Cho đến nay, làng tôi có hai người được chính thức hưởng lương hưu: Ông hàn Hạp thì thời Pháp thuộc, bác Chắt Kế thì thời ta. Nhưng cảnh hữu của hai người khác hẳn nhau: ông hàn Hạp giàu có, bác Chắt kế thanh bạch, về đường chức tước, ông hàn Hạp chỉ là tri huyện, bác Chắt Kế đã từng giữ các vị trí cao trong Đảng và nhà nước. Ủy viên trung ương Đảng, Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh, trưởng ban thanh tra tỉnh ủy. Ấy thế mà:
Ngày về hưu, ông hàn Hạp được bà con họ hàng ra tận đường quốc lộ khiêng giùm hàng chục hòm của cải và tiền bạc. Ông xây một tòa thành rộng chừng hơn nửa mẫu ruộng, trong vòng thành được dựng lên ba dãy nhà ngói. Thành lởm chởm mảnh chai, cổng ngắn uy nghi. Một bầy chó giữ nhà. Chẳng mấy ai dám lai vãng vào đó... Ngày nghỉ hưu, bác Chắt Kế đi xe đạp về làng báo tin cho con cháu biết: từ nay bác được Đảng và nhà nước cho nghỉ hưu. Thế thôi, thật đơn giản. Bác sống trong gian nhà gianh nhỏ bé như những lão nông khác. Nghĩ đến quá trình hoạt động của bác, tỉnh trích ra một số tiền giao cho xã xây lại ngôi nhà to hơn nhà cũ một tí.
Chiều chiều bác Chắt kế đeo kính, chống gậy, dạo chơi trên đường làng, rẽ vào các gia đình thăm hỏi và trò chuyện. Chiều nào cũng vậy, chiều này qua chiều khác... tẻ nhạt... So với thời trai trẻ, rời quê hương, dấn thân vào con đường cách mạng, làng xóm bây giờ vẫn nghèo như thế, vẫn lụt lội mất mùa, vẫn chạy vạy giữa ngày ba tháng Tám, vẫn có người đi ăn xin. Phong cảnh lại tiêu điều hơn trước: đình chùa bị phá sạch, cây cổ thụ bị triệt hạ, các nhà thờ họ cũng bị dỡ bán. Hội tuồng hội chèo tiêu tan. Các ngày hội truyền thống bị phế bỏ... Hình như bây giờ bác mới thấm thía hiểu rằng: phải tồn tại một cái làng Việt Nam như thế nào. Khi nằm trong xà lim tối tăm, khi sống dưới nanh vuốt giặc hung dữ, lòng bác cháy bùng lên nỗi khát khao một cuộc sống huy hoàng mà hiện tại được tự do đứng giữa đất rộng trời cao tràn ngập ánh sáng, nỗi khát khao ấy lại tắt ngấm trong lòng bác.
Nhiều hôm, bác thích đi chơi một mình vào lúc hoàng hôn. Một mình, một gậy, một tâm trạng... Bác đến thăm đền cũ của ngôi đền thờ Bạch Y Thần. Bác xuống tận bờ sông Bùng nhìn ngôi mộ Hùng Lễ Bá Võ Cương bị bới đào nham nhở. Bác tới đứng lặng bên vết tích mộ đức tổ Triệu Cơ đã biến thành nhà phân. Đâu rồi, tổ tiên và truyền thống?
Cả làng chỉ còn lại một nhà thờ đại tôn thờ chung ông tổ họ Võ - ông tổ đã sáng lập nên cái làng này. Nhưng bao năm nay bị bỏ hoang vắng, ngói vỡ, gỗ mục, trẻ con vẽ bậy bạ lên tường, nhiều gia đình xây đống rạ giữa sân biến thành nơi chó ia... Suốt mấy ngày liền, bác Chắt kế chống gậy đến nhìn nhà thờ, bác đã treo ngọn cờ khởi nghĩa, rồi kéo đoàn biểu tình đi cắm cờ khắp các làng khác trong huyện. Cũng từ ngày ấy, từ cây phượng này, từ ngôi nhà thờ đại tôn này, khởi sự cho bao nhiêu biến động trong làng, những cuộc đời tối tăm được hồ hởi nhận ánh sáng, rồi lại đành phải quay về nhận hứng một thứ bóng tối khác không kém phần ê ẩm và dai dẳng....
Bác đi lân la gặp một số cụ già, bàn bạc: “Hồi trước, ông cha ta làm nhà thờ quay mặt về hướng đông là rất hợp với lẽ đời và ý trời. Nhưng nay cái hướng này không hợp nữa, thời thế thay đổi, nếu cứ để nhà thờ tổ tại vị trí cũ e làng xóm sẽ càng ngày càng tiêu điều. Tôi muốn bàn với các cụ dời nhà Tổ đến xóm Tây, quay mặt về núi Hai Vai...”. Lời nói của bác vẫn còn tác dụng với các cụ và dân làng. Người ta bỗng chốc quên các chuyện cũ đau buồn trong mấy chục năm qua, ai nấy đều hưởng ứng lời bàn bạc của bác. Một cái gì đó thức tỉnh trong lòng bác, một cái gì đó đem lại cho bác niềm hối tiếc. Nếu bác về hưu tại Hà Nội hay tại một thành phố lớn nào đó, chưa hẳn bác đã nhận rõ những việc làm quá tả của mình. Nhưng may quá, bác lại về hưu tại làng quê, tại nơi chôn nhau cắt rốn, bác đã chứng kiến một cách cụ thể những gì được những gì mất. Hơn nửa đời vào sinh ra tử, kiên nhẫn, dũng cảm, phá phách, sáng tạo, mong đem lại cho dân làng và cho dân tộc một cuộc sống tốt đẹp hơn, nhưng rồi lại quấn quanh trở về điểm cũ, điểm xuất phát, mà cái điểm cũ không còn nguyên vẹn nữa. Chua chát vô chừng. Quy luật tiến hóa theo hình trôn ốc mà. Thất bại cũng là bài học. Đã gọi là “bài học” thì bao giờ cũng bổ ích. Dẫu sao thì dân làng vẫn nhớ ơn bác đã cứu khỏi trận đói năm bốn lăm - Nhà thờ đại tôn là chứng tích hùng vĩ của sự cứu trợ đó. Cây phượng là nơi đầu tiên trong huyện treo ngọn cờ đỏ sao vàng. Cây phượng chết trong trận bão năm ngoái. Nhiều cụ già cho đó là cái điềm xấu. Bác Chắt Kế là người triệt phá đến cùng mọi điều mà bác cho là “mê tín dị đoan”, bây giờ hầu như bác cũng muốn chứng nghiệm lại...
Được sự đồng tình của dân làng và của ban quản trị hợp tác xã, nhà thờ đại tôn dời sang xóm Tây và hướng mặt về núi Hai Vai. Bác Chắt kế đứng ra làm đốc công trong việc xây dựng này. Một toán thợ nề, thợ mộc làm theo sự chỉ dẫn của bác. Tất cả bia đá ghi sự tích của đức Triệu Cơ và của những người giúp Tổ lập nghiệp đều đã bị đập phá tan tành từ mấy năm trước. Cái thì bị đem nung vôi. Cái thì đem làm cầu. Cái thì cho tư nhân kê làm đá tảng. May sao còn sót lại một cái bia chôn tận trong hậu cung. Bác Chắt kế mừng rỡ, chạy tới trương mục kinh đọc, thì chao ôi, đây chỉ là tấm bia ghi tên tuổi một ông lý tưởng đúng ra trùng tu nhà thờ năm Bính Dần, Mặt bác buồn xiu. Toán thợ xúm lại hỏi, bác lắc đầu: “Bia ghi tên một lão lý trường...”. Mấy anh thợ trẻ xốc nổi, toan cầm búa đập vỡ bia, bác nghĩ sao lại giơ tay cản: “Đừng đập! Dẫu sao cũng là cái bia cũ, cứ dời ra nhà thờ mới, chôn bên tường cho có màu sắc cổ kính - Từ nay về sau chẳng ai công hơi đâu mà tạc một cái bia đã có rồng bay phượng múa như thế này...”. .
Nhà thờ mới dựng xong, các cụ tổ chức rước Tổ - Đám rước buồn tẻ làm sao. Không chiêng không trống. Không lọng không cờ quạt. Chỉ có bác Chắt kế với bốn cụ già, một thanh niên cầm bài vị, một thanh niên cầm bát hương, đi sau cùng là tôi - may phúc là tôi về quê đúng vào dịp rước Tổ - Sau khi đặt ngay ngắn bài vị và đốt nhang, các cụ chắp tay vái, ba đứa thanh niên chúng tôi cũng vái theo. Xong đâu đấy, mọi người cùng ngồi quây quần trên tấm chiếu, ăn trầu, uống nước chè xanh và hút thuốc lào. Hầu như ai cũng nuối tiếc cảnh hội làng linh đình ngày xưa, nhưng không ai nỡ nói ra lúc này... Lúc này ngán ngâm quá. Mọi trường mối đã đứt bung. Mọi quan hệ họ hàng ruột thịt bị rạn nứt. Mọi dòng họ bị ly tán. Khó mà phục hồi lại được. Chỉ nói một điều đơn giản, mười tám nhà thờ họ trong làng đã dỡ bán sạch sành sanh, không còn nơi để con cháu sum họp, để hương khói thờ phụng.
Bác Chắt Kế quay sang hỏi tôi:
- Cháu ở ngoài Hà Nội, cháu chịu khó sang Bộ Văn Hóa xin xếp hạng nhà thờ này.
Tôi trả lời:
- Hai di tích làng ta có thể xếp hạng được là đền thờ Bạch Y Thần và đền thờ Hùng Lễ Bá Võ Cường, nhưng hai ngôi đền đó đã bị phá rồi. Còn nhà thờ đại tôn? Đức tổ Triệu Cơ chỉ là người có công sáng lập làng ta, chứ Ngài không có ảnh hưởng gì đến các làng khác...
Bác gật đầu, ngồi im lặng.
Bốn cụ già ngồi nhai trầu mãi cũng chán, uống nước chè xanh mãi cũng chán, đứng dậy ra về, Hai thanh niên ngồi hút thuốc lào mãi cũng chán, chuồn lúc nào không biết. Cuối cùng, chỉ còn bác Chắt kế và tôi. Bác ngồi bần thần một lúc, vào hậu cung mở hộp sơn, cầm cuốn ngọc phả ra:
- Ngọc phá chép bằng chữ Hán kể sự tích của đức tổ Triệu Cơ - Thanh niên sau này không đọc được chữ Hán. Bác sẽ dịch ra tiếng Việt, cháu chịu khó viết thành nhiều bản để lưu truyền cho các thế hệ sau.
Tôi ngoan ngoãn cầm bút chép:
“Thường nghe cây gỗ nghìn cành muôn là bắt đầu từ gốc. Nước nghìn dòng chảy bắt đầu từ nguồn. Do gốc mới đến ngọn. Do từ nguồn mới tìm đến dòng. Thực ra, không đem hết lòng mình ghi đủ chuyện đó. Cho nên, xưa nay nước phải có sử, gia tộc phải có gia phô - Xưa nay, đó là cái trọng nhất. Vì thế, muôn chép lại biên niên cho rõ đời ông cha từ đâu, để nói cho con cháu về sau thấy
Họ ta xuất phát từ Thái Nguyên. Trước đó quá xa, chìm đi, tìm không thấy.
Chỉ biết ông tị tổ là Võ Phúc Thiện, thuộc tổng Hải Dương. Sau đến tổng Lý Trai, xã Phương Lịch ở.
Sau tị tổ hai đời là Triệu Cơ Võ Chính Đạo di cư lên Cồn Nhà. Đó là thủy tổ của ta, sinh ra con cháu càng ngày càng đông, đầy rẫy, thế phải nhiều, dây mơ rễ má phát triển. Họ của ta từ đó có thanh thế trong thiên hạ.
...Than ôi, gốc phải bền, nguồn phải lớn, minh đức ông cha đã xa rồi, thừa kế thứ tự nên theo việc phải mà làm.
... Hậu Luật ta rày thịnh thay
Cử nhân cũng có, tú tài chan chan, Trời sinh cái đất khôn ngoan Nước từ Rộc Cửa, Rộc Vang chảy về Cồn Tuôn, Giải Cả đẹp ghê Cồn Nhà, Đồng Cống đúng nghe thủy triều Văn tăng võ tiến cũng nhiều Long quỳ hổ bái ra điều trời sinh Miếu trên đất đại thần linh Tổ về Hậu Luật trời sinh anh hùng