Trường học xa nhà ba mươi kilômét. Tôi phải mang gạo đi trọ, chiều Chủ Nhật đến trường, chiều Thứ Bảy về. Lớp học
trong một ngôi đền bỏ hoang. Học sinh tự túc bàn ghế: bàn xếp, ghế xếp bằng gỗ tạp, lúc vào học thì mang vào, lúc tan học thì mang về. Lích kích lắm, vai bên này mang cái bàn, vai bên kia mang cái bị cói đựng sách vở, tay xách ghế. Đang ngồi học, có lúc chân bàn choãi ra, bàn sập xuống, mực đổ nhòe nhoẹt cả trang vở.
Trận đói ập đến. Cái cảnh ở trọ của học trò nghèo thật vô cùng cơ cực. Bụng đói meo, học đến tiết thứ ba, thứ tư thì mắt
mờ tay run. Đêm nào cũng thức khuya bên ngọn đèn dầu, bụng đói, muỗi đốt, có dạo lại bị sốt rét vàng da, phải tiêm kỷ ninh ù cả tai. Ban ngày, ngoài giờ lên lớp, chúng tôi phải vào rừng thông thái củi, ra đồng hái rau khoai. Nông dân cũng đi hái rau khoai, rau má rất đông. Rổ ngọn khoai của chúng tôi đầy quá, phải lấy nón đậy lại để khỏi xấu hổ. Nhiều ngày chỉ dám dùng một bát gạo, chia đều ba phần nấu làm ba bữa, nồi cháo lều bều gạo với ngọn rau khoai, ăn nhểu nháo để có cảm giác là mình đã ăn. Một bao diêm có thể dùng hàng tháng, tôi xin được lưỡi dao cạo, nhẹ tay chẻ dọc que diêm, hai nửa đều có thuốc... Bà chủ nhà thấy chúng tôi ăn khổ quá, thỉnh thoảng xới bát cơm mời chúng tôi ăn với cá. Ở trọ hàng năm như vậy, thế nào chủ nhà cũng có ngày giỗ. Gặp ngày giỗ, trời ơi, sướng biết chừng nào. Sáng dậy, bà chủ đã vo nếp và nói với chúng tôi: “Hôm nay nhà có giỗ, cháu đi học nhớ về sớm ngồi cỗ với gia đình cho vui”. Cái buổi học ấy, khó mà tiếp nhận bài giảng của thầy, bụng bồn chồn trông cho chóng hết giờ. Cô có nhiều nhặn gì đâu, vài đĩa thịt gà luộc, vài đĩa xôi - đối với học trò nghèo, thế cũng thần tiên lăm rồi. Cộng thêm vào thái độ trịnh trọng của vợ chồng bác chủ nhà, mùi hương thơm, ngọn đèn liu hiu trên bàn thờ, tôi càng thấy xúc động và nhớ nhà vô kể, nhớ cha mẹ, nhở tuổi thơ...
Hằng tuần, chúng tôi chờ đợi ngày Thứ Bảy như chờ mẹ đi chợ về. Mười hai giờ tan lớp, chẳng ăn uống gì cả, chúng tôi cuốc bộ một mạch ba mươi kilômét, lòng phơi phới, chân bước nhanh. Cái cảnh đi bộ của lũ học trò chúng tôi chẳng khác gì những người dân quê đi bộ gần trăm cây số lên miền ngược để làm thuê. Mấy bạn nữ nhiều lúc theo không kịp, phải gọi: “Chờ chúng tôi với, các cậu đi không có tình cảm gì cả”. Có lần, về dọc đường, đói hoa cả mắt, chúng tôi đánh liều rủ nhau vào ruộng ngô vờ ngồi ia để bẻ ngô non ăn. Lúc đầu, mấy bạn gái còn xấu hổ, vờ làm bộ làm tịch, nhưng rồi cũng không chịu được cơn đói hành hạ, đành theo bọn con trai chúng tôi đi bẻ trộm ngô non,
Ở nhà, mẹ cũng thường đợi tôi vào chiều Thứ Bảy. Nếu bạn việc phải đi vắng, mẹ để phần sẵn cho tôi một bát khoai khô xéo với đậu hoặc mấy củ khoai luộc hoặc bát cơm nguội. Dẫu có túng thiếu đến mấy, mẹ cũng mua một ít thịt hoặc một ít cá kho mặn để tôi ăn ngày Chủ Nhật. Niềm vui của mẹ là loay hoay làm thức ăn để tôi mang đi ăn cả tuần ở nhà trọ, món ăn tiện lợi nhất là tôm kho thật mặn còn lổn nhổn muối, con tôm cứng lại, để hàng tuần không bị thiu. Ăn như thế thành quen, tôi thấy ngon miệng, về sau rất khó ăn nhạt. Nếu ăn dè mỗi bữa ba con tôm thì có thể ăn được gần cả tuần, nhưng thường ngồi học đến mười giờ đêm, bụng đói, đem tôm ra ăn, chỉ vài ba hôm là hết sạch. Và món ăn dự trữ tiếp theo là rau khoai rau má ngoài đồng.
Chưa bao giờ gia đình tôi gặp khó khăn đến thế. Mới tháng Giêng mà chỉ còn một chum thóc. Gần ba tháng nữa mới có lúa gặt. Với chum thóc ấy cả nhà tôi chỉ ăn chừng nửa tháng nữa là hết. Đôi lúc tôi có ý định bỏ học. Mẹ khuyên răn, dỗ dành, tôi đành tiếp tục học.
Tinh thần cách mạng của bà con dân làng có tác động rất lớn đối với tôi. Tuy đói, vẫn có đông người xung phong đi bộ đội, đi dân công. Làng huy động đi đào ao, đắp bờ, phá đình, phá chùa, chặt cây, họ vẫn tham gia đầy đủ, dẫu bữa ăn tập đoàn chỉ đơn sơ vài bát cơm và mấy đĩa cà. Điều đặc biệt là hầu như tối nào cũng họp, cuộc họp nào cũng rất đông. Hôm nay họp để nghe giải thích về chính sách tiết kiệm, mai học tập chính sách thuế nông nghiệp, ngày kia nghe phổ biến tin chiến thắng... Họp nhiều quá, có người đâm ra nghiện họp, cứ chập choạng tối là ngong ngóng nghe loa gọi mời họp. Thinh thoảng có đêm không đi họp, dĩ nhiên là không có tiếng loa gọi, nhiều người vẫn rủ nhau tới địa điểm họp ngồi quanh nùn rơm, điếu thuốc lào chuyền tay nhau hút sòng sọc. Sang trọng hơn nữa là có thêm ấm nước chè xanh nấu trong nồi đất, người này uống, người kia uống, uống cho đến lúc nước nhạt phèo, trong nồi chi còn trơ cái bã lá nát nhừ.
Nội dung của cuộc họp trong vụ đói này là “đấu tranh phát hiện thuế khả năng”.
Người điều khiển những cuộc họp này là chú Văn mắt toét, chi hội trưởng Nông Hội. Sở dĩ gọi là Văn mắt toét vì làng tôi có hai người tên Văn. Chú Văn chi hội trưởng từ lúc nhỏ đến lúc lớn mắt luôn luôn toét nhoèn, để phân biệt với Văn kia, người ta thường gọi Văn này là Văn mắt toét. Đi ở, làm thuê hầu như trở thành cái nghề của chú. Hết vụ này sang vụ khác, hết năm này sang năm khác, chú đi ở cho các nhà giàu. Nhiều năm chú đi ở rất xa, cuối năm trở về làng ăn tết dăm bảy hôm rồi lại tiếp tục đi ở. Từ khi cách mạng thành công, gia đình chú được chia vài sào ruộng công điện, chú chấm dứt cuộc đời đi ở làm thuê. Rồi chú được bầu làm chi hội trưởng Nông Hội. Chú có học bình dân học vụ, biết đọc biết viết võ vẽ dăm ba chữ, nhưng tất cả các văn bản đều phải nhờ người khác đọc cho nghe và viết hộ, chú chỉ việc ký một chữ “Văn” loèo ngoèo.
Chú Văn mắt toét tuyên bố lý do cuộc họp như sau:
“Tình hình vấn đề đòi hỏi hiện nay rất khẩn trương. Đa phần các đồng chí hội viên nông dân không còn lương thực và thực phẩm. Vấn đề đói rất khẩn trương như vấn đề hóa và vẫn đề thủy. Hội viên nông dân ta đi theo cách mạng thì không thể để vấn đề đói đe dọa, vấn đề là phải cứu đói như vấn đề cứu hóa và vấn đề cứu thủy. Vấn đề phải giải quyết một cách kiến quyết và triệt để tức là vấn đề hội viên nông dân ta phải đoàn kết nhất trí như sắt thép để tranh đấu lại với vấn đề đầu cơ tịch trữ để bọn đầu cơ tích trữ không thể ngồi mát ăn bát vàng để hút máu hút tủy hội viên nông dân chúng ta, Các đồng chí hội viên nông dân ta vấn đề là phải phát hiện ra cái bọn đầu cơ tích trữ đó, vấn đề là để chúng không đầu cơ tích trữ được nữa. Ai thấy ai có khả năng đầu cơ tích trữ thì nói ra, vấn đề là phải nói ra cho hết để bắt người có khá phải nộp thuế, vì thế chủ trương của cấp trên là phải làm thuế khả năng. Nhà ai thừa mười ta bắt nộp mười tạ. Nhà ai thừa năm tạ bắt nộp năm tạ. Nhà ai thừa một tạ bắt nộp một tạ...”
Chú Văn mắt toét nói xong, ngồi thở phì phò. Cả hội trường im lặng... năm phút... mười phút... mười lăm phút... Như thấy mình bị hẫng, chú đột ngột đứng dậy, vung hai năm tay, nói như búa bổ: “Vấn đề là hội viên nông dân phải biết đoàn kết. Giai cấp vô sản không sợ bất cứ ai. Vấn đề là thấy ai thừa thóc tích trữ đầu cơ thì cứ nói toạc ra để vấn đề là bắt họ phải đóng thuế khả năng”.
Một bà đứng dậy hỏi: - Bắt bọn đầu cơ tích trữ đóng thuế khả năng thì tôi có được chia thóc không?
Chú Văn mắt toét trả lời đanh thép: - Vấn đề là ai đói cũng được chia!
Một người khác: - Mùa vừa rồi, đồng lòng ta bị lũ lụt, sâu keo mất trắng, làm gì có gia đình nào thừa thóc để đầu cơ tích trữ.
Chú Văn mắt toét đùng đùng vung nắm tay về phía trước:
- Ông nói như thể là bao che cho bọn đầu cơ tích trữ, hút máu hút mủ của bà con hội viên. Vấn đề là phải vạch mặt chúng để chúng phải nộp thuế khả năng. Ai vừa bao che đó, có phải ông H. không? Tôi thấy ông H. còn khả năng, ông H. phải đóng hai ta.
Ông H. bật lò xo:
- Nhà tôi thì kéo cành rào từ đầu nhà đến cuối nhà không vướng cái chum cái bổ nào thì còn khả năng đâu nữa mà đóng
Mặt chú Văn đã đỏ lại càng đỏ hơn:
- Ông H. phải đóng hai tạ! Anh Bá thư ký ghi vào biên bản!
Ông H. chống chế:
- Bán cả gia tài điền sản nhà tôi cũng không được hai tạ thóc. Xin anh Bá chưa ghi biên bản vội.
Chú Văn đập bàn:
- Anh Bá cứ ghi biên bản! Ông bán gia tài điền sản không đủ hai tạ thì ông bán cái thân ông đi mà đóng thuế.
Cả hội trường im như chết. Rồi giải tán. Thế là cuộc họp đầu tiên về thuế khả năng kéo dài đến nửa đêm, mới được hai tạ thóc. Bà con vừa đói vừa mệt, lếch thếch ra về. Họ thì thầm với nhau: “Ông H. thì có mấy quyển sách chữ nho, mấy cái bút lông, chứ có cái ma gì mà bán để mua đủ hai tạ thóc đóng thuế...
Cái ông đồ ấy cũng đói meo như ta...”
Tôi nghỉ học đã ba ngày. Sáng nào mẹ cũng giục đi nhưng tôi nấn ná ở nhà để gánh đá thuê cho thợ nề làng Bút Trận nung vôi, được đồng nào tôi đưa cho mẹ đồng nấy. Mẹ không cầm: “Con góp lại, đem đến nhà trọ mua thêm thức ăn mà học, dạo này con gầy quá...”. Tôi vẫn giúi tiền vào tay mẹ, mẹ quay mặt đi và khóc.
Người tôi như tê dại. Giá tôi nghe lời mẹ thì tôi đã sang Trung Quốc học rồi. Năm ấy, cả huyện chỉ chọn tôi và hai đứa nữa đi học ngân hàng, vì gia đình tôi cũng có đóng góp ít nhiều cho cách mạng. Huyện gọi tôi lên và nói: “Nước nhà đang đánh giặc, cháu sang bên đó bác Mao nuôi cho ăn học để sau này về xây dựng tổ quốc. Như thế là cháu vinh dự lắm. Gia đình cháu là gia đình cán bộ thì cháu mới được chọn đi học nước ngoài”. Ông cán bộ huyện vừa nói xong, không hiểu sao tôi lại trả lời ngay: “Cháu xin cám ơn bác, cháu không muốn đi đâu. Bác cho cháu ở nhà”. Mẹ rất bất bình với tôi việc này. Mẹ khuyên can mãi, tôi vẫn nhất mực không nghe. Tôi cứ tưởng ở nhà ngày nào cũng đi cắm trại, tối nào cũng đi tập hát, thế giới đại đồng đến nơi rồi, cho nên tôi không muốn xa quê hương, đất nước. Ai ngờ có trận đói thế này. Mẹ phải vắt sức, vắt mồ hôi, chắt bóp từng đồng tiền, bát gạo để nuôi tôi ăn học.
Những năm cách mạng mới thành công, mẹ hăng hái tham gia công việc đoàn thể, công việc xã hội, lại xoay xở việc đồng áng, cửa nhà. Bây giờ tôi thấy mẹ có phần mệt mỏi. Càng ngày mẹ càng già càng gầy yếu. Tôi tưởng như thời gian đi qua trên gương mặt mẹ từng ngày từng giờ. Còn bao lâu nữa tôi mới học xong để kiếm đồng tiền nuôi mẹ. Thế giới đại đông càng ngày càng lùi xa. Chân mẹ gầy yếu thế làm sao mẹ đi tới được cái đích cao sang mà mịt mờ tít tắp ấy? Con có cảm giác như mẹ đang dẫn con đi trên dặm đường thiên lý sa mạc ngùn ngụt nắng gió, chốc chốc lại hiện ra trước mặt mình những lâu đài tráng lệ, nguy nga của ảo giác lừa dối, để rồi lại tiêu tan hy vọng, để rồi lại nuôi hy vọng hiện lên những tòa lâu đài khác...
- Con không đi học nữa đâu mẹ ạ, con ở nhà gánh đá thuê lấy tiền góp vào cho gia đình qua cảnh khốn khó này...
- Không được đâu con ạ! Con bỏ học thì sẽ ngu dốt suốt đời, khổ suốt đời! Cha con trước kia vác một cái song đi khắp tỉnh xắt thuê thuốc lào cũng không đủ nuôi gia đình. Muốn thoát cảnh này, cả nhà chỉ trông cậy vào sự học hành của con. Anh con đã đi bộ đội... còn ai nữa... Tự nhiên ngực tôi nóng ran, cổ nghẹn lại. Không nói thêm được câu nào, tôi loay hoay sắp sách vở để tiếp tục trở lại nhà trường. Chắc mẹ sung sướng lắm, mẹ tất tưởi đong gạo vào ruột tượng và đổ thức ăn vào ống nứa để tôi mang đi. Mẹ vừa làm vừa nước mắt chảy dàn dựa trên gò má nhăn nheo. Rồi mẹ vào buồng nằm, quay mặt vô bức vách. Tôi thẫn thờ đến mở ống nứa xem, thấy ống nứa đựng đầy thịt kho muối - thịt vụn một phần thì muối đến mười phần, mặn hoắc, nhưng đối với cảnh học trò trọ chúng tôi thì đây là món ăn sang trọng. Tôi lục khắp tất cả mọi ngóc ngách chum, vại, chỉ còn chục cân thóc và một ít khoai khô. Gạo thì hết sạch - mẹ đã dành tất cả cho tôi mang đi. Tối nay mẹ lại ăn khoai.
Trên đường đến trường, tôi nghĩ lan man về mẹ, về gia đình bà con thân thuộc và quê hương. Cái đất quê mình cực quá chừng. Đói và đói lưu cữu. Cứ tưởng cách mạng thành công thì dân làng mở mày mở mặt, không ngờ đói cứ xô nhau ập đến. Tình cảnh cũ trở lại, người ta lại lục tục kéo nhau lên Phủ Quỳ kiếm ăn và lúc trở về thì mang theo bệnh sốt rét và cổ trướng. Tôi nhớ bà Luyện nằm đói liệt mấy ngày, mẹ tôi đem sang cho một bát cà muối lẫn với củ chuối, nước đặc sệt đen ngòm. Bà run tay bưng bát cà ăn và liếm sạch, không còn một chút nước.
Tôi yên tâm học làm sao được? Bồn chồn đợi đến Thứ Bảy để về, Cái Thứ Bảy ấy, thật là kỳ lạ đối với tôi. Sáng dậy, không có chút gì vào bụng. Mười hai giờ trưa, học xong, tôi cuốc bộ một mạch suốt chặng đường nắng chói chang, không uống nước, cũng không dừng lại bẻ trộm ngô non. Nhớ nhà quá, nhớ quê quá, quên cả đói bụng.
Bước vào nhà, vắng tanh vắng ngắt. Bố mẹ đi đâu? Các em đi đâu? Năng lọt phên thưa rụng xuống những giọt vàng trên bếp tro lạnh. Bụi bay đìu hiu. Muỗi kêu vo ve. Lạnh ghê người. Lúc này tôi mới chợt nhớ từ sáng đến giờ không ăn không uống, cơn đói quẫy lên, bụng cồn cào. Tôi lục lọi tất cả nồi niêu, không tìm ra cái gì để ăn được. Tôi đành lấy điếu thuốc lào kéo một hơi dài, rồi nằm say lừ đừ trên nền nhà. Bà láng giềng sang xin lửa, gọi tôi dậy và cho biết cha mẹ tôi đi dự hội nghị đấu tranh thuế khả năng, còn hai em đi hái rau chưa về. Trời ơi! Lại thuế khả năng! Cả cái làng này, ai còn khả năng để đóng thuế? Mà cứ họp hành mãi, chẳng có biện pháp gì để chống đói. Cứ họp liên miên để rán sành ra mà ăn ư?
Tối. Tôi đi dự họp. Chú Văn mắt toét vẫn điều khiển hội nghị. Không khí căng thẳng. Hầu hết những người ngồi họp ở đây đều là những người đói. Người này biết người kia cũng đói như mình, nhưng vẫn hy vọng người kia cấu ra chút da chút thịt để mình ăn qua cơn hoạn nạn. Người này không nỡ làm việc đó, bụng rấm rứt, nhưng được ai đó kích động, cộng thêm vào tính ích kỷ bẩm sinh, nên đã nói liều rằng người kia còn dư hai tạ thóc, hoặc ba tạ thóc, hoặc bốn tạ thóc..
Chú Văn mắt toét tỏ ra rất kiên quyết. Hai tay giơ lên hạ xuống. Gân cổ nổi chằng chịt. Nói rất to. Phòng họp chỉ chừng năm chục người dự mà chú nói như diễn thuyết trước hàng ngàn người: “Vấn đề là phải chống đến tận gốc bọn tích cơ đầu trữ, bọn ngồi mát ăn bát vàng. Các đồng chí hội viên ta phải bới ra cho hết những ai tích cơ đầu trữ, lấy thóc về mà ăn, không thì vấn đề là chết đói cả nút. Mọi người phải thông hiểu vấn đề đến tận gốc ý nghĩa quan trọng của vấn đề. Ai đang chần chừ, biết người tích trữ đầu cơ mà không nói ra thì vấn đề là cứ ngồi đó mà đói nhăn răng...”
Chú dừng lại một chốc, thở rất to, rồi nói tiếp: “Những người có tên phải đóng thuế khả năng mà bà con đã phát giác mấy đêm trước, vấn đề là phải nộp mau mau, không thì thế này này - chú nắm chặt hai nắm tay, nắm này đấm vào năm kia - cứ cầm vô mà nện từ trên đầu nện xuống, nên cho đến khi nào mồm ợ ra mới thôi... Tôi nhắc lại ông Khương bốn tạ, bà Hương ba tạ, ông cụ Vân hai tạ...”. Những người này đứng dậy xin rút xuống số thóc phải đóng, ai cũng phân bua gia đình khó khăn. Chú Văn mắt toét cắt ngang: “Không rút xuống rút lên gì cả. Sáng mai vấn đề là phải đóng đủ, nộp đủ, không đóng thì thế này này - chú xắn hai ống tay áo, lại nắm chặt hai nắm tay, nắm này đấm vào nắm kia - cứ cầm vồ mà nện từ trên đầu nện xuống, nên cho đến khi nào mồm tra mới thôi...Anh Bá thư ký cứ ghi tên vào biên bản cho tôi”. Ông Khương đứng dậy: “Nông Hội rút bớt cho tôi, tôi xin mang ơn, nhà tôi cũng kiệt rồi”. Chú Văn mắt toét đập bàn một cái rất mạnh làm nhiều người giật mình: “Vấn đề là ông chống lại Nông Hội à? Ông sợ đóng bổn tạ ít quá à? Thế thì ông đóng năm tạ. Anh Bá ghi cho tôi, ông Khương năm tạ”.
Không khí nặng nề như núi đè lên đầu. Chẳng mấy ai muốn phát biểu ý kiến. Ông Hành Giật xin giơ tay: “Thưa với chú Văn, Nông Hội ta muốn thu được nhiều thuế khả năng thì cứ sang bên Bút Điền, Hà Cát mà lấy, bên đó nhiều tạ lắm, muốn lấy hàng chục tạ cũng được, còn làng ta chỉ toàn vỏ chứ moi đâu ra hạt mà nạp thuế”. Chú Văn mắt toét ngơ ngơ ngác ngác, chưa hiểu ông Hành Giật nói gì. Một lát sau, bà con cười ầm lên, thì ra ông ta nói hai làng Bút Điền và Hà Cát có nhiều người họ Tạ, còn làng Hậu Luật thì toàn họ Võ (phát âm thành vỏ). Chú Văn mắt toét vẫn chưa hiểu, nhưng thấy bà con cười nhiều, đoán là ông Hành Giật xỏ xiên gì mình, bèn quát tướng lên: “Yêu cầu ông Hành Giật phải nghiêm túc. Đề nghị bà con đừng cười. Cười là đồng lõa với bọn phong kiến, đế quốc. Vấn đề là...” Ông Hành Giật là tay nói trang nổi tiếng trong làng, bất kỳ ở đâu đông người, đào ao, đắp bờ, hội họp, ông đều nói những câu pha trò để gây cười. Chú Văn mắt toét vừa dứt lời, ông lại đứng dậy, mặt tỉnh bơ: “Tôi xin phát một ý kiến nghiêm túc. Làng ta có nhiều thì ra xóm chợ Mới vay hạt về đóng thuế”. Cả hội trường lại cười rộ lên: xóm chợ Mới có mấy người có tên cúng cơm là Hạt. Ông ta chẳng nể ai, đến tên cúng cơm của người ta, ông cũng mang ra để đùa cợt. Chú Văn mắt toét đỏ lừ mặt: “Ông Hành Giật coi chủ tịch hội nghị không ra gì cả. Vấn đề là trong đợt thuế khả năng này không chia cho ông một lạng thóc nào”. Vẫn chưa chịu ngồi yên, ông đối đáp rất nhanh: “Nông Hội không chia cho lạng nào thì xuống chợ Chùa tôi xin ăn bún ba tháng cũng chưa hết. Muốn ăn trăm lạng cũng được, nghìn lạng cũng được.” Ai còn lạ gì nữa, bà Hoe Lạng béo như cái bồ cạp thường xuyên ngồi bán bún ở chợ Chùa (!).
Không khí cuộc họp nặng như núi, bỗng chốc tan loãng như nước bởi những đợt cười chảy nước mắt nước mũi. Chú Văn mắt toét bị bao vây bởi những tiếng cười, chú giơ tay đề nghị phá cái hàng rào bao vây đó: “Bà con không nghiêm túc họp thì giải tán, không thuế khả năng khả niêu gì cả, chết đói cả nút...”. Lác đác một số người đứng dậy phủi bụi đít quân, định đi ra thì chú Văn mắt toét lại giơ tay lên: “Tôi xin đọc tiếp danh sách những gia đình có khả năng đóng thuế: Ông Điệt ba tạ? Bà Đoan ba tạ...”. Bà Đoan ba tạ? Bà Đoan ba tạ? Bà Đoan ba tạ? Nông Hội bắt mẹ tôi đóng thuế khả năng ba tạ thật ư? Như bị một cơn sốc, tôi choáng đầu choáng óc. Căn cứ vào đâu mà họ bắt mẹ tôi đóng ba tạ? Con số ma. Con số bịa đặt. Con số cưỡng bức. Búa bổ lên đầu tôi cũng chỉ choáng đến thế là cùng. Mẹ tôi đứng dậy, giọng nói run run: “Xin bà con dân làng xét cho thấu đáo. Cả nhà tôi chỉ còn hơn mười cân thóc với vài chục cân khoai khô...”, Chú Văn mắt toét cắt ngang: “Ba tạ! Ba tạ! vấn đề là bà phải gương mẫu”, Giọng nói của mẹ tôi như nhúng trong nước mắt: “Từ khi cách mạng giành được chính quyền đến nay, tôi chấp hành nghiêm chỉnh mọi chính sách của nhà nước, của Nông Hội. Nhưng bây giờ thì quả là tôi không còn một chút khả năng để nộp thuế nữa. Không tin, mời Nông Hội vào nhà tôi khám xét. Sợ tôi cất giấu của cải thì xin Nông Hội vào khám ngay bây giờ...”. Vừa nói xong, mẹ tôi ngồi thụp xuống, ôm mặt khóc. Chú Văn mắt toét cười gằn: “Không còn thóc thì bà gỡ sân gạch bán mà nộp thuế. Vấn đề là khối người còn đói hơn bà. Vấn đề là bà còn giàu gấp vạn nhà tôi”.
Bá đang làm thư ký, bật dậy nói: “Tôi biết, tôi biết, nhà bà Đoan cũng đói lắm. Lúa hết. Gạo hết. Khoại hết. Còn gì nữa mà đóng”. Bá chơi với tôi từ nhỏ. Bây giờ Bá vẫn thân với tôi, thường vào nhà tôi chơi, gia đình tôi giàu nghèo sướng khổ thế nào Bá biết rất rõ. Tính Bá thành thật và thẳng ruột ngựa, thấy gì nói nấy, nói toạc ra sự thật. Nhiều người tin lời nói của Bá, xì xầm: “Anh Bá nói đúng. Nhà bà Đoan còn thóc với thếch gì nữa mà đóng”.
Chú Văn mắt toét hơi lúng túng, rồi trấn tĩnh ngay, giọng chú nói chan chát như đinh đóng cột: “Thôi được, vấn đề là chiếu cố gia đình cán bộ, rút mức thuế cho bà Đoan từ ba tạ xuống hai tạ”. Bá đối chát: “Hai tạ! Hai tạ! Mang bồ mang chum ra mà đóng thuế à? Nhân đà đó, mẹ tôi lại mếu máo: “Xin Nông Hội vào khám nhà tôi ngay tối nay xem còn được mấy hột thóc. Nếu bắt tôi đóng thì tôi xin khất đến mùa”. Chú Văn mắt toét xắn ống tay áo: “Bà là cán bộ, bà phải gương mẫu. Người ta đang đói lăn chiêng mà bà lại nói đến mùa mới nộp. Vấn đề là cho bà khất ba ngày. Bà không đóng thì thế này này - chú nắm chặt hai nắm tay, nắm này đấm vào nắm kia - cứ cầm vồ mà nện từ trên sọ nện xuống cho đến khi mồm ợ ra mới thôi”.
Đêm hôm ấy, nhà tôi như có đám tang. Cha nằm thở dài. Chị dâu ngồi dưới bếp, gục mặt lên hai đầu gối. Mẹ nằm trên võng, một lát đi ra rồi lại đi vào. Tôi nằm trên chiếc chống tre đặt đầu hè. Ánh trăng hạ tuần nhợt nhạt. Muỗi kêu vo ve. Chuột chạy rúc rích. Tôi buồn nẫu gan nẫu ruột, suy nghĩ lao lung. Chú Văn chẳng phải là người độc ác. Cui đánh đục đục đánh sắng, cấp trên dội xuống cho chú thì chú phải làm. Từ tám tuổi chú đã phải bán sức lao động cho thiên hạ để kiếm miếng cơm manh áo. Khi bác Chắt kế cắm cờ khởi nghĩa trên cây phượng nhà thờ đại tôn, chú đang cày thuê, bỏ chạy về tham gia đoàn biểu tình, Mấy lần chú xung phong đi bộ đội, chỉ vì mắt toét mà chú không trúng tuyển... Tôi cứ nghĩ lẩn thẩn, giá mắt chứ không toét, chú đi bộ đội thì đêm nay gia đình tôi đỡ khổ, mẹ tôi đỡ khổ. Nhưng mà chú được đi Vệ Quốc Quân, thì có người khác thay chú, cũng quát mắng mẹ tôi như chú. Biết đâu người thay chú lại ác hơn chú thì sao?
Nghe tiếng võng cọt kẹt, tôi biết mẹ đang nằm. Khi tiếng Võng im, tôi biết mẹ ra sân. Tôi đã từng nằm trên chiếc võng ấy và mẹ đã từng nghiêng xuống đời tôi che chở cho tôi bằng bao nhiều niềm vui nỗi khổ lớn lao như trời bể. Con lớn rồi, cờ cách mạng về rồi, cứ tưởng đời mẹ dần dần bớt khổ. Có ngờ đâu khi con rời chiếc võng ấy thì mẹ lại nằm lên đó với nỗi buồn nặng nề, nỗi buồn vô hình, nỗi buồn không cắt nghĩa được. Ngày mới cướp chính quyền. Mẹ hăng hái biết chừng nào, mẹ cùng các đồng chí tạo lập nên cái thế giới đại đồng với sức tưởng tượng tràn đầy lãng mạn. Bây giờ lòng mẹ đã trâm xuống, niêm hưng phấn đã giảm đi rất nhiều, mẹ vẫn cần mẫn nấu cơm cho cán bộ, cho thương binh vào ở nhà mình, mẹ vẫn không vắng mặt một cuộc họp chi bộ nào, mẹ vẫn gương mẫu trong mọi việc làng việc xã. Nhưng cái thuế khả năng nay mẹ gánh làm sao được? Mẹ gương mẫu làm sao được? Thóc vét đến tận đáy bồ rồi!... Tiếng võng im. Và bước chân mẹ đi rất nhẹ đến bên giường cha đang nằm. Cha gối đầu lên chiếc gối gỗ của ông đồ nghèo xứ Nghệ đã từng đỡ cái đầu chứa đựng những luân thường đạo lý Khổng Mạnh, bây giờ cái gối cũ kỹ ấy vẫn hằng đêm đỡ cái đầu chứa đựng những giấc mơ Mã Khắc Tư - Liệt Ninh. Cha tôi vào Đảng chậm hơn mẹ tôi vài năm, vì cha có tính rụt rè, không xốc vác, không quyết đoán như mẹ. Các đồng chí trong làng thường bảo tinh thần đấu tranh của mẹ tôi cao hơn cha tôi. Những việc quan trọng trong gia đình thường do mẹ đề ra, rồi quyết định sau khi bàn bạc qua loa với cha... Bây giờ đây, hắn có việc gì quan trọng mẹ sắp bàn với cha? Đêm im lặng. Ngoài vườn, ri rỉ tiếng dế kêu và tiếng tàu chuối lất phất...
Mẹ cầm đèn dầu hỏa soi cho cha trèo lên gác khênh chiếc hòm gỗ xuống. Để làm gì nhỉ? Để làm gì giữa đêm khuya này? Câu hỏi xoáy vào ruột gan tôi. Chiếc hòm bằng gỗ trắc từ đời cụ đời kỵ để lại, màu gỗ đã trơn lỳ, nhẵn thín. Trong hòm đựng những đồ tể tự quý như đôi hạc đồng ngậm hoa sen, bát đĩa cố đời Tống đời Thanh. Mẹ vẫn cầm đèn soi để cha nhẹ tay sắp ra từng cái. Hằng năm, vào dịp tết Nguyên Đán và ngày giỗ ông giỗ cụ, cha tôi mới đem những thứ đồ cô này ra để cúng, rồi lại cẩn thận cất vào hòm Sao hôm nay nhân dịp gì mà cha mẹ lại đem những thứ này ra? Ngày mai có giỗ chạp gì đâu...
Tâm trí tôi hơi hoang mang. Tôi đi lang thang ra đường làng. Ánh sao mờ nhạt. Chó sủa vu vơ...
Sáu mấy tháng buồn chán, nghỉ học, hôm nay tôi trở lại trường, Thật tình mà nói vì thương cha thương mẹ mà tôi tiếp tục đi học, chứ tôi cũng chẳng nghĩ gì đến cái thế giới đại đồng mai sau tôi sẽ đem kiến thức ra để phục vụ...
Mẹ đã kho sẵn một mớ tôm mặn cứng lổn nhổn muối. Thằng Bá biết tôi sắp đi, ra đồng bắt lươn nấu với củ chuối gọi tôi tới cùng ăn. Bá dành một ít lươn còn lại kho cũng từng khoanh bỏ vào ống nứa để tôi mang đi. Chú cu Nhuyên láng giềng nấu khoai nếp xéo (khoai khô nấu trộn với nếp và đỗ), bưng sang cho tôi một bát. Mẹ tôi nói: “Hôm nay chú còn nếp với đỗ kia à? Chú trả lời: “Đến ngày bốn là giỗ ông, sống chết chi cũng phải mua một ít nếp để hương khói, tưởng là anh Trực ở nhà đến ngày đó sang uống chén rượu cho vui. Nhưng hôm nay anh đi thì bớt một ít nếp của ông để mời anh trước”. Mẹ rơm rớm nước mắt: “Chú làm thể có tội với ông”. Chú trả lời chân thành: “Biết là có tội. Nhưng cũng thương anh Trực lắm, đi học xa, ở trọ, đói kém...”
Sự chăm chút của mẹ cha, của làng xóm khiến tôi vừa xúc động vừa ngượng ngùng. Giá hồi ấy tôi nhận lời sang Trung Quốc học thì dễ cả làng kéo đến tiễn đưa. Đầm ấm sao tình thôn mạc nghĩa lân bàng.
Bá cứ ngồi mãi ở nhà tôi, im lặng, thỉnh thoảng mới nói một câu. Mẹ tôi vừa đổ khoai vào ruột tượng cho tôi vừa hỏi chuyện đá: “Cháu làm thư ký đợt thuế khả năng này có lẽ mệt lắm”, Chứa sẵn trong người sự bực tức, Bà nói như chặt trốc ếch: “Cháu xin thôi làm thư ký bà ạ. Cháu xin đi làm dân công ba tháng ở Lào, khỏe cái thân cháu. Chúng nó điêu lắm. Nhà bà không còn hột thóc nào, chúng nó cũng bắt đóng ba tạ. Moi ruột người ta ra mà ăn à!” Mẹ tôi kéo ghế ngồi gần lại, hạ thấp giọng: “Ai chẳng biết thế. Nhưng cả làng đang đói lăn ra. Cháu đừng đi dân công. Cháu gắng ở nhà giúp Nông Hội làm cho xong đợt thuế khả năng này”. Bá lại xăng giọng: “Thật thà thì cháu làm. Điều toa thì cháu thôi. Đói thì chịu đói chung. Chứ thằng đói lại xẻo thịt thằng đói để ăn là cháu không chịu”.
Tôi cảm thấy buồn nẫu cả người. Bá đi dân công ở Lào ba tháng ư? Thế là Chủ Nhật tới tôi về không gặp Bá. Thế là tôi phải xa Bá ba tháng. Ba tháng dài đằng đẵng. Sống mà thiếu bạn bè là tôi buồn lắm. Huống chi Bá là thằng bạn rất chân thành, thân với tôi từ những ngày chăn trâu cắt cỏ. Thứ Bảy nào ở trường về thế nào tôi cũng chạy ra nhà Bá ngủ và cùng ăn với Bá một bữa cơm. Để bữa cơm chung được mặn mà, Bá ra đồng bắt sẵn cá hoặc tôm hoặc lươn, ếch nấu sẵn đợi tôi về, Cái vị mặn mòi của ếch nấu với cà, lươn nấu với củ chuối trộn lẫn với mùi thơm của bạc hà, tía tô trở thành hương vị quê hương vô cùng đằm thắm.
Bá đội mê nón đi với tôi một quãng đường dài. Càng đi tôi càng thấm thía cái tình bạn chân lấm tay bùn. Nếu Bá cổ tích cực làm thư ký thuế khả năng cho Nông Hội thi Bá sẽ được chi bộ Đảng đánh giá là phần tử tích cực, được kết nạp Đảng, rồi được làm cán bộ xã. Nhưng bản năng trong sáng đã thúc giục Bá từ chối tất cả mọi sự cám dỗ ấy một cách tự nhiên.
Qua làng Nho Lâm, Bá kéo tôi vào chợ Cộ, moi mấy hào bạc nhăn nheo trong túi áo mua cho tôi một năm cá khô, Chợ này vốn thường bán cá biển và một ít đồ rèn, sao bỗng hôm nay bán nhiều đồ cổ đến thế. Tôi bùi ngùi nhớ lại bài hát dặm mẹ thường ru tôi hồi nhỏ:
Gặp năm lụt lội mất mùa Lúa khoai mất sạch tôm cua trắng đồng Khắp nam bắc tây đông Nghe kêu van chuyện đói Nghe phàn nàn chuyện đói
Cơ trời làm tội Đồ cộ (cổ) mang ra Bán hết cả ông bà Tổ tiên chi cũng bán Tổ tiên này cũng bán