Hôm nay cả làng nghi lao động để làm một trong những việc trọng đại nhất trong lịch sử làng: tập trung tổ tiên. Quy hoạch xây dựng lại làng xóm để người sống ở tập thể chưa thực hiện được, thì thực hiện trước cho những người đã mất. Đối với người sống, khó lắm! Chặt tất cả các cây cổ thụ chỉ mới là triệt hạ cái cũ, còn cái mới thì chưa dựng lên được. Muốn dựng một làng mới theo quan niệm thế giới đại đồng, phải có vôi có gạch, phải lắm tiền nhiều của để xây từng dãy nhà dài cho từng giới và từng lứa tuổi nam, phụ, lão, ấu. Lại cần phải xây một cái bếp thật lớn có nhiều nồi, nhiều bát đũa, nhiều mâm. Nhiêu khê lắm. Thôi, người đang sống cứ tạm Ở như vậy đã, mời hồn người chết tập trung về ở một nơi, dễ dàng hơn, chỉ một ngày là làm xong!
Phong tục hình thành bền vững hàng trăm hàng ngàn năm, nhưng “cách mạng” cái phong tục này lại quá đơn giản, tập trung bà con để giải thích ý nghĩa của công việc. Sáng hôm sau từng gia đình rước tổ tiên đến nhà thờ họ. Rồi từ nhà thờ họ, tổ tiên lại được trước đến nhà thờ đại tôn. Như vậy là cả làng chỉ có một nơi thờ tự, tất cả mọi bàn thờ cá thể bị phá bỏ.
Lũ trẻ chúng tôi nghỉ học. Tôi rủ Bá, Bàng, Thiều, Dân, Viễn... chạy lóng nhóng khắp làng để xem rước. Tôi cảm thấy sung sướng vô cùng. Từ ngày cách mạng thành công đến nay, kéo dài liên miên những chuỗi ngày hội hè, đời mở ra trước mặt một chân trời lộng lẫy. Chỉ có cách mạng mới gieo vào lòng tôi niềm vui lớn như thế. Chỉ có cách mạng mới bảo ban bà con nông dân cổ hủ làng tôi thay đổi nếp sống nhanh chóng đến thế.
Tôi chạy trên đường làng, đôi chân nhẹ nhàng như chạy trong đám mây của miền tiên giới. Không thể đi chậm được, cũng không dừng lại ở đâu quả vài phút. Tôi chạy thật sự theo đúng nghĩa đen của từ “chạy”. Chạy để hưởng tất cả mọi niềm vui, không để sót một niềm vui nào dù rất nhỏ. Tôi chạy từ nhà này qua nhà khác, từ nhà thờ họ này qua nhà thờ họ khác, từ nhà thờ đại tôn đến cổng làng, từ cổng làng về nhà mình. Như một con thoi, phơi đầu giữa nắng hè, tôi chạy...
Có đám rước nào trên thế gian độc đáo như đám rước của làng tôi ngày hôm nay? Hai trăm gia đình tổ chức hai trăm đám rước cùng một lúc. Mỗi gia đình một vẻ, muôn hình muôn sắc. Nhà giàu thì rước to, nhà nghèo thìrước nhỏ. Nhà đông con cháu thì đám rước đông, nhà ít người thì đám nước bé. Bố, mẹ, con, cháu rối rít thành đoàn lũ. Có nhà nước giá gương. Có nhà nước cọc đèn Sơn đỏ. Có nhà nước bát hương... Tội nghiệp cố Tuấn không vợ không con, đám rước chỉ có một mình cố, hai tay bưng cái bát đàn sứt miệng đổ đầy cát cắm mấy cây hương đen cháy ngậm ngùi... Bà Đồn cũng một gia cảnh tương tự như vậy. Bà đi làm thuê suốt ngày, tối về nằm cong queo trên cái chõng tre trong túp lều gianh lụp sụp. Trên sáu mươi tuổi rồi, có bao giờ bà thờ cúng ai đâu, có tham dự một đám hội nào đâu. Giữa ngày vui lớn này, bà cũng được tổ chức đám rước, được dự hội. Hai cái bát đàn dùng cho bữa ăn, bà đành liều lấy một cái bát đổ cát vào và cắm hương, tự mình trước đến nhà thờ họ. Bát hương của bà cũng được đặt ngang hàng bát hương của những nhà giàu có. Bà cúi xuống vừa chắp tay lạy vừa lau nước mắt... Đám rước của nhà bà Cựu Diệm lớn nhất. Thằng Viễn là con trai bà, hắn chỉ đi chơi với chúng tôi một chốc rồi về dự rước cùng gia đình. Nhà bà khá đông, khoảng chục người, sắp hàng chinh tế. Đoàn người vừa ra khỏi cổng ngăn thì cả xóm xúm lại xem. Dẫn đầu đoàn là một người bê giá gương, người thứ hai bên chiếc bát hương to có đế gỗ, người thứ ba cầm cọc đèn, thằng Viễn đi thứ tư câm chuông vừa bước chậm chạp vừa gõ, rồi tiếp đến những người khác cầm câu đối và liên thờ phấp phới màu đỏ màu vàng. Từ nhà bà đến nhà thờ họ chỉ chừng hơn trăm mét mà đi hết gần tiếng đồng hồ. Trẻ con ríu rít theo sau làm cho đám rước trở nên long trọng, đông đến ba, bốn chục người.
Tổ tiên của các gia đình được nước đầy đủ về nhà thờ họ, ông tộc trưởng chỉ huy đám rước chung của cả họ ra nhà thờ đại tôn. Già, trẻ, trai, gái trong họ hầu như không thiếu một ai. Cho nên đám rước của họ nào cũng đông, cũng lớn, vừa nghiêm trang vừa lộn xộn: có ông già bê giá gương, có bà già bê bình hương, có cô gái cầm lọ hoa giấy, có cậu bé cầm cờ lông công, có bác trung niên bê mâm bồng... Cả làng tôi có tới mười tám chi nhánh họ, cho nên các đám rước ra khỏi nhà thờ họ một đoạn là gặp nhau. Họ này nhường đường cho họ kia, vùng xình gần hết ngày mới hoàn thành việc rước tổ tiên.
Riêng nhà tôi, cha đã soạn sửa bàn thờ từ chiều hôm trước. Để bà con láng giềng không biết, mãi đến tối mịt cha mới đem trưng tất cả các đồ tế khi mà trước đây chỉ ngày tết mới trong ra: đũa son, bát trái hồng, đĩa cây trúc, đĩa con phượng, đôi hạc đồng ngậm hoa sen, mâm đồng... Tôi xúng xắng bên cạnh cha, cũng soạn cái này sửa cái kia để làm vừa lòng cha. Tẩn mẩn tôi hỏi: “Đến mai là tết à, cha?” Cha lặng lẽ trả lời: “Ông bà, tổ tiên chỉ được hưởng những thứ này lần cuối cùng thôi con ạ. Sớm mai ông bà đi tập trung rồi, có về nhà mình nữa đâu”. Cha thấp thỏm suốt đêm, rất ít ngủ, lúc thì dậy thắp hương, lúc thì thay nước cúng, lúc thì thay rượu cúng. Gà gáy canh năm, cha đã thu dọn tất cả các thứ trên bàn thờ, cất vào hòm gỗ sơn. Có lẽ cha Sợ để đến lúc sáng bạch, người hàng xóm sang chơi, biết nhà mình cúng lễ long trọng quá sẽ bị phê bình... Mẹ tôi hình như thâu đêm không ngủ, quá khuya mới đi học về. Mẹ lo vo nếp, làm thịt gà để cúng. Trước khi rước ông bà đi tập trung, mẹ tôi đúng chắp tay khấn. Ở, sao lạ thế, chưa hề bao giờ tôi thấy mẹ khấn. Những ngày giỗ ngày tết chỉ có ông hoặc cha khấn, chứ đàn bà con gái có được khấn đâu. Thế mà bây giờ, lần đầu tiên, mẹ khấn. Đang khấn dở chùng, bỗng nhiên mẹ òa khóc, chạy vào buồng. Tôi chạy theo mẹ, hỏi tại sao mẹ lại khóc, mẹ không trả lời, tôi cũng khóc theo. Mẹ nói nhỏ với tôi qua nước mắt: “Con ra khấn ông bà đi, lớn lên con không được khấn nữa đâu...”. Tôi làm theo lời mẹ dặn. Hai tay chắp lại khấn tổ tiên mà lòng tôi lại hướng niềm kính trọng về mẹ. Trong gia đình, mẹ là người chu tốt nhất trong việc thờ phụng ông bà. Những năm mất mùa, đói kém, đến ngày giỗ ông bà, cha tôi bảo chỉ thắp hương tưởng nhở là được rồi, nhưng làm thế mẹ không yên lòng, thế nào mẹ cũng chạy vạy mua được cân nếp về thổi xôi để cúng. Mẹ chi mới đến ở cái nhà này mấy chục năm, nhưng trong tâm tưởng mẹ, dòng máu huyết tộc thiêng liêng đã chảy từ thời xa xưa cho đến đời tôi bây giờ và cả đời cháu đời chắt sau này nữa. Phận làm dâu, chữ hiếu thật là lớn lao. Bây giờ mẹ lại thêm một vai gánh công việc đoàn thể. Mẹ lo lắng cho tròn cả hai bên. Người mẹ ngày càng gầy xọm. Phải tiễn ông bà, tổ tiên đi tập trung, mẹ buồn, nhưng mẹ cổ giấu đi, sợ nước mắt chảy ra, các đồng chí lại chê cười là mẹ chưa gột rửa được đầu óc cổ hủ.
Bác Chắt Kể là chi trưởng của một chi họ Võ. Nhà bác là nhà thờ của ông tổ chi trên. Ngày hội hôm nay bác không thể vắng mặt. Bác mở cửa nhà thờ để bà con họ hàng rước bài vị đến. Các chi khác có tổ chức mâm cỗ sơ sài, sum họp một lần cuối cùng để rồi vĩnh viễn không đến nhà thờ nữa. Riêng chi bác Chắt kế, chi có trầu và nước chè xanh, đám rước cũng xuềnh xoàng... Vài ba hôm sau, bác Chắt Kể cũng giỗ cụ, Bác cùng mấy người con nghiêm chỉnh ra nhà thờ đại tôn, bảo ông từ mở cửa, vào đúng bàn thờ riêng của nhà mình, đặt nải chuối, đĩa trầu, thắp hương, khấn vái, rồi lại mang lễ vật về. Cử chỉ của bác nêu cho dân làng ba bài học: một là cúng tổ tiên nơi tập trung, hai là tiết kiệm thời gian, ba là tiết kiệm vật chất, tránh chè chén linh đình.
Tổ tiên đã rước đi nơi khác, bác Chất Kế biến gian nhà thờ cũ thành nhà ở cho cô con gái mới lấy anh bộ đội. Việc này bác làm vội vã quá. Dẫu không cúng tổ tiên ở đó nữa, nhưng vẫn còn cái hơi hướng thiêng liêng của một ngôi nhà thờ qua nhiều năm, ai lại biến thành cái phòng tân hôn. Nhiều cụ ông cụ bà bất bình, xầm xì: “Có đời thuở nhà ai lại đem nhà thờ làm cái nơi ngủ của bà 0 với ông Dương. Đời sống mới gì mà lạ thế? Đời sống mới đến đâu cũng phải giữ lấy nề nếp gia phong chứ”. Có người đánh liều nói nhỏ với bác Chắt Kế. Bác đỏ mặt, tức giận. Lần đầu tiên bác giận vì có người dám phản bác mình.
Sau cuộc rước tổ tiên tập trung về một nơi, tất cả các nhà thờ họ trong làng đều bị phá. Có nhà thờ biến thành địa điểm hội họp. Có nhà thờ biến thành kho phân. Hầu hết các nhà thờ đều dỡ ra, cùng với những đồ tế tự, đem chia đều cho mọi người: người được gạch, người được cái cột gỗ, người được cái xà ngang, người được cái án thư, người được cái trường, người được chục bát....
Thế là thôi, hết nơi thờ tự, hết nơi sum họp huyết tộc. Các dòng họ bỗng dưng ly tán.
Cả làng chỉ còn lại một nhà thờ đại tôn. Mỗi năm một lần giỗ tổ vào ngày 24 tháng Tư âm lịch. Trước kia, đến ngày giỗ, làng
mở hội linh đình. Nhưng nay thì vắng tanh, vắng ngắt, may ra có dăm bảy cụ đến thắp hương, ăn trầu, rồi im lặng ra về. Thậm chí, có năm chẳng cụ nào đến cúng, chỉ có ông từ tha thổi vào điện thờ một mình.
Cách đây chừng bảy trăm năm, ông Võ Chính Đạo từ ngoài Bắc vào, chiêu dân lập ấp. Hình như thuở ấy, sau khi đánh thắng quân Nguyên, nhà Trần tổ chức di dân vào đây khai phá đất hoang. Ông Võ Chính Đạo dừng chân bên sông Bùng, nhìn thay thế núi Hai Vai dụng phía tây, biển Đông mở ra trước mặt, bèn cắm đất dựng làng. Cuộc đời của ông Tổ mang đầy huyền thoại, trong gia phả có ghi lại mấy mẩu.
Từ ngàn dặm xa xôi phương Bắc vào, mệt quá, ông nằm ngủ mê man trên bờ sông Bùng. Trong giấc mộng, ông thấy rồng cõng ông bay lên chu du khắp vòm trời. Khi tỉnh dậy, ông hóa thành người khổng lồ đầu gối lên núi Hai Vai, chân duỗi ra bể Đông. Ông vươn vai và trở thành ông Đùng. Ông giết hết rắn rết, hổ báo, gọi dân về cày cấy. Sau khi ông mất, dân làng tôn ông là đức tổ Triệu Cơ và lập nhà thờ tưởng nhớ ông, gọi là nhà thờ đại tôn.
Chín mươi chín phần trăm dân làng là họ Võ. Về sau, một Số gia đình họ Trần, họ Đào, họ Dương, họ Lê, họ Nguyễn đến xin ở, cũng tôn ông tổ họ Võ là ông tổ của mình và cùng thờ cúng ở nhà thờ đại tôn.
Mấy trăm năm qua, nhà thờ đại tôn chỉ thờ đức Triệu Cơ một cách tôn nghiêm, bỗng dưng bây giờ thờ đến hàng trăm người quá cố. Như thế là ông tổ Triệu Cơ cùng bình đẳng với trẻ em, thậm chí cả lưu manh, kẻ cắp và ăn mày. Nhiều cụ tỏ vẻ không bằng lòng, nhưng cũng đành im cho xong chuyện, thời nào theo phép ấy, chống lại làm sao được.
Đã thế thì đành phải thế. Chị hiếm một nỗi là nhà thờ chỉ có ba gian, mà phải đặt hổ lốn đủ các đồ tế tự: lông ngai, hạc gỗ, giá gươm, bát hương sứ, bát hương sành, thậm chí cả bát sứt bát mẻ, nhiễu điều rách che giá gương... Ôi thôi, trăm thứ bà rằn chen chúc nhau lộn xộn. Còn ra thể thống gì nữa! Còn gì là tôn nghiêm nữa! - Nhiều cụ thấy tình cảnh như vậy, chán nản, không muốn đến dự ngày giỗ Tổ. Nhà thờ đại tôn càng ngày càng hoang vắng. Ngói vỡ. Tường gạch loang lổ từng mảng. Câu đối bị đánh cắp. Trẻ em viết nghuệch ngoạc, bậy bạ lên cánh cửa...
Đùng một cái, ông bí thư đảng ủy của xã quyết định lấy nhà thờ đại tôn của họ Võ làm kho thóc. Các cụ không thể ngồi yên, bàn với nhau: “Cả làng chỉ còn lại một nhà thờ mà ông Đảng cũng đòi chiểm làm kho thóc thì thờ cúng vào đầu. Con cháu vô ơn bội nghĩa với tổ tiên à? Phải kêu lên tận đảng ủy”. Lời kêu đụng vào tai ông bí thư, ông ta đanh mặt nói như búa bổ: “Đồng bào miền Nam hy sinh xương máu không tiếc, bà con ta ngôi ở hậu phương lại tiếc cái nhà thờ Tổ!” Các cụ ấm ức, nhưng đành phải buông tay xót xa nhìn ngôi nhà thờ biến thành kho thóc.