sao thì em nó đánh điện cho con về...” Mồng bày tết Nguyên Đán, tôi nhận được điện “Mẹ sắp chết. Về ngay”, vội vàng ra bến xe Kim Liên mua vé ô tô. Nhưng về đến nhà thì việc an táng mẹ đã xong. Hoàng hôn, tôi mặc áo đại tang đi ra đồng. Trước mặt tôi là một nấm đất, là sự vĩnh hằng của tạo hóa... Cũng như bao bà cụ khác trong làng, mẹ nhẫn nhục, chịu thương chịu khó, đổ mồ hôi nuôi đất rồi lại trở về với đất. Cái đau là cái đau chung mà mỗi con người sống trên đời này đều phải nhận lấy, nhưng khi nó đã biểu hiện thành cái đau cụ thể, thành bà mẹ của mình nằm trong áo quan, thành nấm đất chưa xanh cỏ, thì nỗi đau càng thấm thía gấp ngàn lần.
Bạn bè của mẹ thời trẻ sum vầy trong gian nhà chật, trước bàn thờ có ảnh mẹ. Bà Bằng, bà cu Yêm hoạt động từ hồi Xô Viết Nghệ Tĩnh. Bà Đường, bà Vân, bà Tô, bà Nhuyên, bà Luyên... cùng mẹ xây dựng hội Mẹ Chiến Sĩ. Họ chẳng than phiền gì về cảnh nghèo túng hiện tại, họ chỉ kể lại những điều tốt đẹp về mẹ. Chóng thật, cuộc đời một con người quá chóng vánh. Mới ngày nào mẹ cắt tóc ngắn, mặc quần đùi của cha, giắt liềm bên hông, tham gia các cuộc biểu tình, lăn vào các cuộc hội họp, rồi được kết nạp vào Đảng. Những ước mơ bồng bột, cháy bỏng một thời như cây hớn hở đơm lộc mùa xuân, cứ tàn héo dần, để cuối cùng mẹ trở về với vại cà đen ngòm và chiếc giường cũ kỹ, lì mòn, xộc xệch.
Và, đây nữa, cậu Huy, dì Điện đều có mặt trong ngày tam nhật. Lòng con ấm dần lại với tình thương gia tộc. Mẹ mất, con ngỡ như mình vĩnh viễn từ giã thời thơ bé, có ngờ đâu con lại tìm thấy chỗ ẩn nấp của tuổi thơ. Nhớ lời mẹ dặn: “Mỗi lần về quê, con đừng quên thắp hương lên bàn thờ ông bà ngoại...”. Lần này, về chịu tang mẹ, con không quên điều đó.
Sau ngày tam nhật, theo cậu theo dì con sang quê ngoại. Hàng chục năm trời, biền biệt trên dặm đường công tác, quấn quýt trong tình cảm bè bạn và đồng chí. Bao nhiêu va chạm. Bao nhiêu xô xát. Bao nhiêu vỡ lở. Bao nhiêu thương tích. Hầu như mình lãng quên dần mối tình huyết tộc, bỗng hôm nay trở về như giọt máu tha hương chảy về tim.
Lâu ngày có cháu về thăm, cậu và dì soạn mâm cơm cúng tổ tiên. Con thay mặt mẹ cha thắp hương lên bàn thờ. Cái bàn thờ sao xơ xác đến vậy. Trước kia, mỗi lần theo mẹ về quê ngoại ăn giỗ, con thấy vô cùng ấm cúng sự sum họp bà con họ hàng trước bàn thờ linh thiêng. Cọc đèn lung linh ánh nến. Ngai đặt bài vị sơn son thếp vàng. Lư hương đồng nghi ngút khói nhang.
Chiếc mâm bồng màu đỏ đặt nậm rượu và bộ chén bạch định. Chiếc mâm chè đặt nải chuối vàng au... Tất cả những gì thuộc về lễ nghi đã truyền vào cho tôi một tình cảm rất đỗi thiêng liêng đối với tiền nhân, một tình cảm rất tha thiết gắn bó với ông bà, cha mẹ, cậu, dì và mọi người trong gia tộc. Những đồ tế khí ấy đâu rồi? Sao chỉ còn trơ trụi một cái án thư tróc sơn. Trên án thư đặt chiếc bát đàn sứt miệng đổ đầy cát và cắm lựa thưa mây nén nhang.
Cậu Huy đứng trước bàn thờ. Cậu không đội khăn xếp, không mặc áo dài đen, mà chỉ mặc chiếc áo nâu quày cụt. Cậu không khấn, mà chỉ chắp tay vải ba vái. Tôi đứng bên cạnh cậu, cùng chắp tay vái...