Chuyện Làng Ngày Ấy

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 78 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tập Trung Thần, Thánh, Phật

❊ ❊ ❊

Dòng sông Bùng chảy qua cánh đồng làng tôi tuy không lớn nhưng nó là huyết mạch tình cảm từ lâu đời. Bến đò ngã ba sông trở thành nơi hò hẹn của những đôi trai gái trong các phiên chợ Si, chợ Chùa, chợ Lèn, chợ Mới. Bao nhiêu đêm trăng, đám trai làng đã đóng bè chuối vượt sông để hát đối đáp với con gái làng bên. Con sông tình và cũng là con sông thần thoại. Sự tích các thần trong làng đều ít nhiều quan hệ với dòng sông. Đã có một thời người ta tin rằng dòng sông thiêng liêng này là dòng sống của các vị thần, cho nên hai bên bờ sông được giữ gìn rất sạch sẽ. Trong dịp kỷ niệm hằng năm, dân làng làm những con thuyền tre dán giấy màu sắc sặc sỡ thả xuống sông để các thần du ngoạn.

Sông Bùng là cái nôi sản sinh ra các vị thần. Vì thế trong làng có nhiều đền thờ thần. Ông Đùng đã dùng bàn tay khổng lồ se đất mở nên sông Bùng để tiêu nước cánh đồng trũng ra bể, Thần Của Thung từng đánh nhau với lũ thủy quái để ngăn nước mặn thủy triều ngập vào đồng lúa. Thần Áo Trắng đã cứu vua Lê thoát khỏi tay giặc Minh ngay bên bờ sông... Ngoài các vị thần còn có các vị thánh, các nhân vật lịch sử có công với làng xóm, còn có cả chùa thờ Phật, miếu thờ những vong hồn bất hạnh... Hồi Tây mới cai trị nước ta, một tên cố đạo dẫn lính vào làng, định phá nhà thờ đại tôn để xây nhà thờ Thiên Chúa giáo. Dân làng uất ức tìm cách đối phó. Một người đàn bà tứ cố vô thân, nấp trong bụi cây, rình lúc cố đạo vừa bước vào cổng làng, bà xông ra cởi váy đập túi bụi vào mặt cố đạo. Bị cú trả thù bất ngờ và choáng mát, cố tháo chạy, không dám quay lại nữa. Và bỏ ý định xây nhà thờ đạo.

Đền chùa miếu mạo nằm rải rác trong làng và cả ngoài cánh đồng. Nhưng làng tôi ở giữa vùng chiêm trũng, cứ vào tiết tháng Tám, hễ mua một đêm là nước ngập trắng mênh mông, làng biến thành hòn đảo. Qua nhiều đời, dân làng đã ra công đắp những gò đất cao để xây đền, chùa - những gò đất này vừa tôn vẻ sầm uất, linh thiêng, vừa có tác dụng về thủy lợi. Đình chùa cùng với những sự tích huyền thoại đã góp phần rất lớn vào sự hình thành lịch sử và nền văn hóa của làng tôi, đã góp phần tạo nên phong tục tốt đẹp và tình cảm, nhân nghĩa của bao nhiêu thế hệ. Tuổi thơ tôi đã từng được bắt rễ sâu thăm thẳm vào các tầng đất đai của quá khứ. Một nét cong đầu đao của mái đình, một pho tượng Phật, một ánh nến trong điện thờ, một vòm cổ thụ thâm u che rợp ngôi miếu đều in bóng trong hồn tôi và lung linh mở ra những vầng mây thần thoại.

Sẽ còn lại gì sau khi các vị thần vị thánh tập trung về một nơi?

Sẽ còn lại gì sau khi các ngôi đền ngôi miếu bị phá và các gò đất bị san bằng? Sẽ còn lại gì để làm cái cầu cho các thế hệ mai sau trở về thăm lại tiền nhân?

Tất cả các thánh, thần, phật ở rải rác cá thể trong thôn trong xã đều phải về ở tập trung tại đền Hàng Khoán dưới chân núi Hai Vai! Đó là lệnh của chính quyền địa phương, không ai được cưỡng lại.

Trời ơi, cái cú tập trung ông bà, ông vải, tổ tiên đã làm cho mọi người choáng, bôi thêm cái cú tập trung thần thánh này nữa có thể làm cho dân làng bị ngất!

Lệnh ban ra quá gấp, cho nên đình chùa miếu mạo chỉ có thể tổ chức cùng một đêm lễ tiễn đưa thần thánh. Nhiều ông cụ, bà cụ tất tưởi chạy hết miếu này đến miếu kia qua chùa nọ để thắp hương, để khấn vái, nhỡ bỏ sót một nơi nào trong giờ phút tiễn biệt thiêng liêng thì sợ thần thánh giận.

Mẹ tôi đi họp suốt mấy ngày đêm để cùng với đoàn thể bàn việc trọng đại này. Đêm cuối cùng, tan họp thì đã qua giờ tý, mẹ cũng lén lút cầm mấy bó hương đi làm lễ tiễn đưa thần thánh. Nhưng đêm sắp chuyển về sáng rồi, mẹ chỉ đến được một ngôi chùa và một ngôi miếu. Lúc trở về, mẹ mệt như người, mặt bệch bạc vì mất ngủ. Chẳng ăn uống gì cả, mẹ nằm xoài trên giường. Tôi lặng lẽ đến ngồi bên cạnh, mẹ nói: “Cách mạng triệt để con ạ! Chủ nghĩa cộng sản là tập thể hóa. Thần thánh tập thể trước, sau đó sẽ tập thể người. Không biết đời mẹ có được hưởng thế giới đại đồng không? Chắc chắn đời con thì sướng lắm. Con cố học cho giỏi...”. Nghe mẹ nói, người tôi cứ rưng rưng. Chợt thấy khóe mắt mẹ đẫm ướt. Tôi hỏi: “Làm cách mạng sao mẹ lại khóc?” Mẹ không trả lời. Hình như trong lòng mẹ đang nén lại một điều gì khó bộc lộ cho ai biết.

Bọn trẻ chúng tôi lại được một phen chơi bời thỏa thích. Tôi nhớ trong một cuộc họp của đội Nhi Đồng cứu vong, bác Chắt kế có nói “cách mạng là ngày hội của quần chúng”. Càng suy tôi càng thấy đúng. Hết hội rước ông bà, tổ tiên tập trung về nhà thờ đại tôn, lại tiếp đến hội trước thần thánh tập trung về đền Hàng Khoán. Sau cuộc hội này không biết sẽ còn những cuộc hội nào nữa?

Tất cả các đền, chùa, miếu, nhà thánh đều sáng trưng ánh nến, khói hương nghi ngút, trống chiêng ồn ã, tấp nập người vào ra. Náo nhiệt khắp làng xóm một không khí tiễn đưa thần thánh. Có tiếng reo của trẻ con. Có nụ cười gặp gỡ của trai gái. Có nước mắt của các cụ già. Có lẽ thâu đêm suốt sáng thần thánh cũng không ngủ. Thần thánh bồi hồi về cuộc đổi đời lớn lao này? Hẳn là thế. Hàng mấy thế kỷ qua, mỗi vị thần ngự một điện thờ riêng, mỗi vị thánh hưởng một mùi hương riêng, nay sắp được về ở tập thể, các vị tránh sao được nỗi chờ đợi nôn nao. Không có đường dây liên lạc, mà tin truyền đi rất nhanh - những cái tin rất thiêng. Pho tượng đức thánh Khổng Tử ở nhà thánh của hội Tư Văn bỗng nhiên mặt đỏ bừng bừng. Pho tượng Phật ở ngôi chùa xóm Trang Hà bỗng lắc lư làm rung cả tòa sen. Bình hương ngôi miếu sau đèn bỗng nhiên bốc lửa. Long ngai ở nhà thánh tổng bỗng nhiên chảy máu.

Từ đền này đến miếu kia, từ chùa này đến nhà thánh nọ, tin truyền như con thoi. Các cụ càng chăm chú ra sức lễ bái. Khói hương bay ngột ngạt đến tức thở. Qua ánh nến mờ ảo, các pho tượng, các long ngai, lư hương, cọc đèn, hạc gỗ, giá gươm đều rung lên một vẻ tôn nghiêm khác thường. Hàng chục cây nến hồng nhỏ nước mắt lã chã.

Hồi làm nhà thánh tổng Thái Xá, ông nội tôi cũng một số tiền cho nên được Hàng Tổng phong là “ông tổng Quyền”. Sau khi ông qua đời, cha tôi chăm đi lễ thánh, gọi là để giữ cái gia phong do ông truyền lại. Đêm nay, cha tôi đi dự ở các miếu, chùa rất nhanh, nhưng dừng lại khá lâu ở nhà thánh tông. Khi cha bước vào, các cụ tỏ vẻ trọng vọng: “Mời ông tổng Quyền vào... Ông tổng Quyền thắp hương tiện thánh đi... Ông tổng Quyền dâng rượu tiên thánh đi...”. Thường ngày, người ta gọi cho tôi theo tên của chị cả tôi: ông Đoan. Giữa giờ phút long trọng này, người ta gọi cha theo tên của ông nội tôi: ông tông Quyền. Tôi cảm thấy tự hào. Đứng ngoài cửa, tôi dõi nhìn cha tôi khắp xếp, mặc áo lương dài, bước từng bước thận trọng qua nhiều tầng án thư, rồi dừng lại trước pho tượng Khổng Tử: chắp tay lại và cúi đầu một hồi lâu. Từ sau cách mạng tháng Tám thành công, cha làm chủ tịch thôn, chẳng bao giờ trang phục lễ hội, thế mà đêm nay, có lẽ là lần cuối cùng, cha tôi đội cái khăn xếp và mặc chiếc áo lương. Có lẽ cũng là lần cuối cùng cha được nghe các cụ già gọi một cách trân trọng “ông tổng Quyền”. Xem cha lễ xong ở nhà thánh tổng, gà đã gáy canh ba, tôi theo bọn thằng Bá, thằng Viễn đến đền thờ vị thần Áo Trắng. Đây là đền thờ lớn nhất và thiêng nhất ở làng tôi. Đền nằm giữa một khu rừng rậm rạp, có cây muỗm cao sừng sững như cái tháp xanh khổng lồ. Ông từ nói: ngày mồng một và ngày rằm hằng tháng, ông vào thắp hương thường thấy hai con rắn mào đỏ chầu hai bên ngai thờ. Cứ mỗi năm, đến ngày hội, ông thường thấy vị thần Áo Trắng hiện về như một áng mây nhẹ nhàng bay từ bờ sông Bùng qua rừng rậm đến mái đền rồi bay vào hậu cung... Ai đi qua cửa đền cũng phải cất nón. Những người đang có đại tang không được vào đền lễ bái và không được đi qua đền. Một lần, có người đàn bà đầu thắt khăn đại tang quê bên kia sông, đi chợ Len về qua cổng đền, bị hộc máu chết tươi tại chỗ. Lũ mục đồng chúng tôi mỗi lần sắp đến cửa đền là phải xuống trâu... Vẻ đẹp tôn nghiêm của ngôi đền càng được giữ gìn qua trường tồn năm tháng. Cây mọc lên ngày càng nhiều, cổ thụ ngày càng cao hơn, bao bọc mái đến như tán long ngưỡng vọng của dân chúng qua nhiều thế hệ che chở sự bền vững của lịch sử.

Thần phả còn được cất giữ cẩn thận trong hộp sơn son thiếp vàng đặt ở thượng điện. Trong cuốn Lam Sơn thực lục, Nguyễn Trãi cũng ghi: “Vua cùng với Lê Liễu chạy đến bên sông Khả Lam thì thấy một người đàn bà mình mặc áo trắng, đeo xuyến vàng và thoa vàng, chết nằm ở đấy - Vua và Liễu ngửa mặt lên trời và khấn rằng: Ta bị giặc Minh đuổi, xin giúp ta thoát nạn, sau (nếu ta) định được thiên hạ, sẽ lập miếu thờ, hễ có lợn bò cúng tế xin cúng trước”.(Vua và Liễu đắp mộ chưa xong thì giặc xua chó ngao đến. Vua và Liễu chạy vào gốc đa. Giặc lấy mũi giáo đâm vào đùi bên tả Liễu. (Liễu) lấy tay xoa cát nắm vuốt mũi giáo cho hết vết máu. Bỗng có một con chồn trắng (từ gốc cây) chạy ra, chó ngao đuổi theo chồn. Giặc không nghi ngờ (trong cây có người) nữa, liền bỏ đi. Vua nhờ vậy được thoát, khi định xong thiên hạ, (vua) phong thần áo trắng làm Hoằng Hưu đại vương”.

Thần tích ghi là Bạch Y Thần tức là vị thần áo trắng này. Đêm nay là đêm hội cuối cùng tại ngôi đền. Nghi lễ được tổ chức long trọng như ngày hội lớn. Hai dây cờ tả hữu phất phới bay. Ngọn cờ đại bằng ni thêu chữ “Thần” quanh đạc lượn sóng. Cửa tam quan mang nhiều vết đạn thời kỳ cụ Nghè Ôn đánh Pháp bỗng ngời sáng màu ngọc bởi nhiều ngọn nến. Những giải cờ đỏ gắn lục lạc cắm đầy trên cửa chính của phụ, gió thổi vô hồi, lục lạc reo tưng bừng.

Trong điện thờ, các cụ từng đôi một đi hai bên dâng rượu, dâng hương. Cụ chủ tể mặc áo thung đỏ vừa “hơng... bái...” vừa nước mắt chảy ròng ròng. Các cụ khác, cứ ba người một thay nhau vào tấm chiếu hoa trái trước án thư quỳ lạy. Có cụ thụp đầu xuống rất lâu ngỡ như bị ngất vì cơm xúc động lớn. Không xúc động làm sao được! Thần đã cứu vua Lê thoát khỏi nanh vuốt giặc Minh. Thần đã phù hộ cho dân làng vượt qua trăm nghìn trận nguy nan. Sáng mai Thần phải đi tập trung, Thần phải vào thế giới đại đồng cùng với các vị thần khác trong xã. Chỉ còn một đêm, một đêm nay nữa thôi mà. Thần ở với dân làng, cuộc tiễn biệt này nặng nề quá sức chịu đựng của các bậc cao niên.

Trống gióng. Chuông đổ hồi. Lục lạc reo. Rượu cứ rót. Hương cứ thắp. Và “hơng... bái...”. Và quỳ lạy. Một cụ già khi dâng rượu, đứng khấn rất lâu, rồi gục xuống dưới chân ngai uy nghi sơn màu đỏ, phải có người lên dắt cụ mới tỉnh lại. Trong lòng mỗi già làng đêm nay đều phân ra làm hai nửa bằng nhau: một nửa là thành kinh thần thánh, một nửa là tin theo thế giới đại đồng, vừa muốn Thần ở lại với dân làng, vừa muốn Thần đi tập thể để làm gương cho con cháu.

Lễ hội kéo dài đến tận tàn canh. Trời bừng sáng. Không thể nấn ná thêm được nữa. Đã đến giờ tiễn đưa Thần. Lòng các cụ rối bời như tơ vò. Ông chủ tế trong các ngày lễ chỉ đứng làm nhiệm vụ “xướng” như người chỉ huy dàn nhạc, bỗng nhiên ông phá mọi luật lệ bình thường, chạy đến gục đầu dưới chân ngai, khóc nức nở như trẻ nhỏ.

Không thể nấn ná được nữa, mười sáu thanh niên lực lưỡng ghé vai khiêng kiệu “loan giá”. Kiệu đi rất chậm tường như hàng thế kỷ mới nhích được một bước, vì người chen chúc xô vào đông quá. Các già làng xếp hàng đi sau kiệu, mặt iu xìu như bánh đa ngâm nước. Không ai bảo ai, tất cả mọi già làng đều òa khóc.

Thế là thôi, thế là xong, kiệu đã ra khỏi cửa tam quan... Cuộc tiễn biệt đau buồn như cuộc vĩnh biệt...

Thần đã đi rồi. Thánh đã đi rồi. Phật đã đi rồi. Những ngôi đền, ngôi chùa, ngôi miếu như cái xác không hồn... Dân tử chiếng tranh nhau cướp giật mang đi: người được hòn đá tảng, người được cái cửa vọng, người được viên ngói viên gạch, người được cái cột gỗ...

Ôi tan hoang đến tột cùng tan hoang sau cuộc rước các thánh về thế giới đại đồng. Tại nhà thờ thánh, tượng Khổng Tử lăn long lóc như người ăn mày tha hương chết đường chết chợ, bị trẻ con ném cút vào mặt. Tại ngôi chùa Trang Hà, hàng chục pho tượng đổ ngổn ngang, bị lũ mục đồng ném bùn lấm láp nước sơn. Cái giống hình bán nguyệt trước cổng chùa đẹp đến thế mà cũng bị phá phách, cày xới để trồng lúa. Mấy tấm đá ghép cầu bị bê lên làm hố tiêu. Mấy chiếc bia lớn ở nhà thờ thánh tổng, cái thì đem bắc cầu, cái thì bị bọn mục đồng khiêng đi làm trò chơi rồi ta đái vung vãi lên mặt bia.

Còn đền thờ Bạch Y Thần thì sao? Khu rừng cổ thụ đã được đoàn Thành Niên Cứu Quốc phá sạch sành sanh để trồng khoai theo lời kêu gọi “tấc đất tấc vàng” của ủy ban kháng chiến. Cây muỗm mấy trăm năm đã bị đào tận gốc trốc tận rễ, Mùi phân bắc, phân lợn, phân trâu bò xông lên hôi hám khắp cả khu đền cũ. Thượng điện biến thành kho phân. Hạ điện biến thành nơi hội họp. Cửa tam quan bị san bằng hoàn toàn, không còn lại chút dấu vết oanh liệt xưa. Nhà tả mạc, hữu mạc bị phá trụi và được dựng lên đó những túp nhà gianh của các gia đình nghèo khó,

Không còn nữa mùi hương ổi của khu rừng cũ để bọn trẻ chúng tôi vào hái những ngày tháng Bảy. Không còn nữa mùi hương mít quyến rũ vào dịp đầu thu. Không còn nữa những trái thị chín vàng phảng phất hình bóng cô Tấm vào dịp trăng tròn tháng Tám. Không còn nữa câu chuyện hoang đường thiêng liêng con rắn mào đỏ về chầu Ngai, bóng áo trắng của Thần bay lượn trên mái đền... Nghĩa là mất tất cả. Lũ trẻ chúng tôi đã bị tước mất niềm tin tôn kính thiêng liêng vào quá khứ, vào lịch sử. Chúng tội vô tâm vô tư xông vào hậu cung bẻ gãy đầu rồng của Ngai thờ, nghịch ngợm chặt đôi chặt ba con rùa đội hạc, hung ác cầm gươm thần đánh nhau trong những cuộc tập trận giả, tàn ác đập vỡ hòn sơn giả có gốc si bủa rễ bao bọc hàng trăm năm...

Cả xã chỉ còn lại một đền thờ Hàng Khoán dưới chân núi Hai Vai, Đển này có vị trí đẹp, nhưng chẳng có sự tích gì đáng lưu ý. Những người thợ đá lập ngôi đền này để cầu xin thần núi đừng làm hại họ.

Thần, thánh, phật, ma, quỷ đều tập trung về đền Hàng Khoán để cùng nhau sống trong không khí thế giới đại đồng. Đền có nhà thượng nhà hạ, nhưng tất cả thần thánh trong xã tề tựu về đây thì hóa ra chật chội. Từ ngoài cửa đền trông vào rất buồn cười: tượng ông Khống Tư đứng bên cạnh ông Thích Ca Mâu Ni, ngai thờ Bạch Y Thần xếp cùng án thư với thần ăn mày, bài vị ông Đùng đặt kề lư hương đất thờ thần dâm, giá gương thờ cụ tổ nghề làm nón làng Xuân Viên để sát vào thanh gươm thờ tên tướng cướp.

Mọi tôn ti trật tự bị đảo lộn lung tung phèo. Xã hội thần linh đang bình yên, bỗng như bị trận lốc xô tới bất ngờ khiến các vị thần không kịp trở tay đối phó, không kịp van xin cầu cứu Ngọc Hoàng.

Thỉnh thoảng dăm bảy cụ già nhớ ngày tế thần của làng mình, kéo nhau lên thắp hương. Nhưng thấy điện thờ lộn xộn quá, ngao ngán quay về. Dần dà về sau, không ai nhòm ngó, không ai hương khói, đền Hàng Khoán vắng tanh và bị phá phách. Ván cửa bị giật. Ngói vỡ, mưa nắng dột nát. Hạc gỗ bị gãy cổ. Ngai thờ bị vứt lăn ngả nghiêng. Và cuối cùng, ngôi đền bị phá hủy hoàn toàn, cỏ hoang mọc um tùm.

Thế giới đại đồng của thần linh thế là tan vỡ. Các vị thần quay về chốn cũ thì chốn cũ đã tiêu điều. Bây giờ các vị thần phiêu dạt nơi đâu?

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.