Hồi bố mẹ còn sống, dù công việc bận đến mấy tôi cũng về quê mỗi năm một lần. Gia cảnh ngày càng túng bấn, sa sút, tôi vẫn thấy đầm ấm. Cha tôi làm chủ tịch thôn và chủ nhiệm Việt Minh xã hội mới cướp chính quyền, nhiệt huyết với công việc xã hội. Dần dà về sau, cho thấy không đem lại lợi ích thiết thực gì cho bà con làng xóm và cho bản thân mình, cha đâm ra chán nản công việc chung và lười đi họp chi bộ. Cha mất trước mẹ sáu năm. Còn lại mẹ hiu hắt sống như cái bóng đèn trước gió, tôi càng cố làm tròn bổn phận chữ hiếu đối với mẹ. Có năm tôi về thăm mẹ hai lần. Nhưng từ ngày mẹ qua đời, tôi cảm thấy tuổi thơ mình vĩnh viễn đi qua và tôi không muốn về quê nữa. Mãi đến gần chín năm sau tôi mới trở lại nhà. Một cảm giác trống rỗng ghê gớm ập vào lòng tôi: tôi không còn được gặp mẹ nữa và không được mẹ làm cho món ăn mà tôi rất thích - cà muối xào với mỡ.
Theo thói quen, dù về tới ngã ba Diễn Châu còn sớm, tôi vẫn chờ đến lúc xâm xẩm tối mới đi bộ về nhà. Đi vào lúc ấy, yên lặng, thanh tịnh, dễ có sự giao cảm giữa mình với quê hương.
Vừa đặt chân vào nhà chừng nửa tiếng đồng hồ thì chị em, bạn bè, họ mạc kéo tới hỏi thăm. Chị cả tôi là trung đội trưởng tự vệ hôi cướp chính quyền, nay nuôi một đàn con nheo nhóc, ốm yếu. Anh tôi đi Vệ Quốc Đoàn suốt chín năm kháng chiến
Việt Bắc, phục viên về, bị cái bệnh sốt rét và đau dạ dày hành hạ liên miên, người gây yêu... Và bạn bè cùng sinh hoạt với tôi thuở “nhi đồng cứu vong” chỉ còn lại thằng Bá hiện đang làm phó chủ tịch xã, những đứa khác hoàn toàn tắt hẳn mọi ước mơ, đứa thì kiếm kế sinh nhai hằng ngày, đứa thì xin ra Đảng, đứa thì đi bộ đội về bị điếc. Tôi nhớ năm tôi lên chín tuổi, đang ngồi học với thằng Bá, thằng Bàng, thằng Viễn, thằng Dần, bác Chắt Kể nói với mẹ tôi: “Đời ta đang phải chịu khổ nhiều. Tụi này lớn lên được hưởng thế giới đại đồng, sướng lắm!” Đằng đãng thời gian trôi qua, chúng tôi đã thành người lớn. Thằng Bàng là con trai duy nhất của bác Bàng, hy sinh ở chiến trường. Thằng Viễn đi phát triển kinh tế mới ở Phủ Quỳ, chết vì bệnh cổ trướng. Thằng Dần xin được chân kế toán ở tận Sơn La, biền biệt xa vợ xa con, hàng mấy chục năm hai đứa không gặp lại nhau.
Trong buổi trở về đêm nay, chỉ có Bá đến thăm tôi. Biết chúng tôi thân nhau, người làng đi chợ Sò lúc chiều gặp tôi ở ngã ba Diễn Châu, đã báo tin cho Bá biết. Bà liền vác thuổng ra đồng đào bắt mấy con lươn, nấu với củ chuối, rắc lưa thưa dăm lát ớt đỏ - một món ăn của vùng đồng chiêm trũng mà tôi rất mê. Ngồi nói chuyện một chốc, Bà rủ tôi ra nhà ăn cơm. Tôi nhận lời ngay. Giá như mẹ tôi còn sống, bữa ăn đầu tiên trở về quê phải cùng ngồi với mẹ. Nhưng mẹ không còn nữa... anh chị tôi cũng bằng lòng để tôi ăn cơm với Bá, vì Bá đã nấu sẵn. Nhà Bá mới dựng lên giữa đồng. Trời vừa mưa xong, xung quanh nhà rộn rạo tiếng ếch nhái, tiếng ễnh ương, miếng cơm càng ngon miệng. Bà nói: “Hôm nay ta ăn lươn, mai ta làm một bữa ếch, những con ếch đang kêu ngoài kia là trời để dành cho ta”.
Ăn xong, tôi rủ Bá lên nghĩa địa viếng mồ cha mẹ. Bà bảo tôi “mai hãy đi”. Nhưng không thể để đến mai được, tôi muốn được lên nghĩa địa thắp hương trong đêm nay. Ở Hà Nội, em gái tôi viết thư ra kế rõ sự tình cho tôi biết: Sau khi đoạn tang, làm lễ cải táng cho mẹ, mẹ phải chịu số kiếp nằm vào cái huyệt chôn chung, gia đình chôn xuống một cọc tre rất sâu bên mộ để làm dấu, kẻ vô lại nào đó đã nhổ mất cọc và bây giờ khó xác định vị trí ngôi mộ của mẹ. Còn cha mất trước thì dĩ nhiên mồ cha đã hòa chung vào hàng trăm bộ hài cốt khác từ mười năm trước. Tôi sợ lên nghĩa địa ban ngày, không nhìn thấy ngôi mộ cụ thể thì đau lòng lắm. Chẳng thà lên ban đêm, nhập nhòa đất với cỏ, còn đỡ bớt tủi bớt đau phần nào. Hai đứa xắn quần bước chậm rãi. Tôi cầm theo một bó hương rất to. Bó hương này tôi mua tại một cửa hàng hương nổi tiếng ở Hà Nội. Tại sao tôi phải cầm cả bó hương to? Điều này tôi không dám nói ngay với Bá. Điều bình thường thôi, nhưng nói ra thành lời tôi cảm thấy sợ. Tôi giữ kín trong óc chỉ một mình mình biết. Giả sử không tìm thấy mồ mẹ, tôi sẽ thắp hương khắp cả nghĩa địa. Như vậy có nghĩa là tôi vẫn thấp thỏm hy vọng tìm ra mồ mẹ cha.
Cuối tháng. Lấp lóa ánh sao. Đường làng lầy lội. Vào nghĩa địa, càng lầy lội hơn nữa. Chúng tôi phải xắn quần thật cao. Bùn ngập ngang mắt cá. Khu nghĩa địa quá luộm thuộm, bôi bác, nhem nhuốc. May mà tôi không đi ban ngày... Đi ban ngày tôi sẽ thấy lồ lộ những hình thù quỷ quái của các ngôi mộ chôn chung mộ hình khẩu súng lục, mô hình khẩu súng trường, mộ nhọn như mũi chông, mộ bằng như cái nong... Những ngôi mộ và một nhóm trai làng vô tôn giáo, vô thần thánh, đã sáng tạo ra như lũ quỷ sứ dưới địa ngục nhồi nặn các tội nhân thành dị dạng.
Vào giữa nghĩa địa, tôi lịm đi. Hai đứa lang thang ra hai nơi. Tôi thất thường bước một mình như cái bóng ma phiêu dạt không mồ không mả. Tôi rùng mình, ớn lạnh. Tôi hòa hồn tôi vào cái thế giới âm phủ để mong giao cảm được một chút với người xưa, với tổ tiên, với cha mẹ, anh em, họ hàng tôi ở dưới đó. Khu đất nhỏ này là tất cả, tất cả những gì thiêng liêng nhất của quê hương bản quán, tất cả những gì thuộc về hướng sử, tất cả những gì tự ngàn xưa mà ta có thể chắt lọc được để rồi ủ vào tâm hồn ta cái tinh chất nhất của bản thể.
Ấy thế mà, đứng về một phương diện phi nhân nào đó mà nói, thật đáng khâm phục, kẻ hung bạo nào cả gan ra tay đập đổ những gì thiêng liêng nhất đã bén rễ vào tâm hồn bao nhiêu thế hệ. Chúng nó đào mộ tổ. Chúng nó quật hài cốt ông bà, tiền nhân. Chúng nó đào huyệt chôn chung hàng ngàn số phận con người. Cha ơi, cha ở nơi nào? Mẹ ơi, mẹ ở nơi nào? Ông nội tôi ơi, ông ở nơi nào? Bà nội tôi ơi, bà ở nơi nào? Anh trai tôi ơi, anh ở nơi nào? Hãy xin một thoáng hiện hình, hãy xin một thoáng gió thổi, hãy xin một trung rinh ngọn cỏ để chứng nghiệm rằng: người xưa đã trở về để nhìn thấy một đứa con không bất hiếu, không vô ơn bội nghĩa...
- Mę oi...
Tôi bất giác kêu kên. Và sau tiếng kêu ấy, chợt nhận ra rằng mình đang đứng ở giữa nghĩa địa. Thằng Bá đâu rồi? Nó đi đâu? Sao nó dám để một mình tôi giữa chốn đồng không mông quạnh, giữa bãi tha ma thế này?
- Bá ơi... .di.
Tôi đi về hướng có tiếng trả lời. Thì ra nó thiết thực hơn rồi. Nó đang hì hục bắt ếch để chuẩn bị ngày mai đãi tôi một bữa thịt ếch mà nó đã hứa.
- Mày dẫn tạo đi tìm mộ ông bà.
Bá khoái chí xách ba chú ếch, dẫn tôi đi tìm mộ. Hồi mở chiến dịch tập trung mồ mả, Bá có tham gia. Khi các chi nhánh họ sửa mồ mả, Bá cũng tham gia. Tôi vẫn nuôi hy vọng mong manh Bá nhớ vị trí táng hài cốt của bố tôi, mẹ tôi. Bá xông xáo dẫn tôi đi hết khu đất này đến khu đất kia. Nếu Bá nhở được và chỉ cho tôi biết thì tôi sẽ nhớ m nó đến ngàn đời vạn đời. Ở Hà Nội, vợ tôi đi xem tử vi cho con trai, nói với tôi rằng: “Thằng con của chị bị mất mộ ông bà, nếu không tìm lại được thì e có điều không may cho gia đình chị và gia đình cháu sau này”. Tôi vốn là người không tin vào tử vi một cách quay cuồng, nhưng lúc này tôi cảm thấy tin, tin lắm. Tôi bắt Bá dẫn đi khắp nơi trong nghĩa địa để tìm kỳ được mộ bố, mộ mẹ. Bá hiểu tâm trạng tôi, dẫn tôi đi hết góc này đến góc kia. Hình như Bá tự thấy bất lực, nhưng chiều tối, Bá cứ dẫn trở đi trở lại. Tôi như cái máy, cứ bước theo Bá một cách không định hướng. Khu nghĩa địa hẹp thôi, mà lúc này sao mênh mông đến thế, Ngẫm cho đến cùng, nơi tôi đứng đây, quả thật là mênh mông. Dưới chân tôi, là hàng trăm hàng ngàn bộ hài cốt, là hàng bao nhiêu thế hệ dồn nén lại, là hàng bao nhiêu số phận chen chúc nhau, trong đó, linh hồn bố tôi mẹ tôi phiêu dạt, hài cốt bố tôi mẹ tôi phiêu dạt giữa cõi mênh mông.
Tôi bật lửa, đốt bó hương, rồi cắm rải ra khắp nghĩa địa. Cả khu nghĩa địa đỏ hồng lên và tỏa hương thơm ngát, một mùi hương rất đỗi linh thiêng dẫn hồn tôi nhập vào hồn người quá cố. Trời rộng quá. Đất rộng quá. Chỉ mảnh đất nhỏ bé này đang cháy đỏ những nén hương tâm niệm. Tôi nhắm mắt, chắp tay khấn: “Kính thưa vong hồn bố mẹ, con từ Hà Nội về đây để viếng bố mẹ. Cầu mong bố mẹ ban phúc cho gia đình ta, cho vợ chồng con, cho hai cháu Sim, Cương và cho tất cả con cháu của ông bà. Con không tìm được mồ bố mồ mẹ. Lỗi này của con thật quá lớn, mong bố mẹ xá cho. Nếu hồn bố mẹ thiêng thì xin cho cháy bùng nén nhang cắm nơi bố mẹ nằm để sáng mai con sửa mồ...”. Tôi nhìn ra xung quanh... chờ đợi... hy vọng... Nhưng không có nén hương nào cháy thành ngọn lửa. Tôi lại đi lang thang rất lâu, nghiêng xuống từng nén nhang. Gió nồm thoang thoảng, khói hương bay ngan ngát. Tôi dừng chân, một lần nữa lại chắp tay khấn: cầu xin một nén hương nào đó cháy bùng lên... Nếu có một nén hương cháy bùng lên thật, tôi sẽ sung sướng biết chừng nào, tôi sẽ nằm lăn ra trên cỏ để ôm lấy mảnh đất và tưởng tượng hình hài cha tôi, mẹ tôi đang nằm dưới đó. Nhưng niềm hy vọng lại tắt ngấm như những nén nhang tàn lụi dần. Tôi ngồi xuống và nhắm mắt... nhắm mắt để ảo giác làm việc, ảo giác sẽ đem đến cho tôi gương mặt khắc khổ và nhân hậu của cha mẹ. Dẫu chỉ là sự đánh lừa của ảo giác, lòng tôi cũng vơi đi chút ít nỗi cô đơn lạnh lẽo...
Lần cuối cùng, trước khi rời nghĩa địa, tôi chắp tay lấy cả bốn hướng.
Trên đường về, tôi chợt nhớ ngôi mộ bác Chắt Kể cũng ở gần nghĩa địa. Mấy người con và cháu của bác, hồi cải táng, không dám mang hài cốt bác lên nghĩa địa, sợ bị mất mộ, bèn xin xã và tinh cho xây riêng một ngôi mộ. Suýt nữa tôi quên mất.
Tôi quay trở lại, Bá vẫn chiều tối, đi trước dẫn đường. Lối sang mồ bác bị cách một dòng mương khá rộng. Chúng tôi xắn quần lội, trời tối quá, bị ngã ướt hết cả quần áo. Hai đứa lặng lẽ đứng trước ngôi mộ, thắp nén nhang. Con chim đang ngủ trong bụi cỏ dưới chân mồ, vụt bay lên và ném ra tiếng kêu cô độc giữa bầu trời thăm thẳm tối...
Viết xong tại hồ Ngọc Khánh,
2 giờ sáng 20.7.1990
VVT.