Đền thờ Bạch Y Thần trở thành địa điểm của những họp lớn. Thượng điện biến thành kho phân, luôn luôn bốc lên một mùi hôi thối. Hạ điện là nơi họp, bốn góc nhà bị trẻ em nghịch ngợm đái, nước tiểu thấm vào tường xông lên mùi khai nồng nặc, Dạo này liên miên đêm nào cũng họp, toàn là những cuộc họp quan trọng, người ngồi chật ních cả ba gian.
Rét. Đói, Mưa dầm. Người dự họp vẫn đông. Họp để vạch mặt những người man khai thuế nông nghiệp, để đấu tranh với những người không chịu nộp thuế nông nghiệp, dần dần phát hiện ra “bọn phản động phá hoại sự nghiệp cách mạng” - gọi là đấu tranh chính trị.
Có hai ngọn đèn dầu hỏa: một ngọn đặt ở bàn chủ tọa, một ngọn đặt giữa hội trường. Ánh sáng rất mờ chỉ đủ hiện lên những cái đầu lố nhố. Xung quanh ngọn đèn, chừng mươi khuôn mặt hiện ra có thể nhìn thấy được • vốn những khuôn mặt này đã gày gò và nhuốm màu lam lũ, ánh sáng đèn ăn vào càng làm cho khuôn mặt hốc hác.
Khác với những cuộc họp trước đây, không khí hội trường có vẻ nghiệm hơn, nặng hơn. Người ta im lặng chờ đợi một cái gì rất quan trọng đang nhích đến từng phút từng giây như đoàn người kéo gỗ không có con lăn làm đà, gỗ nhích đi từng ly từng tí, mệt mỏi biết đường nào!
Đồng chí chủ tọa tuyên bố: “Các chiến sĩ ta đang đổ xương đổ máu ngoài chiến trường để giành độc lập, tự do, hạnh phúc cho toàn dân, thì có một thiểu số phần tử ở hậu phương rất là cá nhân ích kỷ, man khai thuế nông nghiệp, chui chui rúc rúc như chuột nhắt. Đồng bào ta phải đoàn kết, triệu người như một, đấu tranh với những phần tử phi chính trị, phi lập trường giai cấp, phi ái quốc, phi hòa bình để thúc đẩy công cuộc kháng chiến, kiến quốc chóng đến thắng lợi hoàn toàn. Nếu chúng ta không tố giác, không đấu tranh với những phần tử đó thì các chiến sĩ ta càng đổ nhiều xương máu, hòa bình thế giới sẽ bị đe dọa. Bà con ta đồng tâm nhất trí đào tận gốc trốc tận rễ những phần tử trốn thuế nông nghiệp như đập vỡ ổ rắn độc”. Chủ tọa buổi họp là ông cu Đình xóm Tây, nói lưu loát một mạch, không ngắc ngứ chỗ nào. Ông nói trơn tru như đọc, nhưng lại không phải là học sinh đọc bài, mà dõng dạc, oai nghiêm, có khi ông thét lên, có khi ông nghiến răng lại. Nhờ có khoa nói mà ông được cử làm bí thư Nông Hội xã. Đêm nay, người ta cử ông làm chủ tọa vì cần có một người điều khiển cuộc họp biết nói năng hoạt bát, hùng hồn.
Ông nói xong, hội trường im như chết. Ngọn đèn im phăng phắc. Hàng chục bóng người im phăng phắc. Hàng chục cái đầu im phăng phắc. Cái im lặng này rờn rợn như thời tiết trước khi nổ ra giông bão.
“Nào? Mời bà con tố giác! Nếu không tố giác hết phần tử này, chiến sĩ ta ngoài mặt trận sẽ không có súng đạn, không có cơm ăn áo mặc để đánh giặc, bà con ở hậu phương sẽ đói khát, bọn phản động quốc tế sẽ tấn công lại ta và phá hoại sự nghiệp độc lập, tự do, hạnh phúc của ta”, ông cu Đình lại tiếp tục nói. Hội trường lại vẫn im như chết. Ông có vẻ bất bình với cái tập thể im lặng trước mặt ông. Ông đứng lên, lại ngồi xuống, nhìn vào nhóm người này, lại nhìn vào nhóm người kia. Tiếp đó, ông kéo một hơi thuốc lào rất dài, tiếng kêu sòng sọc của ống điếu là âm thanh duy nhất vang lên trong lúc này.
Hội trường vẫn im như chết.
- Không ai nói thì tôi chim mồi trước - ông cu Đình giơ cao nắm tay - Bà Hinh, ông Khang đã nộp thuế chưa? Ban thuế trả lời cho biết. Ai ở trong ban thuế, đứng lên trả lời!
- Chưa nộp! Như lửa đã châm được mồi, ông cu Đình gằn giọng: - Bà Hinh, ông Khang lên đây!
Chủ tọa và mọi người quay đầu nhìn xung quanh tìm bà Hinh, ông Khang, không thấy đâu cả. Chủ tọa cu Đình lại hỏi:
- Bà Hinh, ông Khang có mặt ở đây không?
Không một tiếng trả lời. Hội trường im như chết. Bỗng có người cất giọng cà lăm:
- Ông... ông... ông... Khang... Khang... ngồi cạnh... cạnh tôi... Còn bà... bà... Hinh ngồi ở... ở... ở... ở... cột đầu... đầu... kia! Chủ tọa đập bàn rất mạnh. Chiếc đèn dầu hỏa nhảy lên, rồi tắt. Cả hội trường giật mình.
- Ông Khang, bà Hinh lên đây ngay! Chống lại chế độ à? Sao không lên tiếng? Lên đây ngay.
Hai bóng người từ phía dưới đi lên, dáng lom khom, sợ sệt. Đây là hai gia đình tương đối có máu mặt trong làng, gọi là có máu mặt vì có nhà ngói, sân gạch. Lâu nay họ dây dưa việc nộp thuế và cũng không tham gia đầy đủ việc làng việc xã. Nhưng không ai đối xử nặng lời với họ. Lần đầu tiên họ bất ngờ bị ông cu Đình quát thẳng vào mặt, không kịp phản ứng, mà tỏ ra lo sợ, ngoan ngoãn tuân theo sự điều khiển của ông.
Hai người bước đến gần bàn chủ tọa, cúi đầu.
- Bước lên bước nữa. Quay mặt xuống. Đứng chồng đít vào bà con dân làng là vô lễ, vô phép tắc.
Ông cu Đình lại quát. Họ giật bắn người, toát mồ hôi mặc dầu trời đang rét.
- Hai người có biết không, sự nghiệp kháng chiến kiến quốc đang bước vào giai đoạn quyết liệt. Các chiến sĩ ta đang ăn sương nằm gió, đổ xương đổ máu để giành lại độc lập cho non sông đất nước mà các người lại tiếc hạt gạo hạt thóc. Các người rất là vô ơn bội nghĩa. Các người đã phản lại sự nghiệp kháng chiến kiến quốc, phản lại sự nghiệp hòa bình ở châu Á và trên toàn thế giới, tiếp tay cho bọn phong kiến đế quốc, làm giàu cho bọn tư bản ở Mỹ ở Pháp. Bà con làng ta nghèo khổ hơn các người nhiều mà bà con cũng nộp thuế đúng kỳ hạn, và bà con biết hy sinh quyền lợi cá nhân, đặt lợi ích của tổ quốc lên trên, đặt quyền lợi của toàn dân tộc cao hơn quyền lợi gia đình. Sao các người không noi gương bà con? Con sâu làm rầu nồi canh, các người có biết nhục không?
Âm! Bất chợt ông cu Đình đập bàn. Đèn tắt. Ông nuốt nước bọt một cái “ực” rồi dằn giọng hỏi lại:
- Tôi hỏi. Sao hai người không trả lời?
Ông Khang, bà Hinh vẫn đứng im như hai cái cột gỗ. - Các người coi thường chủ tọa à? Ông Khang, bà Hinh! - Da... - Các người trả lời câu hỏi của tôi. - Dạ, tôi chưa nghe rõ...
Từ nãy đến giờ ông cu Đình nói thao thao bất tuyệt. Hai người không nghe được câu nào, tiếng nào, mà chỉ nghe ong ong như có đàn ong bay trong đầu. Ông cu Đình nhắc lại:
- Con sâu làm rầu nồi canh, các người có biết nhục không?
- Dạ, biết nhục...
- Xin mời bà con phân tích tác hại của việc hai người dây dưa thuế nông nghiệp.
Hội trường lại im lặng như chết. Có tiếng gà gáy từ ngoài xóm vọng vào. Quá nửa đêm rồi...
Anh chàng cà lăm lúc nãy đứng dậy, giơ tay:
- Tôi... tôi... tôi... xin phân tích... Dây dưa thuế... thuế... nông nghiệp là... là... là... cái đồ... đồ... 1... li... liếm... 1...
Cả hội trường cười ầm lên. Chủ tọa cu Đình, tức giận về tiếng cười đó:
- Ai cười là thiếu ý thức! Đề nghị anh Cà bình tĩnh nói từng tiếng một, đừng nói lặp.
.Tôi... tôi... tôi xin phân tích... phân tích... lại... chống lại... lại... lại... chính sách... sách... thuế... thuế nông nghiệp là... là... là cái đổ... 1... liếm... 1...
Cả hội trường lại không nén được cười. Anh chàng cà lăm này thường ngày bực bội, chửi bới ai, hay văng tục “cái đồ liếm l”. Lúc này anh ta vẫn không chống lại được quán tính.
Chủ tọa cu Đình lắc đầu tỏ vẻ thất vọng, tuyên bố giải tán và “mời bà con tối mai đến họp”.
Ban lãnh đạo ở lại, rút kinh nghiệm, và phân công nhau đến vận động một số người làm mồi cho cuộc đấu tranh hôm sau.
Trưa nay, ông cu Đình gặp tôi nhờ tôi viết một bài văn nghệ” để tối đọc. Tôi sung sướng vì được các đồng chí lãnh đạo tín nhiệm. Mẹ tôi biết việc đó, nói nhỏ với tôi bằng vẻ mặt quan trọng: “Con cố gắng viết cho hay, rồi học thuộc lòng, tối đọc cho lưu loát”. Viết những bài văn vần để ngâm, kể về, hát chèo, hát tuồng, hát trổng quân, sa mạc động viên trong các buổi họp trở thành sở trường của tôi. Có lúc tôi viết rồi nhờ một cô gái nào đó hát. Có khi tôi viết và tự diễn xuất một vai tuồng, một vai chèo hoặc một vai hề. Bài nào tôi viết cũng được người nghe vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt, vì nội dung rất sát với tình hình thôn xóm, thậm chí nếu cần thì kể rõ tên ông này tích cực, bà nọ tiêu cực.
Sau khi ông cu Đình gặp, tôi trốn biệt ở một nơi vắng vẻ, hì hục viết quên cả ăn cơm. Tối đến, bắt đầu vào cuộc họp, ông cu
Đình giới thiệu tôi “hát văn nghệ”. Tôi hồi hộp đứng dậy trình bày theo điệu hát giậm:
Trăm năm trong cõi người ta Đóng thuế nông nghiệp thật là vẻ vang Khắp dưới bể trên ngàn Nhân dân ta nô nức Chiến sĩ mình nô nức.
Tấm lòng dân như ngọc Soi đường lối Đảng mình Thật rạng tỏ anh minh
Đánh tan quân xâm lược Diệt trừ bầy xâm lược.
Cán bộ thì tất bật Mang túi dết bên người Cứ chạy ngược chạy xuôi Đến nhà dân vận động Đến từng nhà vận động.
Cơm khoai ăn lùng lửng Người đã gọi bên ngoài Chân lông dép trụt quai Đội mưa dầm đi họp Đội trời mưa đi họp.
Có kẻ giàu nứt cót
Thuế má cứ khai man
Lẩn trốn đủ trăm đàng
Như là lươn là trạch
Như đồ lươn đồ trạch.
Phải ra tay vạch mặt
Cái lũ trạch lũ lươn
Đục khoét vùng hậu phương
Dân tình ta cơ khô
Chiến sĩ mình cơ khổ.
Phải nhất tề tóm cổ
Cải lũ trạch lũ lươn
Phả vật cản, mở đường
Thuận đã lên thắng lợi
Chóng đến ngày thắng lợi.
Tôi vừa đọc xong, tiếng vỗ tay hoan hô như muốn vỡ tung cả mái ngói. Đã bao nhiêu lần tôi được vỗ tay như thế, đến lần này tôi vẫn không nên được niềm vui sướng cứ trào lên. Tôi càng phổng mũi khi chủ tọa cu Đình nói: “Anh Trực nói rất đúng: Phải ra tay vạch mặt, cái lũ trạch lũ lượn - phải nhất tề tóm cổ, cái lũ trạch lũ lượn. Xin mời bà con thẳng thắn vạch mặt”.
Anh chàng cà lăm hăng hái nổ phát súng đầu tiên: - Tôi... tôi... tôi vạch... vạch... mặt...
Chủ tọa cản lại:
- Anh Cà hôm qua nói nhiều rồi, để nhường lại cho người khác.
- Không... không... Tôi chỉ xin... xin... bình một câu về... về... cái bài văn... nghệ... của... của... ch.. chú Trực.
Chủ tọa:
- Anh nói thật ngắn.
- Tôi... tôi... nói thật... thật ngắn. Ch... chú... chú Trực nói... nói... cái lũ... lũ trạch... lũ... lũ... lươn cũng là... cái... lũ... liếm...
Không khí hội trường đang trang nghiêm, bỗng lại vang lên tiếng cười.
Chủ tọa cu Đình mặt đỏ gay:
- Từ giờ phút này, tôi cấm không ai được cười! Cười là phá hoại hội nghị. Cười là tiếp tay cho bọn chống lại chính sách thuế nông nghiệp của Đảng và chính phủ.
Ông Hành Giật giơ tay:
- Tôi tán thành ý kiến của chủ tọa. Nhưng tôi phải nói thế này mới đầy đủ. Cấm đàn ông không được cười là đúng. Nhưng đối với đàn bà thì phải cho họ cười mỉm, chứ cấm họ cả cười to cả cười mỉm thì chỉ có cách là bắt họ đứng họp. Đã quen với lối hài hước, xỏ xiên của ông, mọi người hiểu ý và lại không nên được tiếng cười. Chủ tọa thẳng tay ra lệnh cho dân quân tống cổ ông Hành Giật ra khỏi hội trường. Lập tức không khí hội nghị trở lại nghiêm trang như bàn thờ và nặng nề như núi.
Thoáng nhớ lại những người mà tối qua và suốt ngày hôm nay ông đã dày công gặp gỡ và mớm lời cho họ, ông gọi tên từng người:
- Bà con đã tín nhiệm cử tôi làm chủ tọa thì tôi có quyền quyết định mọi việc. Bây giờ xin mời những người này phát biểu: anh Toàn, bà Nhuyễn, ông Vận... Sau đó, những người khác tiếp tục.
Toàn chạy lên, chỉ tay vào mặt bà Hinh và ông Khang:
- Ngoài mặt trận các chiến sĩ không tiếc máu xương để giành độc lập, tự do, hạnh phúc cho đất nước. Các ông các bà thật là vô ơn bội nghĩa, ăn cháo đái bát. Các ông các bà được ăn no mặc ấm mà không nghĩ đến các chiến sĩ nhịn đói nhịn khát ăn sương nằm gió, lăn lộn ở chiến trường. Các ông các bà là kẻ nằm há miệng chờ sung rụng. Đến lúc nước nhà độc lập thì các ông các bà lại xông vào trước để tranh phần nhiều. Tư tưởng đó là tư tưởng của bọn phong kiến, đế quốc, của quân xâm lược sài lang...
Bà Nhuyên cũng đứng nghiêng người giống tư thế anh Toàn:
- Bà Hinh ông Khang là quân đế quốc, là lũ sài lang... Bà Hinh ông Khang, là đồ phản động, là đồ Việt gian. Bà Hinh ông Khang là quân đế quốc, là lũ sài lang. Bà Hinh ông Khang, là đồ phản động, là đồ Việt gian. Bà Hinh ông Khang...
Nghe bà nói như hát, có cô gái nào đó bật ra tiếng cười. Chủ tọa cu Đình lại ra lệnh cho dân quân tống cổ cô ta ra khỏi hội trường.
Chính thái độ kiên quyết của chủ tọa làm cho không khí cuộc họp trở nên nghiêm trọng. Lồng ngực của người nào cũng nóng ran.
Đến lượt ông Vận. Cái lưng ông hơi gù. Nhưng toàn bộ tư thế đứng của ông cũng giống như anh Toàn, bà Nhuyễn. Tất cả như cùng được đúc ra từ một cái là:
- Tôi phán cho các ông bà biết - Ông Vận nói - Ông cha ta lấy chữ “đạo” làm đầu, còn các ông các bà thì lấy chữ “tặc” làm đầu. “Tặc” là gì, các ông các bà có biết không? “Tặc” là phong kiến, đế quốc, “tặc” là xâm lược sài lang. Man khai thuế nông nghiệp, trốn thuế nông nghiệp, chống lại chính sách thuế nông nghiệp tức là “tặc”. Các ông các bà là “tặc”. Các chiến sĩ ngoài mặt trận là “đạo”, “Tặc” chống lại “đạo” tức là phi nhân, phi nghĩa, phi độc lập, phi tự do, phi hạnh phúc. Các ông các bà...
Một người đàn ông từ phía dưới thét to: - Chúng nó chống Đảng chống chính phủ, không gọi chúng nó là “ông, bà”, mà gọi là “thằng”, là “con”.
Như mèo vớ được cá rán, chủ tọa bật dậy: - Ông Tư phải không? Mời ông lên đây!
Ông Tư xồng xộc chạy lên:
- Tao thấy chúng mày thường gặp nhau họp kín, thậm thụt bàn với nhau. Bàn cái gì? Bàn chống Đảng chống chính phủ à? Dân công không chịu đi, khất lần này lần khác. Thuế không chịu đóng. Tao căm ghét chúng mày.
Ông Tư giơ chân đạp vào lưng bà Hinh, ông Khang ngã chúi mặt.
Một người đàn bà giọng ồm ồm như ếch kêu:
- Họp kín thì còn nhiều người khác nữa, chứ không riêng gì hai tên Khang với Hinh.
Chủ tọa: - Còn những tên nào? Bà cho biết. - Còn ông Đẹt, ông Thọ. - Đạt, Thọ lên đây!
Ngay trước bàn chủ tọa có thêm hai người nữa là thành bốn người. Bốn người ngồi vòng tay, cúi mặt như bốn tội nhân ngồi trước vành móng ngựa. Trong ánh đèn lờ mờ, họ run cầm cập như cây sấy.
Trong bốn người này thì ông Thọ - tôi quen gọi là chú xã Thọ - nghèo nhất. Bố chú chết sớm, chú đi làm thuê khắp nam bắc đông đoài. Chẳng có một tấc đất cắm dùi. Sau ngày giành được chính quyền, chú mới được chia dăm tấc đất, dựng một cái lều để chui ra chui vàoỞ làng tôi, trên bốn mươi tuổi người ta đã có cháu nội cháu ngoại, riêng ông Thọ cũng đã chừng ấy tuổi mà chưa lấy được vợ nên dân làng gọi là “xã Thọ”. Chú cũng thuộc dòng họ Võ, chi dưới của chi họ tôi, nên tôi gọi là “chú xã Thọ” một cách thân mật. Thỉnh thoảng chú lên giúp việc cho nhà tôi như bửa củi, xe đá. Lúc rỗi rãi, chú thường ngồi uống nước chè xanh với bố mẹ tôi và kể những chuyên ma quái ở miền ma thiêng nước độc Phủ Quỳ. Dịp giáp hạt, mẹ tôi thường san sẻ cho chú củ khoai lang hay bát khoai khô. Có một lần tôi nhớ mãi, mẹ tôi đến chơi thấy chú nằm lả đói, vội vàng về nhà mở vạt cà muối đen ngòm bốc ra một bát lẫn nhổn củ chuổi, cây rau dền, xơ mít và cà pháo. Chú chống tay ngồi dậy ăn một cách ngon lành, uống đầy một bụng nước, rồi chắp tay với mẹ tôi. Ngược lại, chú cũng rất thương tôi. Kỳ thi năm ấy, tôi tìm được một chỗ khuất để ôn bài, đó là cây đa giếng Đình. Vòm cây rậm rạp, tôi trèo lên ngồi ở chạc ba, học suốt buổi. Các cô đi gánh nước, trẻ chăn trâu không biết tôi ngồi trên đó. Chỉ riêng chú xã Thọ, nhà ở gần cây đa, biết nơi tôi thường ngồi học. Khoảng nửa buổi chiều, chú thường đem ra cho tôi bát khoai xéo hoặc mấy củ khoai lang hoặc mấy bắp ngô luộc. Khi cây đa bị sét đánh chết, chú nói đùa: “Trời đánh chết cây đa, nhưng không đánh chết được chữ của anh Trực”.
Chú xã Thọ là như thế, nghèo khổ, hiền lành, sao lại làm phản động? Năm thì mười họa chú có đến làm thuê cho ông Khang, thỉnh thoảng ngủ đêm ở đó. Hình như chú cũng nhẹ dạ, khờ dại nghe những người trong tổ chức Quốc Dân Đảng ủ rê, dự một vài cuộc họp. Có lẽ vì thế mà chú bị người ta ghép vào tội “làm phản động”. Đây là lời buộc tội của người đàn bà giọng ồm ốp như ếch kêu: .
- Thằng ni ngu si suốt đời - Nghe quân Quốc Đảng ngỏ lời rủ rê - Đầu óc tăm tối u mê - Đi dự họp kín, theo nghề chó săn!
Nói xong, bà dồn tất cả sức mạnh vào cánh tay phải tát vào đầu chú xã Thọ. Cái khăn thủ rìu rách xơ xác trên đầu chú bung ra và làm tung tóe mớ lá hương nhu - chú đau đầu nên phải bọc lá hương nhu và suốt cả ngày hôm nay chú nằm rên một mình
nhà. Ăn cái tát bất ngờ, chú bị choáng và ngất xỉu. Chủ tọa ra lệnh cho dân quân kéo lê chú ngồi tựa lưng vào cột và tiếp tục
“vạch mặt ba tên kia”.
- Nó vờ ốm để không khai. Phải cảnh giác với âm mưu của bọn chó săn.
Như bị dùi châm vào mông đít, chủ tọa chồm chồm đứng bật dậy:
- Hoan nghênh tinh thần cảnh giác của ai vừa nói đó. Tên Thọ vờ ốm. Bắt tên Thọ phải khai kỳ hết, khai xong mới được ốm.
Gần chục người xô lên: - Đúng, đúng... - Bắt khai đi... - Những ai dự họp kín? - Thằng nào trùm, phải lỗi mặt ra! Một người nắm tóc chú xã Thọ giật rất mạnh: - Thằng nào trùm? - Ngợi... - Thằng nào nữa? - Giản... - Còn thằng nào nữa? - Hết rồi...
Qua giọng trả lời thều thào của chú xã Thọ, người ta nghe rõ cái tên “Ngợi” và “Giản”. Trung tủ! Ngợi và Giản là đầu mối của mọi hoạt động chống chính quyền trong thôn xã. Ngợi tốt nghiệp pơ-ri-me. Giản vốn làm xếp ga. Cả hai đều là bà con thân thiết với hàn Hạp, một viên quan về hưu.
Khơi trúng ngòi, cái ung nhọt vỡ ra. Hàng chục cánh tay giơ lên. Hàng chục cái đầu nhô về phía trước. Hàng chục cái miệng tranh nhau nói. Lời va vào lời, tiếng va vào tiếng, chát chúa, ghê tai, rợn gáy:
- Trói cổ chúng nó lại! - Đào tận gốc trốc tận rễ bọn chó săn! - Đánh bỏ mẹ!
- Giết mẹ chúng nó đi!
Chủ tọa cu Đình khuôn mặt hiện lên một vẻ khác thường, vừa hăm hở vừa căm giận: “Hoan nghênh tinh thần đấu tranh của bà con nông dân. Tôi hạ lệnh dân quân bắt trói hai tên Ngợi và Giản, nhốt vào ngục.”.
Trời chưa tối hẳn, người đến dự họp đã khá đông. Bà đang cấy dở sào ruộng cũng vội về ăn cơm nguội để đi họp. Ông đang bửa củi cũng dùng tay ăn vội mấy củ khoai để đi họp. Cụ già đang lên cơn hen cũng choàng tấm chăn đi họp... Vòng họp lại Sợ người ta nghi là mình có liên quan gì đến bọn phản động, nên ai cũng lo đi sớm,
Tối hôm nay là tối thứ ba của cuộc “đấu tranh chính trị”. Không khí làng xóm sục sôi, căng thẳng. Đi trên đường làng, làm ngoài đồng, người ta túm tụm nhau bàn tán:
- Không ngờ làng ta lại nhiều phản động đến thế! - Ông Thọ ngu ngơ thế mà cũng làm phản động à?
- Cứ ngỡ bọn Việt gian phản động phải như Nguyễn Văn Thinh, Trần Văn Hữu, Lê Hữu Từ, bây giờ mới biết làng ta cũng có Việt gian phản động.
- Bà Hinh với ông xã Thọ cũng làm Việt gian phản động thì lạ thật. Trời sắp sập rồi.
- Tôi cứ tưởng họ nghe xui dại, hóa ra họ làm phản động
thật.
Xâm xẩm tối, người ngồi chật ních ba gian nhà. Tôi linh cảm một điều gì ghê gớm sẽ xảy ra, một điều gì đó không bình thường, một điều gì đó nhân từ hay độc ác? Một điều gì đó yêu thương hay tàn nhẫn? Đầu óc tôi rối tung nhiều ý nghĩ. Tôi chợt nhớ đến thằng Biều - thằng Biều con ông Khang, bạn học của tôi. Tôi len lách mọi ngóc ngách để tìm cho được thằng Biều. Lúc thấy nó, tôi len lén đến sau lưng và ra hiệu cho nó đi theo tôi. Như kẻ sắp chết đuối vớ được cọc, nó liền khom lưng chạy theo tôi ra phía sau hậu cung của ngôi đền. Nó đang nghĩ gì về sự ra hiệu của tôi? Lành hay dữ? Nó chờ đợi cái gì tôi sẽ mang đến cho nó? Một lời an ủi? Một phương thức để cứu ông Khang, cha của Biều, tránh khỏi trận ra đòn sấm sét đêm nay? Biều đứng sát bên tôi, chân tay run lẩy bẩy, trống ngực đập thình tình. Tôi nắm tay nó, nói rất khẽ: “Mày tìm cách gặp cha mày ngay, gặp ngay trước khi họp, nói với cha mày là có gì cứ khai hết. Nếu không, họ sẽ đánh chết mất, không chết thì cũng tàn tật. Tao biết rõ điều đó mà. Cứ khai tuốt tuồn tuột...”.
- Ai? Ai? Tôi giật nẩy mình. Chú Niên xã đội trưởng quát. - Tôi đây mà... Tôi đáp.
- Tôi là ai? Xưng tên - Tại sao lại đứng vào chỗ tối này. Định âm mưu gì?
- Tôi là Trực. - Trực con bà Đoan phải không? Ra ngay! Trói lại! - Tôi ra ngay đây... giọng tôi run run trả lời.
- Lần đầu tha tội cho anh. Lần sau bắt được anh đứng trong bóng tối là tôi ra lệnh dân quân trói gò cô!
- Dạ... tôi nhẹ bỗng cả người.
Quay nhìn xung quanh, thằng Biều đã tìm cách chuồn từ bao giờ. Nếu chú Niên biết tôi đứng nói chuyện với nó thì chắc chắn tôi bị quy là “liên quan với bọn phản động” và tôi sẽ không tránh được một trận hành hạ. Hú hồn, thoát chết!...
Vào cuộc họp. Chủ tọa cu Đình giới thiệu tôi làm thư ký: “Cuộc họp này vô cùng quan trọng, phải có một thư ký ghi nhanh, ghi đầy đủ, ghi lưu loát, mạch lạc. Tôi đề nghị anh Trực làm thư ký”.
Chú Niên từ ngoài sân chạy vào, vai mang đại đao, nói giọng cứng rắn:
- Trực à? Không được! Vì lý do gì mà trước cuộc họp anh Trực đúng trong bóng tối thậm thụt với một người nào. Không cần người văn hay chữ tốt, chỉ cần một người có tư tưởng lập trường vũng để làm thư ký.
Thế là tôi cũng bị nghi rồi! Tôi bị coi là kẻ “liên quan” rồi! Tôi không còn trong sạch nữa. Tôi vừa lo sợ vừa mừng vì không bị bắt trói. Thế là phúc bảy đời cho tôi. Thằng Biều bây giờ ở đâu? Nó có kịp gặp cha nó để nói cái điều mà tôi dặn? Tôi tưởng tượng cái cảnh tra tấn sẽ diễn ra đối với ông Khang. Tôi rùng mình.
- Dân quân đâu? Dẫn những bọn có tội với cách mạng vào đây! Chủ tọa ra lệnh.
- Có! Xã đội trưởng Niên trả lời.
Mấy người dân quân dẫn ông Khang vào trước. Ông đúng vòng tay, cúi gục đầu, tóc xõa. Chú xã Thọ cùng với bà Hinh, ông Đẹt, ông Ngợi, ông Giản lếch thếch đi sau.
Chủ tọa cứng cỏi, vào ngay chương trình:
- Bà con ta thẳng tay vạch mặt bọn hại dân hai nước, đào tận gốc trốc tận rễ hang ma động quỷ. Ta không thương xót gì chúng nó. Thương xót là mất lập trường giai cấp. Bằng tất cả mọi cách, ta bắt chúng nó khai hết. Không khai thì đánh chết. Chết thì chôn!
Từ phía dưới, ào ào xông lên ba người, rồi bốn người, rồi năm người, rồi sáu người. Họ đứng xúm quanh đám người bị quy là phản động, chửi rủa om sòm, váng tai vàng óc. Cuối cùng, một bác nông dân hét to: “Chúng nó ngoan cố lắm. Chúng nó cứ đứng lì như tảng đá. Phải treo cổ một thằng để làm gương”.
Bị kích động, hàng chục người nhao nhao:
- Phải treo cổ một thằng! - Phải treo cổ một thằng!
- Đừng treo cổ. Treo cổ thì nó chết ngay. Chết ngay thì nó không biết đau. Cứ treo ngược lên.
- Phải rồi, treo ngược lên. - Treo thằng Khang! Treo ngược lên!
Ba anh dân quân mang đại đao xồng xộc tới, buộc dây thừng vào hai cổ chân ông Khang, rồi trèo lên xà nhà kéo ngược dây. Ông Khang vội vàng van xin:
- Tôi xin khai hết. Tôi xin khai hết. Họ lại buông dây xuống để ông Khang đứng nói:
- Tôi có tội với dân với nước. Từ nay tôi không dám làm phản động nữa!
Dân quân A: - Mi làm phản động với ai? Dân quân B: - Mi đã chỉ điểm cho giặc mấy lần?
Dân quân C: - Mi đã nhận mấy tỉ đô la của Quốc Dân Đảng?
Bị hỏi dồn dập, ông Khang không biết trả lời thế nào. Chủ tọa liền ra lệnh: “Thằng này ngoan cố, treo ngược lên xà nhà!” Ba dân quân lại xô vào. Ông Khang chắp hai tay lậy: “Cho tôi khai. Tôi xin khai hết”. Chủ tọa hỏi từng câu:
- Mi làm phản động với ai? - Với mấy người đang ngồi đây. - Mi đã chỉ điểm cho giặc mấy lần? - Hai lần. - Mi đã nhận mấy tỉ đô la của Quốc Dân Đảng? - Năm tỉ. - Mi để ở đâu? Mang ra đây...
Ông Khang lúng túng... Chủ tọa kết án là “thằng này ngoan cố, treo lên xà nhà!” Ba dân quân hung hăng cột dây thừng vào cổ chân ông Khang, kéo ngược lên xà nhà. Ông Khang bỗng trở thành cái xác treo ngược lủng lẳng. Tất cả mọi người trong hội trường không ai bảo ai, bỗng đứng giãn ra vây thành vòng tròn. Một người giơ chân đạp vào đầu ông Khang, ông bị văng sang bên kia, ở bên kia lại một người khác giơ chân đạp vào đầu ông... Cứ như vậy, cái đầu ông Khang như một quả bóng bị đá từ phía này sang phía kia...
Một người trong đám đông nhô đầu ra:
- Nó ngoan cổ không chịu khai. Buộc dây như thế này nó không đau. Tôi đề nghị buộc dây vào hai ngón chân cái.
Hàng chục người nhao nhao hưởng ứng: - Phải rồi! Buộc vào ngón chân! - Buộc vào ngón chân! - Buộc vào ngón chân!
Một dân quân trèo lên xà nhà mở dây. Hai dân quân đứng dưới đỡ ông Khang nằm xuống đất. Họ dùng sức mạnh thiết sợi dây thật chặt vào hai ngón chân cái ông Khang, rồi lại treo ngược lên xà nhà. Lúc này thân thể ông mềm nhũn như một cái xác không hồn. Bất chợt, ông rên lên ư ử... Ngay tức thì một dân quân đạp trúng vào mặt ông hộc máu mũi:
- Lại còn vờ rên!
Tự nhiên có người gục đầu vào vai tôi. Tôi nhận ra trong ánh đèn lờ mờ: đó là thằng Biều con ông Khang. Nó khóc nấc lên, nhưng cổ bịt miệng để không bật ra thành tiếng, cái đầu nó cứ rung trên vai tôi một nỗi đau tuyệt vọng. Tôi cảm thấy nặng vai quá, cái vai gầy gò của tôi lúc này phải chịu đựng gánh nặng hàng tấn. Một cảm giác ghê ghê như cật nữa cứa khắp làn da tôi. Liệu có ai nhìn thấy thằng Biều gục đầu vào vai tôi không? Lúc này người ta đang chăm chú nhìn vào thân thể ông Khang đang bị treo ngược, một số người thì cúi mặt xuống để khỏi phải chứng kiến cảnh rùng rợn kia. Tôi vờ như không biết có thằng Biều bên cạnh. Nhưng trong bóng tối, tôi giơ cánh tay ra phía sau nắm lấy bàn tay Biều. Bàn tay nó rung rung như một chiếc lá sắp rụng. Tôi biết lòng nó đang tê tái, đang xé gan xé ruột vì người cha đang bị hành hình ngay trước mặt nó. Tôi không có đủ bản lĩnh để tự phân tích ông Khang có phản động hay không, có theo bọn Quốc Dân Đảng hay không, có man khai thuế nông nghiệp nhiều hay ít, tôi chỉ rùng mình vì người ta đánh đập ông tàn nhẫn quá. Có lẽ ông chết mất. Ông Khang chết thằng Biểu sẽ khổ lắm, nó không còn được tiếp tục đi học với tôi nữa...
Chủ tọa cu Đình đĩnh đạc lên tiếng:
- Lệnh của trên là phải giải hai tên đầu sỏ Ngợi và Giản lên huyện ngay đêm nay. Các đồng chí dân quân thực hiện mệnh lệnh của tôi!
Xã đội trưởng Niên “tuân lệnh” dẫn hai dân quân vào trói cánh gà Ngợi và Giản. Sợi dây thừng xiết mạnh quá mặt Ngợi nhăn lại và cánh tay tì xuống. Anh dân quân đấm một phát như trời giáng vào mặt Ngợi:
- Mi chống lại à!
Hàng chục người xô tới đánh túi bụi vào Ngợi và Giản. Họ ngã sấp mặt xuống nền nhà. Anh dân quân đá vào hông họ và quát:
- Đứng dậy mà đi! Vào nhà tù nằm cho sướng!
Chỉ còn lại giữa đấu trường mấy người: bà Hinh, ông Đẹt, ông Thọ và ông Khang đang bị treo ngược lơ lửng.
Bất thình lình một ông già hùng hổ rẽ đám đông, xộc vào giữa, đá vào đầu ông Khang một cú như sét đánh: “Tổ cha quân phản động”. Thân thể ông Khang vắng xa như đánh đu, dây thừng bị đứt, cái thân nặng nề của ông rơi thịch lên đầu đám đông. Đám người giãn ra. Một người kêu lên: “Nó chết rồi”. Người khác: “Chết thì chôn”. Anh dân quân đến gần: “Nó đang thở. Bọn này ăn sướng, chưa chết được đâu!”.
Chủ tọa: - Để tên Khang nằm đó. Bà con vạch mặt những tên khác. Vòng người càng ngày càng xiết hẹp lại như vòng lửa bao vây bầy thú bị trọng thương. Trong vòng người ấy tưởng có thể bất giác lúc nào một cánh tay vung ra hoặc một bàn chân giơ lên là có thể thui vào con thú chết ứ ư ngay tức khắc. Tôi chợt nhớ những ngày hội vây hổ ở Quỳnh Tam, huyện Quỳnh Lưu. Khi phát hiện con hổ về làng bắt trâu bò, người ta gióng trống gióng mõ, tổ chức trai tráng bao vây. Xung quanh con hổ là một vòng hào. Ngoài vòng hào là vòng người, Chiêng, trống, thanh la, não, bạt và tiếng hò reo long trời lở đất. Cuộc bao vây kéo dài bảy ngày, mười ngày, nửa tháng... Con hổ bị thác loạn thần kinh, lúc đầu hốt hoảng, dần dần bị tê dại, cuối cùng một đám lực điền cầm vũ khí xông vào đấu chết hổ.
Con hổ còn bị loạn thần kinh, huống hổ là con người. Những con người đang ngồi giữa vòng vây đêm nay có còn chút tỉnh táo của thần kinh để nghĩ về thân phận họ? Họ không những là người cùng làng xóm, cùng chung lưng đấu cật để tạo nên một cộng đồng nhỏ bé và ấm áp, mà là người cùng dòng máu, dòng máu họ Võ, cùng một ông tổ Triệu Cơ. Một lời cám dỗ vu vơ nào
đó, một lời đồn đại lăng nhăng nào đó, họ trở thành đối tượng trong cuộc “đấu tranh giai cấp quyết liệt này”. Chủ tọa cu Đinh đã nói rõ điều này bằng những lời lẽ hầu như học thuộc lòng trong bài chính trị sơ cấp: “Lịch sử loài người được hình thành trên cơ sở lịch sử đấu tranh giai cấp. Chúng ta không bao giờ quên là phải đấu tranh giai cấp để tồn tại. Muốn đấu tranh giai cấp thắng lợi thì phải đề cao tinh thần cảnh giác, phải triệt để cảnh giác với mọi phần tử xấu đang lăm le phá hoại cuộc đấu tranh giai cấp của chúng ta”. Vi tinh thần cảnh giác quả cao, cho nên ông Khang trở thành thủ quỹ của bọn phản động nước ngoài giữ những năm tỉ đô la, chú xã Thọ nghèo rớt mùng tơi đến làm thuê cho ông Khang cũng trở thành đảng viên trung kiến của Quốc Dân Đảng. Cũng vì tinh thần cảnh giác quá cao cho nên bây giờ những con người này chịu đựng những đòn tra khảo nhục hình nặng gấp trăm gấp vạn lần lầm lỡ của họ.
Hãy nghe một thanh niên kể tội ông Đẹt:
- Khi giặc đổ bộ lên Quỳnh Lưu thì mi đem con dao găm ra mài. Mi mài dao găm để làm gì? Mi mài dao găm để ám sát cán bộ, để đội giặc lên mà rước vào nhà phải không?
Hãy nghe một bô lão kể tội bà Hinh:
- Khi cán bộ thuế nông nghiệp vào vận động thì mi đem rổ khoai ra mời cán bộ ăn. Hành động của mi có hai âm mưu; một là mi mua chuộc cán bộ, hai là mi khinh thường cán bộ, chỉ mời cán bộ ăn khoai lang, còn cơm gà cá gỏi thì mi để dành nuôi bọn phản động.
Hãy nghe một người đàn bà kể tội chú xã Thọ:
- Một hôm tao thấy mi từ nhà bà Đoan ra, tay cầm một gói cà. Mi có nhở là mi gói cà bằng cái gì không? Băng ảnh của Mao chủ tịch. Mi có tư tưởng nhạo báng lãnh tụ cộng sản quốc tế.
Nghe đến tên “bà Đoan” mẹ tôi, tôi giật nẩy mình. Mẹ tôi lại bị “liên quan” rồi. Tinh thể sẽ ra sao đây? Chủ tọa cu Đình gọi:
- Bà Đoan có đây không?
Mẹ tôi ngập ngừng đứng dậy, nói “có” thì không hiểu sao chú xã Thọ lúc này còn tỉnh táo để thưa bầm:
- Thưa chủ tọa là hôm đó tôi nhặt được tờ giấy rơi ngoài đường, tôi không biết đó là giấy in ảnh Mao chủ tịch. Tôi vào bà Đoan chơi, bà cho tôi một nắm cà muối, tiện tờ giấy đang cầm trên tay, tôi dùng gói cà.
Chủ tọa: - Có đúng không bà Đoan? Mẹ tôi:
- Lúc đó trời nhập nhoạng tối, tôi không để ý là tờ giấy in ảnh Mao chủ tịch.
Chủ tọa:
- Bà là người của đoàn thể mà bà kém tinh thần cảnh giác cách mạng. Bọn phản động lợi dụng tất cả mọi cơ hội chúng ta sơ hở để bôi xấu lãnh tụ, bôi xấu phong trào cộng sản quốc tế, bôi xấu hòa bình thế giới. Tôi đề nghị bà hãy nghiêm khắc tự kiểm điểm bản thân.
Mẹ tôi: - Dạ... Tôi sẽ nghiêm khắc tự kiểm điểm...
Trời rét căm căm. Mãi đến nửa buổi tôi mới lùa trâu ra đồng. Tới đầu làng, một cảnh tượng khủng khiếp hiện ra trước mặt tôi:
Những người bị đấu tối hôm qua đang bị trói ở gốc cau!
Hàng cau này chạy dài từ xóm Đông đến xóm Trung Học con đường lớn qua sân vận động, qua giếng Đình và cửa đình. Những đêm trăng sáng, chúng tôi thường rủ nhau ra đây chơi đến tận gà gáy canh hai canh ba. Trai gái cũng thường hò hẹn gặp nhau ở nơi này, rồi thổi tù và kéo nhau thành phường lên núi hái củi... Bây giờ hàng cau thân yêu đã biến thành nơi đây đọa những người bị quy là phản động.
Mỗi gốc cau trói một người: ông Đẹt, bà Hinh, ông Khang, chú xã Thọ. Còn hai người nữa là ông Ngợi và ông Giản đã bị bắt lên huyện. Trong số người này, thực ra chỉ có Ngợi và Giản hăng hái tổ chức nhiều hoạt động chống lại chính quyền cách mạng. Ông Đẹt, bà Hinh, ông Khang bị kẻ khác xúi giục, đóng thuế nông nghiệp không đúng kỳ hạn, không chịu đi dân công hỏa tuyến mà lại bỏ tiền thuê người khác đi thay. Còn chú xã Thọ thì có tội tình gì? Nhà chú nghèo xơ nghèo xác. Ngợi và Giản thỉnh thoảng cho một ít tiền, một ít gạo, chú nhẹ dạ dự vài cuộc “họp kín”. Vậy cái tội chính của chú là có tham dự họp kín”, dùng ảnh Mao chủ tịch gói cà và dự họp Nông Hội không đây đủ... Nhưng tất cả những người này đều bị quy tội như nhau, đều là phản động, đều bị đánh đập, đều bị trói vào gốc cau.
Tối hôm qua rét như muốn nứt nẻ da người, nứt nẻ trời đất. Mấy đứa chúng tôi nằm ôm nhau trong ổ rơm vẫn còn rét. Thế
mà những người này sau cơn tra tấn ê ẩm cơ thể, lại bị phơi ra ngoài trời. Họ chống chọi bằng cách nào để qua một đêm rét như thế?
Từ xa, tôi đã nhìn thấy họ ngồi im như những đống đất. Tôi cũng nhận rõ người nào bị trói ở gốc cau nào. Họ còn sống đủ cả hay có ai đã bị chết rét? Thường ngày tôi lùa trâu qua lối này, nhưng hôm nay một cảm giác hãi hùng ngăn tôi lại. Tôi rẽ lối khác, rồi dùng sau bụi chuối già, chăm chú nhìn tới, Hình như cả bốn người vẫn còn sống. Ông Khang ngoẹo đầu một bên vai. Bà Hinh gục đầu khom lưng xuống. Ông Đẹt ngồi duỗi chân ra. Chú xã Thọ tựa sát lưng vào gốc cây. Tất cả chỉ giống nhau là hai tay bị trói gò vào phía sau qua thân cau.
Từ trong làng đã có nhiều người rời tổ ấm ra đồng làm việc. Kẻ gánh mạ. Người vác bừa. Kẻ dắt bò. Người dong trâu. Bình lặng như tựa ngàn xưa. Mà sao hôm nay im lìm và nặng nhọc đến vậy? Không ai nói chuyện với ai. Cũng không ai dám nhìn xuống gốc cau đang có người bị trói - những người bị trói đều có quan hệ ràng rịt với họ, xưng hô với nhau bằng bác, chú, dì, anh, em... Sự phân hóa thành “hai tuyến giai cấp” thật nhanh chóng và bất ngờ.
Bên kia sông Bùng, từ các làng khác như Thổ Hậu, Hạnh Lâm, Vĩnh Thọ... có một đoàn các bà qua đò sang bên này đi chợ Lèn. Họ gánh gồng, đội, mang ngổn ngang những thúng mủng, bị cói, lồng gà. Đến hàng cau, họ dừng lại, một bà nói:
“Thì ra quân phản động đây rồi! Tôi cứ tưởng là phản động đâu đâu. té ra quân phản động ở làng Hậu Luật. Bà cho chúng mày biết tay!” Nói xong, bà tốc váy đái lên đầu ông Đẹt. Mấy bà khác cũng làm theo: tốc váy đái lên đầu ông Khang, bà Hinh, chú xã Thọ. Nước đái chảy từ tóc xuống ướt đẫm cả quần áo. Nước đái có làm cho những người bị trói ấm hơn chút ít hay xót thêm bởi vết thương đêm qua bị tra tấn? Mấy bà đái xong rồi bỏ đi. Tưởng thế là đủ làm nhục những người bị trói. Ngờ đâu có một bà khác bằm bổ bước tới “Vì quân phản động này mà con tao phải ăn sương nằm gió ngoài mặt trận”, vừa nói bà vừa đái rê từ đầu ông Đẹt qua đầu ông Khang, bà Hinh, chú xã Thọ.
Tôi đứng nhìn rất rõ, rất kỹ • một cảm giác rờn rợn nổi gai Ốc khắp da thịt.
Tôi lại tiếp tục lùa trâu ra đồng. Từng bước một. Từng bước một. Hai bàn chân nặng như hai tảng đá.
Trưa. Trên đường trở về, tôi gặp thằng Luy con bà Hinh tay bê nồi, bát và thìa. Có lẽ nó mang cơm cho mẹ nó. Hằng ngày thằng Luy cùng đi học với tôi, đùa chơi vô tư với nhau. Hôm nay gặp tôi nó cúi mặt, vờ như không nhìn thấy tôi. nó buồn nó đau hay nó xấu hổ? Ở, mà sao lại xấu hổ nhỉ? Bỗng dưng giữa tôi và nó mở ra một hố sâu ngăn cách... Luy đi qua rồi, tôi len lén quay lại nhìn nó, chợt bắt gặp nó quay lại nhì tôi. Nó vờ đánh rơi cái thìa, cúi xuống nhặt. Còn tôi thì vờ giơ roi tre quất vào đít con trâu.
Đến gần hàng cau, tôi thấy những người bị trói đã được phủ áo ấm, chỉ phủ bên ngoài thôi, chứ không được mặc vào hẳn hoi. Chắc là người nhà vừa mới mang tới. Nhưng chú xã Thọ không có người nhà, không có vợ con, không có anh em ruột thịt, ai đã choàng lên chú một tấm vải rách?
Đang vơ vẫn suy nghĩ, tôi nghe tiếng bước chân phía sau lưng, rồi vượt qua tôi rất nhanh. Thì ra cái Hoa em thằng Biều. Tay nó xách tao giống đựng cái nồi nhỏ. Hẳn nó mang cơm cho ông Khang? Tôi vờ cho trâu cúi xuống bên đường uống nước để dõi theo cái bóng bé nhỏ của Hoa lê bước dọc hàng cau rồi dùng lại bên ông Khang. Hoa ngồi thụp xuống, úp mặt vào hai bàn tay, vai rung lên. Dường như bàn tay nó quá nhỏ không đủ sức đỡ nổi cái đầu quá nặng, nó vẹo người và sụp xuống chân ông Khang đang duỗi ra. Theo bản năng, ông Khang định căn người ôm lấy đứa con gái, nhưng bỗng khựng lại vì hai tay đang bị trói. Sau một lúc định thần, Hoa lấy khăn lau mặt bố. Bàn tay Hoa nương nhẹ lau những vết máu dính xung quanh mũi và mồm.
Ông Khang nhăn mặt lại vì đau. Cánh tay Hoa run lên... Nó mở nồi và bón cho bố từng thìa cháo. Ông không nuốt được. Hoa đỡ bố ngôi thắng để cho cái ngực không gập xuống. Rồi lại bón cháo. Ông lắc đầu. Hoa giàn giụa nước mắt. Nó đánh liều đến gần anh dân quân đang đứng gác, xin mở trói cho bố. Anh dân quân mặt lạnh như tiền, thủng thẳng bước đi, không hề đáp lại một tiếng. Hoa mạnh dạn bước theo và nói to hơn: “Thưa chú, cho cháu mở trói cho cha cháu, ăn xong chú lại trói như cũ”. Anh dân quân vẫn không quay lại, nói xăng giọng: “Mày định âm mưu cái gì? Mở trói để bỏ chạy à? Đến lúc này mà mày còn âm mưu làm cho tao mất cảnh giác giai cấp 1? Hoa thất vọng, trở lại với bố, nặng nhọc bón từng thìa cháo. Khó khăn lắm ông Khang mới nuốt hết một thìa. Hoa vẫn kiên nhẫn bón cho bố đến gần một tiếng đồng hồ.
Về nhà, tôi thấy mẹ tôi đờ đẫn. Mẹ không ngồi yên, đi đi lại lại trong gian nhà hẹp có vẻ xắng xở, bận rộn, đặt cái sàng lên cái mẹt, đặt cái thúng vào cái nia, cầm cái liềm từ chỗ này giắt vào chỗ kia... Toàn là những động tác thừa. Cuối cùng mẹ vo gạo thổi cơm. Tôi ngồi bên mẹ, giơ bàn tay hơ lửa. Tôi định hỏi mẹ một câu, mà cứ ngập ngừng mãi không thốt ra thành lời. Tha thẩn hồi lâu, tôi dồn hết nghị lực để nói:
- Mę...
- Cách mạng thành công lâu rồi, sao lại nhiều phản động thế?
- Thế mới là chuyên chính vô sản con ạ. Đấu tranh giai cấp càng ngày càng quyết liệt thì bọn phản động càng hoạt động nhiều.
- Mẹ có lấy tài liệu cho con xem được không?
- Không được con ạ. Họp chi bộ, mọi người chỉ được nghe giảng chứ không được cầm tài liệu.
- Chú xã Thọ nghèo khổ, hiền lành thế, có đúng là phản động không? Hay người ta nói sai?
- Sao họp chi bộ, mẹ không bình chú xã Thọ? Nước mắt chảy ra trên gò má nhăn nheo, mẹ nói trong sụt sùi tiếng khóc:
- Con muốn người ta bắt trói luôn cả mẹ à?
Giữa mẹ và tôi là những câu đối thoại ngắn gọn, rời rạc và giữa những câu đối thoại là nhiều khoảng cách chứa chất lộn xộn suy tư vừa đơn giản của người nông dân vừa đầy mâu thuẫn của bản năng con người. Sau câu nói của mẹ “Con muốn người ta bắt trói luôn cả mẹ à” là một khoảng cách khá dài để dẫn đến câu hỏi của tôi:
- Chú xã Thọ không có anh em ruột thịt để mang cơm cho chú, con đem ra cho chú một nắm cơm có được không?
- Có được không hở mẹ? - Đợi cho trời tối đã...
Đợi cho trời tối, tôi mang nắm cơm đi trong tư thế sợ sệt, hèn nhát và trao vào tay chú với động tác sợ sệt, hèn nhát.
- Chú... - Anh Trực à.
Chú từ từ mở cặp mắt mệt mỏi: - Anh về ngay kẻo người ta thấy. Tôi đứng dậy định vụt chạy, nhưng bản năng bảo cho tôi biết rằng hai tay chú đang bị trói thì cầm cơm ăn làm sao được. Tôi
bình tĩnh ngồi xuống, bẻ nắm cơm thành từng mẩu nhỏ đút vào mồm chú. Những chú lắc đầu. Tôi không hiệu. Chú tì hai cánh tay bị trói ra phía trước và ngả bàn tay ra: “Anh đặt cơm vào đây”. Tôi đặt mấu cơm vào lòng bàn tay chú. Chú ngoẹo đầu xuống một bên và ngoạm mồm ăn mẩu cơm. Như thế là chú có thể tự ăn được. Chú ăn cơm mà rán gân rán sức như đi đánh vật. Đưa cơm vào mồm đã khó khăn, nhai cũng khó khăn, nuốt cũng khó khăn. Mỗi lần nhai chú nhăn mặt và dồn sức bình sinh để nuốt ực một cái, Tôi để ý, thì ra chú bị gãy hai răng cửa và lung lay hai răng khác. Tối qua, trong lúc “vạch tội”, ai đã đấm một cú quá phàm làm cho chú bị hỏng hàm răng. Trời rét mà sau khi nuốt mấy miếng cơm, trán chú đã dâm dấp mồ hôi. “Anh về đi”, chú nói khe khẽ. Tôi về... Từ đầu hàng cau, anh dân quân nhìn thấy tôi, nhưng anh ta vội quay đi và tảng lờ như không thấy.
Cấp trên lấy làng tôi làm thí điểm cho cộc đấu tranh chính trị. Cuộc đấu tranh đã thắng lợi và triển khai ra các làng khác, các xã khác.
Cả huyện cả tỉnh sôi sục không khí đấu tranh. Nghe nói trong Hà Tĩnh, ngoài Thanh Hóa cũng vậy. Chúng tôi bỏ học hàng tháng trời để đi dự các cuộc đấu. Tối nay đi nơi này tối mai đi nơi khác. Nhiêu xã tổ chức đấu ban ngày, chúng tôi cũng đi dự ban ngày. Trời mưa, cũng đi. Trời rét, cũng đi. Có lắm hôm mưa dầm dề, đường lầy sục, tôi và thằng Bá đội nón mang tới đi đến quá nửa đêm đến tận gân sáng mới trở về nhà. Có đêm đi dự làng này rồi chạy qua làng khác. Không thể ngồi yên được. Tôi đứng đầu ngõ nhà thằng Bá gọi một tiếng là thằng Bá chạy ra ngay dẫu đang giữa bữa cơm. Bá đúng đầu ngõ nhà tôi gọi một tiếng là tôi chạy ra ngay dẫu tôi đang say mê đọc sách. Một cảm giác rất lạ tràn ngập cả người tôi suốt đêm này qua đêm khác, suốt ngày này qua ngày khác, vừa là muốn thỏa mãn đầu óc tò mò vừa là để hiểu thêm tiến trình cách mạng. Nghe mẹ tôi nói: “Cách mạng đã chuyển sang bước ngoặt, chuyên chính vô sản phải tăng cường”. Mỗi lần biết mẹ đi họp chi bộ là thế nào tôi cũng ngong ngóng chờ mẹ về và tìm cách hỏi cho kỳ được một đôi điều đang làm tôi bứt rứt. Mẹ có giữ bí mật tuyệt đối đến mấy, tôi cũng moi cho được một vài đầu mối của vấn đề bức xúc trong người tôi. Chuyên chính vô sản là thế này ư? Phản động nhiều đến thế ư? Kẻ giàu sang làm phản động còn có thể hiểu được, chứ sao người khốn khó cũng làm phản động? Bao nhiêu câu hỏi xoáy vào tâm trí tôi, chồng chất trong tâm trí tôi. Tôi không tự cắt nghĩa được và tôi cứ buông thả mình như con thuyền độc mộc bị cuốn vào giữa dòng nước xoáy. Tôi chỉ biết là tôi không ngồi yên được. Tôi phải đi dự đấu, đi xem đấu. Tôi thường đi với thằng Bá, hai đứa tựa vào nhau như hai con thuyền độc mộc buộc liền lại giữa vô vàn dòng lũ.
Nhân dân Xóm Chợ tổ chức đấu tranh tại trường tiểu học Thái Xá. Ngôi trường này xây từ thời Pháp thuộc. Tuổi thơ của tôi đã gửi lại ngôi trường này bao nhiêu kỷ niệm trong trắng và đầm ấm. Lúc này tôi không học tại đây nữa mà đã lên học trường huyện. Nhưng khi đến dự cuộc đấu tại ngôi trường cũ, một cảm giác rờn rợn lùa vào trong tôi. Trong một bài giáo khoa sử ký nào đó, tôi đã học “thực dân Pháp biến nhà trường thành trại giam”. Ở, mà sao bây giờ chính quyền ta lại biến trường học thành trường đấu?
Học sinh đã nghỉ học hàng tháng để cùng nông dân tham gia vào cuộc đấu tranh lớn lao này. Trường bỏ không. Những người lãnh đạo xã và xóm dùng nhà trường để tổ chức đấu tranh chính trị.
Người đứng vây kín vòng trong vòng ngoài. Ba tội nhân ngồi co ro ở giữa. Tôi không thể chen vào được để nhìn rõ mặt ba người, tôi chỉ nhận ra được một người là chú Trường. Chú Trường cũng là “tên phản động” à? Chú là dân khố rách áo ôm, đi làm thuê làm mướn từ thời bát tiết. Nhiều năm sau cách mạng tháng Tám chú làm trung đội trưởng du kích Xóm Chợ. Sao chú lại dại dột làm phản động? Chú là con rể ông Hệ làng tôi, Ông Hệ có sân gạch nhà ngói và có đua đòi tham gia vài cuộc họp kín của tổ chức Quốc Dân Đảng. Chú Trường là con rể, ắt phải lui tới nhà bố vợ, thì cái lô gích đơn giản là chú Trường có “liên quan với bọn phản động”. Một trong những phương pháp đấu tranh là phải trị bọn “liên quan”, phải chặt cho hết cành hết ngọn, cuối cùng sẽ trở ra cái gốc - đến lúc đó sẽ dễ dàng đào bật gốc. Với phương pháp này, chú Trường đương nhiên nằm trong diện bị đấu!
Rút kinh nghiệm ở làng tôi, cán bộ đã làm công tác tư tưởng cho nông dân Xóm Chợ tốt hơn, kỹ càng hơn. Cho nên nhiều người cùng lên tiếng “tố cáo”, cùng lên tiếng “vạch mặt”. Đến như o Ải bị tật khoèo tay khoèo chân, lúc nào cũng nhỏ nước giải
mép, cả đời không nói năng với ai được một câu ra hồn, cũng xông vào gí cải củi tay lên đầu “bọn phản động”, giơ cái chân khoèo đá vào mông “bọn phản động” một cái, rồi chạy ra.
Không những chỉ người trong Xóm Chợ lên tiếng, mà người các làng khác cũng đồng thanh đấu tranh. Đặc biệt là tụi thanh niên mới trưởng thành đấu tranh rất hăng hái. Lực lượng này phải là đội ngũ xung kích của cuộc đấu tranh chính trị. Những đứa cùng lứa tuổi cùng bạn bè với tôi tranh nhau vào “vạch mặt”. Đứa nào cũng quát rất to cũng đỏ gay mặt. Có đứa sau một đêm đấu tranh thì cổ khản đặc. Các đồng chí lãnh đạo đánh giá rất cao tinh thần cách mạng của thanh niên và chọn một số để bồi dưỡng kết nạp Đảng.
Tôi cảm thấy ngượng vì mình không mạnh dạn như các bạn. Tôi quay sang nhìn thằng Bá, thấy Bá vẫn đứng im. Nó cũng bị cái tật rụt rè như tôi. Mấy lần tôi đã nhầm sẵn trong óc vài ba câu để xông ra đấu tranh, nhưng mỗi lần nhóm bàn chân lên định chạy vào thì bỗng nhiên như có sức nặng vô hình nào đó tì xuống, thế là thôi, lại đứng im. Nếu tôi xông vào thật, tôi cũng phải hò hét, phải giơ chân giơ tay, bao nhiêu cặp mắt chăm chăm nhìn vào mình, xấu hổ lắm... Trước đây, chi bộ đánh giá tôi là một thanh niên có nhiều triển vọng để kết nạp Đảng, qua cuộc đấu tranh này vai trò của tôi bị lu mờ, những đứa từng bị coi là lổ láo ba gai, nhưng bây giờ hăng hái lên vạch mặt bọn phản động, thì được xếp vào hàng ngũ tích cực hơn tôi.
Trưa hôm sau, Bá và tôi lên lèn Hai Vai gánh đá về nung vôi, dừng lại nghỉ ở của trường. Sân trường vắng tanh vắng ngắt. Nhớ lại cái không khí hừng hực lửa đêm qua và thoảng mùi tóc khét thịt khét càng làm cho tôi gây gấy lạnh khi đứng trước cảnh vắng vẻ này. Chẳng hiểu sao tôi lại muốn vào phòng học cũ, bèn rủ Bá cùng vào. Hai đứa bước lên thêm, ngập ngừng, tôi mạnh dạn mở cửa phòng. Cửa không khóa. Phòng trống rỗng, tất cả bàn ghế đã xếp chồng chất ngoài hè, tạm dành phòng cho bà con nông dân tổ chức đấu tranh... Kia, trong góc phòng có ai kia? Linh cảm ngay được đó là người bị đấu tối hôm qua, chúng tôi bước đến. Thì ra o Đa, vợ chú Trường, đang chăm sóc cho chồng. Trời buốt giá, chú nằm trên sàn xi măng trải chiếu, đắp tấm chăn chiên và nhiều mảnh. 0Đa lớn hơn chúng tôi đến gần chục tuổi, nhưng là chi dưới, cho nên gọi chúng tôi bằng “anh”. 0 xụt xịt lau nước mắt: “Sao các anh lại dám vào đây? Cha nó chết mất... Tôi lụi cụi làm ăn suốt ngày, có biết cha nó đi làm phản động phản điệc gì đâu. Cha nó cũng hiền lành... Sao lại đến cơ sự này? Cha nó mà chết thì tôi nuôi nổi làm sao mấy đứa nhỏ...” Chú Trường trùm kín chắn, khe khẽ rên. 0 Đa kéo chăn cho trồi đầu chú để bón cháo. Tôi choáng váng khi nhìn thấy chú: tóc cháy lam nham, da mặt bị bỏng rọp từng mảng, ri rỉ nước. 0 Đa bón từng tí cháo. Chú Trường nhắm nghiền mắt, mấp máy liếm môi. Khó khăn lắm chú mới nuốt được một giọt cháo trôi qua cổ họng...
Người qua bến đò Yên Nhân, qua bến đò sông Bùng, người đi chợ Lèn, chợ Chùa, chợ Bông đều bàn tán về cuộc đấu tranh dữ dội này. Ngồi ở đâu người ta cũng bàn. Cứ hai người trở lên là bàn tán. Đục đá cũng bàn. Chẻ củi cũng bàn. Tát nước cũng bàn. Thậm chí hai người ngồi ia gần nhau, đứng đái gần nhau cũng bàn. Cuộc đấu tranh chính trị đã chi phối mọi sinh hoạt và suy nghĩ của con người.
Tiếng đồn thổi khắp thiên hạ: xã Nho Lâm đấu tranh ghê gớm lắm. Chập choạng tối, người ở các làng các xã khác đổ dồn về đó như đi dự dạ hội. Làng Hậu Luật mở ra cuộc đấu tranh thí điểm đã làm rung chuyển dư luận, nhưng so với Nho Lâm thì không thấm vào đâu.
Nho Lâm nổi tiếng với lò rèn cổ nhất nước ta. Cách đây trên hai nghìn năm, ông Lư Cao Sơn về đây cắm đất dựng lò. Cho đến nay, hầu hết dân cư vẫn làm nghề thợ rèn. Những đôi vai gánh quặng nổi dan như chiếc bánh dây. Những cánh tay quai búa rắn chắc như gỗ lim. Sống với quặng với lửa, với sắt thép, tính tình con người cũng trở nên cứng cỏi, kiến nghị. Họ đã từng nổi tiếng bởi những trận liều mạng đánh Tây đánh Nhật... Ở đây có nhiều điền chủ lớn và có nhiều người học hành đỗ đạt cao. Đặng Văn Hưởng là một quan chức cao cấp của chính quyền thực dân Pháp. Sau cách mạng tháng Tám, cụ Hồ mời ông giữ chức bộ trưởng không dự bộ nào - Nhưng ông chưa hề đặt chân tới Việt Bắc. Ông nằm ở nhà ăn lương của chính phủ kháng chiến, ngấm ngầm tổ chức Quốc Dân Đảng và chỉ đạo các hoạt động chống cách mạng. Khi cuộc đấu tranh chính trị nổ ra, người ta tóm cổ ống đồng thời tóm cổ hàng loạt người khác là tay chân thực sự của ông, nhưng nhiều người nghèo khác bị nghi oan là “liên quan” cũng bị tóm cổ.
Xã Nho Lâm đất rộng và dân đông, bề rộng của xã có tới gần năm kilômét. Phải che rạp làm trường đấu. Nhưng rạp không thể chứa nổi lượng người quá lớn. Người trong xã ùn ùn kéo tới.
Trời rét mà người chen nhau toát mồ hôi.
- Đặng Văn Hướng đâu? - Đặng Văn Hướng đâu?
Người xô nhau, công kênh nhau, nhón chân vươn cổ để xem mặt Đặng Văn Hướng. Nhưng làm gì còn có Đặng Văn Hưởng ở đây nữa. Khi nhân dân tố thì cấp trên liền ra lệnh cho dân quân giải Hướng đi biệt tận đâu đâu rồi. Chỉ còn lại ở đây những tên tép riu và cả những người bị nghi là tép riu của Hướng. Lý luận đấu tranh giai cấp vẫn thế: chặt sạch cành, chặt sạch ngọn, cuối cùng trơ ra cái gốc thì dễ trốc đổ. .
Tụi làm phản động ở Nho Lâm sao mà đông đến thế! Đông hơn nhiều so với các xã khác. Một lũ ngồi lúc nhúc ở giữa vòng vây người nung nấu căm thù, nóng nực như vòng lửa.
Người xem đông quá là đông. Sóng người xô dồn lên, rồi lại dạt ra phía sau, rồi lại cuộn xoáy, ôm nhau, níu áo nhau, đạp lên nhau. Không thể nào nghe được dân quân đang tra khảo tội nhân điều gì, chỉ nghe những tiếng quát lớn “Mi có thai không? Mi có khai không?” trộn lẫn với tiếng đấm đá tiếng thụi uỳnh uynh.
- Mi có thai không? - Ứ... ứ... - Mi có khai không? - Ú... Ú... - Mi cỏ khai không? -Ú... ú...
Kìa! Lại cái món tra tấn cổ điển khơi đầu từ làng Hậu Luật: treo ngược người có tội! Những kẻ hung hăng đứng xung quanh tha hồ giơ chân đá vào đầu, người có tội xuýt từ bên này qua bên kia. Vì nhiều người đá, cái dây bị xoắn lại và cái xác người treo ngược cũng bị quay tít mù như một thứ đồ chơi kỳ quặc.
“Tổ cha cái đồ phản động cái đồ Việt gian!”, có người hét to như muốn vỡ ngực vở họng. Chính cái người hét ấy đang ôm một gốc cây phi lao sần sùi mấu lao từ trên bức tường xuống như con mãnh thú vồ mồi, giơ cao gốc cây phang một cú vào ngực người bị treo ngược. Người bị treo ngược rú lên một tiếng thất thanh và hai tay rầy như con nhái trước lúc chết. Thịch! Sợi dây đứt. Người bị treo ngược rơi xuống, sọ đập lên nền đất lổn nhốn cứt sắt.
Cả rừng người đột nhiên lặng thinh như một trận chết thình lình ập xuống, đè nặng, day nghiến làm cho họ không chịu đựng nổi và thốt ra tiếng xuýt xoa kinh hãi.
Người bị treo ngược bây giờ thành cái xác nằm sõng soài trên đất và chắc chắn không còn thở được nữa. Vẫn chưa hết sự đày đọa! Lại có một người khác hùng hùng hổ hổ lách đám đông, xô ngã đám đông dạt ra hai bên, không nói không rằng, lù lù như cái trục lăn, tiến đến cạnh cái xác và ôm cái xác ném qua bức tường rơi cách xa đến vài ba mét. Toàn thể đấu trường im lặng ngột ngạt như địa ngục, im lặng đến nỗi người ta nghe được tiếng cái xác rơi bên kia bức tường. Thằng Bá đứng cạnh tôi bỗng thốt ra tiếng rú. Tôi giơ tay bịt miệng Bá. Bá kéo tôi ngồi thụp xuống. Hồn vía tôi bị thần chết cướp mất rồi. Tôi không về nhà. Tôi vào ngủ ở nhà Bá. Thâu đêm suốt sáng không một giây chợp mắt. Nằm bên cạnh nhau, tôi cảm thấy người Bá lạnh như một khối băng. Thỉnh thoảng tôi rùng mình... Người bị treo ngược... cái gộc phi lao phang vào chính giữa ngực... Hai tay người bị treo ngược run lẩy bẩy như chân con nhái run trước lúc chết... Con người là động vật cao cấp, khi loài động vật cao cấp đó hiện nguyên hình là giống động vật trần trụi thì bản chất độc ác bị kích dậy đến tột cùng man rợ. Lịch trình tiến hóa của nhân loại có phải là lịch trình đấu tranh giai cấp hay lịch trình đấu tranh giữa cái lương thiện và cái độc ác ngay trong mỗi một con người?... Bá Tủ lên một tiếng kinh hoàng. Tiếng rú xé rách đêm khuya. Chân Bá đạp rách cái chăn vá. Rồi Bá chạy hốt hoảng ra sân. Tâm thần tôi cũng hoảng loạn, chạy theo Bá. Bá húc đầu vào bức tường, toạc trán, chảy máu. Chó sủa náo động cả xóm. Các gia đình tưởng có chuyện gì nguy biến, người lũ lượt đổ ra sân, ra ngõ, ra đường...
Mẹ tôi đi chợ Lèn về, mặt tái nhợt, báo tin: - Cậu Quế chết rồi!
Sao? Cậu Quế chết rồi à? Tôi bủn rủn cả người, hỏi lại mę:
- Cậu Quế chết rồi à? Bố tôi, chị tôi, em tôi... Cả nhà xúm quanh mẹ: - Cậu Quể chết? - Sao lại chết? - Chết từ bao giờ?
Mẹ ngồi thì người bên rổ rau cải. Mẹ nhìn tôi, mặt iu xìu:
-Cậu Quế của con chết rồi!... Người ta đấu ác quá. Nửa đêm, cậu vào chuồng xí thắt cổ chết!
- Ai nói với mẹ?
- Người làng Quang Trạch đi chợ, tìm gặp mẹ, nói nhỏ vào tai mę...
Thì ra thế! Tôi thở dài... Cuộc đấu tranh ác nghiệt này đã bén lửa vào mái nhà yên ấm của tôi. Cậu Quế là em trai thứ ba của mẹ tôi. Mỗi lần theo mẹ về bên ngoại ăn giỗ, thế nào cậu cũng cho tôi tiền, hoặc một quả mít, một cái mũ ca lô, một đôi dép cao su “con hổ”. Cậu thương tôi lắm vì tôi ngoan ngoãn và chăm học. Có lần cậu gọi tôi lên núi, bắt cho tôi mấy chú sáo đen, nhốt vào cái lồng tre xinh xắn, bảo tôi mang về bên nội. Cách đây mấy năm, huyện cho tôi sang Trung Quốc học ngân hàng. Vừa nghe tin, cậu liền đem quà xuống: bộ quần áo mới, cái cặp da, đôi giày vải. Cậu xoa đầu: “Cháu sang bên đó nghe lời bác Mao học cho giỏi, sau về mà kiến thiết nước nhà”. Tôi rơm rớm nước mắt, cảm thấy vừa như ân hận vừa như phụ lòng cậu: “Thưa cậu... Cháu nói với huyện là cháu không đi. Cháu nhớ nhà lắm”. Cậu Quế tỏ vẻ ngạc nhiên: “Sao cháu lại dại thế? Cả huyện chọn được ba đứa. Sang đó học sướng như trời mà cháu lại từ chối... Có ai dại như cháu...”. Mới đó thôi, tình thương của cậu, bàn tay của cậu, ánh mắt của cậu, bỗng chốc thành xa xưa.
Mấy năm vừa rồi, người ta phá sạch đền chùa, cậu Quế lại lập bàn thờ Phật trong nhà. Người ta nghi là cậu chống lại chính quyền nên mới lập bàn thờ Phật. Bị dân quân bắt ra đình cho dân làng Quang Trạch đấu. Tra khảo cậu, cậu không khai - vì có biết gì đâu mà khai. Càng không khai, cậu càng nếm đủ mọi món đòn tra tấn: treo ngược lên xà nhà, trói vào gốc cây, hắt nước bẩn vào mặt. Nhục nhất là cậu bị mấy mụ đàn bà tốc váy trùm lên đầu. Hàng tháng trời cậu bị giam, không được về nhà. Đêm hôm ấy cậu xin phép người dân quân gác cho đi ia. Người dân quân ngủ quên, sáng dậy, không thấy cậu ở đâu cả, chợt mở chuồng xí, thì thân hình cậu đã cứng đơ treo lủng lẳng bởi sợi dây thừng. Lúc sắp chết cậu bị treo ngược, lúc chết rồi cậu bị treo xuôi. Mọi người đồn khác: cái số cậu vừa bị thiên thần vừa vị hạ thần hành hạ.
Cậu Quế chết rồi! Tê điểng cả người tôi. Gia đình không dám xuống báo tin cho mẹ. Quê nội và quê ngoại chỉ cách nhau hơm ba kilômét, mà không dám liên hệ với nhau giữa lúc xã hội đang tràn đầy sự nghi kỵ. Mẹ tôi đi chợ, người làng Quang Trạch không dám đàng hoàng báo tin cho mẹ. Một bà thây mẹ đang mua rau, len lén đến ngồi bên cạnh vờ mua rau, ghé vào tai mẹ thì thầm cái tin khủng khiếp ấy.
Cậu Quể chết rồi! Từ nay tôi về quê ngoại không được gặp cậu nữa. Vả lại, với không khí nghi kỵ này chẳng biết đến bao giờ tôi mới được đặt chân vào gian nhà ông bà ngoại tôi, cậu tội, mợ tôi. Cậu chết đi, để lại bốn em nhỏ. Mợ Quế chưa đầy ba mươi tuổi, liệu mợ có chịu đựng nổi tình cảnh gia đình thê thảm cho đến hết đời?....
Mẹ ngồi thì người hàng tiếng đồng hồ. Cả nhà cũng ngồi im lặng như bụt. Trưa rồi, chẳng ai buồn nấu cơm ăn. Mẹ uể oải đứng dậy, thở dài:
- Mẹ phải về lo tang cho cậu...
Chị tôi hỏi: - Chúng con cũng pải đi chứ? Mẹ lắc đầu: - Thôi... một mình mẹ... Người chị thứ hai vô tình nói một câu:
• Liệu mẹ về lo tang cho cậu thì Đảng có kỷ luật mẹ không?
Mẹ òa khóc:
- Chẳng thà mẹ chịu mất Đảng... Mẹ là con cả của ông bà mà không về thì cả họ hàng làng nước người ta chửi cho thối óc...
Vừa nói mẹ vừa ôm mặt khóc rưng rức. Có lẽ bị nén qua nhiều cơn đau đớn, qua vụ thuế khả năng, qua việc chú xã Thọ bị hành hạ, bây giờ mẹ mới bật miệng thốt ra một câu thành thật “Chẳng thà mẹ chịu mất Đảng...” Nhưng rồi dường như trong đầu mẹ chợt lóe ra một tia sáng lý trí, mẹ dặn lại: “Mẹ nói gì chỉ trong nhà biệt thôi, đừng lộ cho người ngoài biết”. Rồi mẹ đội nón lủi thủi về ngoại. Bản năng thôi thúc, tôi chạy theo mẹ ra đến tận đầu ngõ:
- Con cũng về đưa tang cậu...
Mẹ quay lại: - Con đừng đi...
Tôi đứng lặng người nhìn theo mẹ. Thế là cả nhà tôi chỉ một mình mẹ về ngoại đưa tang cậu Quế. Ai đã tạo ra cái hố ngăn cách này giữa tôi và cậu tôi? Nước mắt tôi cứ dào ra hết đợt này đến đợt khác. Nước mắt cháu vẫn còn mặn lắm cậu Quế ơi. Dẫu có sức mạnh hung hãn nào dọa nạt, nước mắt cháu vẫn không bao giờ nhạt như nước mưa...