Chuyện Làng Ngày Ấy

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 54 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tết Độc Lập

❊ ❊ ❊

Ngày mồng 2 tháng Chín hằng năm, dân làng tôi gọi là ngày “tết Độc Lập”. Cả làng nghỉ việc đồng áng. Nhà nào cũng thắp hương bày biện mâm cỗ cúng đơm. Nhiều trò vui được tổ chức như ngày tết Nguyên Đán. Làng xóm hân hoan trong phong tục mới.

Quên làm sao được tết Độc Lập đầu tiên năm 1946. Suốt từ ngày 19 tháng Tám đến ngày mồng 2 tháng Chín, mọi người nô nức mặc quần áo mới đi dự hội. Dân quân, tự vệ thì tổ chức tập trận. Các cụ phụ lão thì rào “làng chiến đấu”. Các bà mẹ thì đi ủy lạo đơn vị bộ đội, gia đình cách mạng. Lũ trẻ chúng tôi thi nhau làm những chiếc đèn ông sao thật đẹp để chuẩn bị cho đêm rước đèn. Đúng tối mồng 2 tháng Chín, lễ rước đèn được tổ chức trong toàn xã. Loanh quanh khắp các ngõ xóm, đèn nổi nhau thành một dòng ánh sáng cùng với tiếng trống tưng bừng. Người đứng xem hai bên đường rất đông.

Tối mồng 3, kết thúc những ngày vui, có biểu diễn kịch nói. Đây là món ăn tinh thần hoàn toàn mới do bác Chắt kế mang về. Người ta đồn bác Chắt kế có nhiều tài: thợ nề, thợ mộc, chạm khắc, vẽ... Hồi bị tù ở Ban Mê Thuột, bác dùng tre đan chữ nho trên cái trường rất công phu. Hồi bị tù ở Lao Bảo, bác soi gương, dùng mực nho tự vẽ ảnh mình. Bác còn làm những cái hộp gỗ nhỏ chạm trổ rồng phượng... Bây giờ bác lại tự viết kịch bản, rồi lại làm thầy tập cho đội kịch. Vở kịch đả phá mê tín dị đoan, đại khái như thế này:

Ngày 2 tháng Chín, từ hạ giới đoàn ông Táo kéo nhau về chầu Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng ngạc nhiên hỏi: Sao chưa hết năm đã về? Ông Táo thưa: Cả làng Hậu Luật theo đời sống mới, cúng tết vào dịp này. Ngọc Hoàng hỏi lại: Thế sao không mang quà về? Ông Táo lại thưa: Dân làng Hậu Luật giác ngộ lắm, họ chẳng cứng đơm gì cả, chỉ thắp hương.

Vở kịch diễn vừa xong, từ trong xóm xa, có tiếng ồn ào. Mọi người đổ xô tới: mấy người dân quân bắt trói ông Tường về tội ông ta uống rượu say, nói năng lè nhè. Làng đã ra lệnh cấm uống rượu để thực hiện đời sống mới, ông Tường uống rượu tức là phạm luật làng, tức là không tuân theo cách mạng. Bà Tường vừa chạy theo vừa khóc. Vừa thấy bác Chắt Kế, bà chắp tay xin: “Bác tha tội cho nhà em. Người dưng nước lã bác cũng phải tha tội giữa ngày vui này, huống hồ bố nó là bậc em út họ hàng của bác”. Bác Chắt Kế giơ tay, nói đĩnh đạc: “Em út họ hàng càng phải phạt. Bây giờ cách mạng không có cái lối một người làm quan cả họ được nhờ. Tôi là bậc đàn anh chị trên của chú Tường, nhưng cách mạng phải nghiêm, không nể nang bất cứ ai.”

Thế là ông Tường bị dân quân trói hai tay, ngồi ở đình suốt một đêm. Bà con tin về các ngả đường, bàn tán:

- Cái ông Tường nghiện rượu, làm mất vui!

- Sao ông ta lạc hậu thế! Không chịu giác ngộ một chút nào!

- Ông Chắt kế đúng là cách mạng! Xử phạt công minh! - Ông Chắt kế có họ hàng gần với ông Tường mà cũng không tha tội cho ông Tường, thật xứng là một nhà cách mạng!

- Bà có thấy không, ông Tường khát nước, xin nước uống, ông Chắt kế cũng không cho. Cách mạng nghiêm thật!

Thêm được ngày hội “tết Độc Lập”, nhiều ngày hội cổ truyền khác bị phế bỏ; rằm tháng Giêng, Thanh Minh, tết Đoan Ngọ, rằm tháng Bảy... Người ta cho đó là phong kiến cổ hủ, là mê tín dị đoan. Một số gia đình quyến luyến phong tục lâu đời của ông cha, lúc đầu lặng lẽ làm cỗ sơ sài, rồi dần dần chỉ thắp hương, cuối cùng bỏ hẳn. Họ sợ làng xóm chê cười. Thế là cả làng cách mạng triệt để, thay cũ đổi mới hoàn toàn. Gặp nhau ngoài đường, giơ nắm tay phải lên ngang tại “chào đồng chí”. Nhất là trong các cuộc hội nghị, mẹ gọi con bằng “đông chí”, con gọi bố bằng “đồng chí”, anh gọi em bằng “đồng chí”.

Riêng ngày tết Nguyên Đán, cách mạng không đề ra phá bỏ, nhưng cũng không ai đứng ra tổ chức các cuộc vui như trước. Người ta cảm thấy ngại một cái gì đó vô hình - một cái gì đó vô hình khuyên bảo người ta hãy từ bỏ mọi tập tục thôn xóm được hình thành qua hàng trăm ngàn năm nay.

Tết đến. Các gia đình cũng gói bánh tét, bánh chưng, cũng thắp hương đơm cỗ. Nhưng đó là việc của từng gia đình, không liên quan gì đến xã hội.

Sáng mồng 2 Tết, xã đã phát động phong trào “động canh”, nghĩa là tất cả mọi người đều phải xuống đồng, nghĩa là tết chấm dứt.

Tương tự như các vùng quê khác, trước đây làng tôi có tục lệ “khai canh”. Sau Tết, người ta chọn ngày tốt để mở đường cày đầu tiên với niềm tin mùa màng năm ấy sẽ tốt tươi, phong nẫm. Lễ khai canh được tiến hành một cách long trọng tại nhà thờ đại tôn - nơi thờ đức tổ Triệu Cơ:

Sáng mai, các cụ mở cửa nhà thờ thắp hương, dâng rượu, tràng pháo nổ. Đám trai tráng vác chiếc cày làm bằng tre khô dán giấy màu và chiếc thuyền bé, trên thuyền có hình người bằng giấy vác cày vác bừa cỡi trâu, lượn vòng quanh cây nêu. Họ vừa đi nhịp nhàng vừa hát:

Nối nghiệp lớn ông cha Đầu xuân mới ta ca Ca rằng:

Đức tổ

Con nhà khốn khó

Chăm chỉ cày bừa

Dựng nên cơ đồ

Xây làng lập ấp

Phong vận may gặp

Hội mở đầu năm

Thượng hạ chiềng dân

Sắm cày sắm cuốc

Lão nông đi trước

Trai tráng theo sau

Ai nấy mau mau

Ra mà mở hội Hát xong một lần thì vòng ngược lại. Sau ba lần, ông chủ tế đánh một hồi ba tiếng trống, đám trai tráng vác cày và thuyền xuống đặt dưới đồng sâu. Lúc họ quay trở về, làng mới bắt đầu mở đường cày khai canh.

Người cầm cày là một lão nông có con gái con trai, gia đình hòa thuận, làm ăn khấm khá. Lão mặc áo dài nâu đến gối, quần trắng đến gối, ngang lưng thắt khăn trắng, đầu thắt khăn đỏ thủ rìu. Hồi trống vang lên đĩnh đạc, lão từ từ bước xuống thửa ruộng trước nhà thờ, làm những động tác cẩn thận: hai tay xoa vào nhau, vỗ nhẹ lên lưng trâu, mắc ách lên vai trâu, rồi cầm cày giục trâu bước. Trỗng điểm nhịp đều đều. Nếu đường cày hơi cong người đánh trống gõ “cắc” vào trong gỗ. Đi xong ba đường cày, người đứng xung quanh bờ reo hò hòa với tiếng trống âm vang. Mọi người ai về nhà nấy, mở đường cày ngay trong vườn nhà mình. Ông cháu, bố mẹ, con cái ríu rít ra vườn “hội khai canh” nhỏ. Con trâu đường cũng vui hơm, béo hơn. Sau khi làm xong công việc, trâu được ăn bánh chưng với cỏ non, uống nước ấm và nằm dưới gốc cây thanh thả nhai hương mùa xuân.

Lễ khai canh bây giờ không còn nữa. Con thuyền giấy dán đủ màu sắc sặc sỡ biểu tượng sinh hoạt động chiêm trũng đã vắng bóng. Người lão nông đáng kính trọng đã lùi xa dĩ vãng.

Đường cày khai canh đầu xuân chỉ để lại một vệt mờ trong ký ức tôi...

Cứ hằng năm, trước Tết hai tháng, ông tôi ra chợ mua trầm về phơi khô, rang dòn, nghiền thật bột, rồi trộn với các thứ hương liệu khác, đụng vào chai. Để làm được việc đó, ông cẩn thận từng khâu, từng động tác nhỏ. Tự mình ra chợ huyện mua trầm. Tự mình đến hiệu thuốc bắc mua hương liệu. Rửa tay thật sạch khi nghiền trầm. Ngồi suốt buổi, hai tay lăn đều đều chiếc bánh xe đồng lăn trên chiếc “thuyền” đồng, trầm bị xé từng sợi nhỏ rồi vụn tơi ra. Các chai đựng trầm và hương liệu cũng được xóc đi xóc lại bằng sỏi nhiều lần, đến nỗi nhìn qua vỏ chai không thấy một gợn đục nào, thủy tinh trong veo.

Nghiền trầm xong, ông bắt đầu làm chu hương - tức là cây hương. Chu bằng ruột tre non, chẻ thành từng thanh đều đặn, rồi để lên mái nhà phơi nắng phơi sương suốt hơn một tháng trời. Làm như thế, khi thắp, hương sẽ cháy đều và cháy hết từ ngọn đến gốc.

Khoảng 20 tháng Chạp, ông bắt đầu cuộn hương. Trên tấm chiểu mới, ông bày biện đủ các thứ: trầm trộn hương liệu, chu hương, giấy bản. Trước khi trộn ông rửa sạch hai bàn tay, ngồi xếp bằng, rung rung hai đùi, tưởng như đang sắp làm một việc gì quan trọng. Cuộn xong cây hương đầu tiên, ông thắp thử và ngồi ngắm. Hương cháy rất đều. Tàn hương cuộn vòng, cho đến khi cháy hết tàn vẫn không rụng xuống. Mắt ông lim dim. Râu tóc ông bạc phơ phảng phất vài sợi khói lẫn với mùi trầm thơm một hương vị thiêng liêng. Tôi có cảm giác ông là vị tiên ngồi giữa hang động thiên nhiên thoảng thơm vị trầm của thượng giới.

Năm nào cũng vậy, chiều 29 Tết, ông mở chiếc hòm gỗ trắc, đem ra nào hạc đồng, câu đối, trướng... Không cần ông sai bảo, quen như mọi năm, tôi đem đôi hạc đồng đánh trấu cho đến khi con hạc ánh lên một màu vàng chói. Còn ông tôi thì giăng câu đối quanh bàn thờ. Tôi kính cận đứng sau lưng ông, ngắm bàn thờ rực rỡ màu sắc đón đợi mùa xuân: đôi hạc đồng vàng bóng ngậm hoa sen, câu đối màu vải đỏ vải hường vải vàng, án thư lấp loáng màu sơn, long ngai phủ tấm nhiều điều gợi cho tôi trí tưởng tượng hồn tổ tiên bảng lảng đâu đó...

Sau tết Độc Lập đầu tiên, đến tết Nguyên Đán, không thấy ông tôi cuộn hương trầm như trước, chỉ mua hương ở chợ. Chiếu 29 Tết, ông mở hòm gỗ trắc, lau bụi đôi hạc đồng, xếp lại câu đối, rồi khóa hòm. Tôi ngỡ ngàng hỏi: “Sao ông không đem ra cúng tết?” Ông trả lời giọng ngậm ngùi: “Bây giờ là cách mạng, khác rồi cháu ạ.” Vĩnh viễn các đồ tế khí linh thiêng ấy nằm trong hòm khóa kín như tấm lòng ông tôi khóa lại niềm tôn kính thờ phụng tiền nhân.

Vùng quê tôi không sản xuất các loại bánh truyền thống phong phú và ngon như ở ngoài Bắc hoặc như ở Huế. Nhưng cũng có một số loại bánh thường có mặt trên mâm cỗ ngày tết. Bánh mật: bột nếp về thành từng viên dẹt rồi kho với mật mía. Bánh ít: nếp trộn với mật, gói lá chuối, to bằng bánh gai, nấu chín. Bánh nổ: bột nếp được vắt thành những khối vuông đặt vừa vào chiếc đĩa, trên mặt rắc những hạt gạo nở nhuộm màu xanh màu đỏ. Bánh ong: nếp kho với mật, cắt thành từng khối vuông, trông vàng óng như tổ ong. Bánh tày: một loại bánh tét nhỏ bằng cô tay...

Đó là những loại bánh phù hợp với phong cách và khẩu vị “chặt to kho mặn” của người xứ Nghệ, chắc chắn không ngon một cách thơm thảo như bánh của nơi khác, nhưng đậm đà. Những ngày tha hương, được ăn một mẩu bánh quê thì bồn chồn nhớ tuổi thơ, nhớ bà con làng xóm.

Trong không khí rộn rịp chuẩn bị tết, trẻ con thường được bố mẹ cho chiếc bánh tay, bánh ít cầm đi chơi tung tăng với bầu bạn, cảm thấy sung sướng. Mỗi lần mẹ tôi cho tôi hai cái bánh ít, tôi bỏ vào hai túi, dắt trâu ra đồng rồi “góp cỗ làng” với bạn bè. Đứa thì góp bánh nổ, đứa thì góp bánh tày, đứa thì góp bánh ong... Chúng tôi tổ chức ăn cỗ tết ngay trên cồn cỏ giữa làng. Nhà thằng Bá nghèo, nhiều khi không có bánh để góp cỗ, tôi giấu bạn bè cho nó một cái bánh ít để nó cũng góp và dự cỗ...

Từ ngày có tết Độc Lập, các loại bánh cổ truyền này vắng bóng dần và cuối cùng mất hẳn, chỉ còn lại bánh tét và bánh chưng. Bác Chắt Kế hướng dẫn dân làng làm một loại bánh gọi là “bánh độc lập”. Vào mùa thu hoạch khoai lang, người ta luộc chín khoai, thái ra từng lát mỏng, phơi thật khô, bỏ vào chum, đậy kín bằng lá chuối, gọi là “khoai gieo”. Khi cần làm bánh, đem khoai gieo kho với mật, đơm thành từng đĩa, ăn ngọt sắc pha vị bùi. Loại “bánh độc lập” này người ta chỉ làm một vài tết rồi cũng bỏ. Chẳng qua đó là một loại bánh của con nhà nghèo, ăn chăng ngon lành gì.

Riêng nhà bác Chắt Kể làm mâm cỗ tết rất độc đáo: thịt chó!

Ở nước ta, nhiều nơi dân kiêng ăn vào đầu tháng và càng kiêng ăn vào đầu năm các thứ mắm tôm, cá chép, thịt chó... Thế mà ngay giữa ngày mồng một Tết, bố con bác Chắt kế bắt chó làm thịt. Thật là to gan! Tin này truyền đi rất nhanh. Các cụ già ngôi uống rượu, bàn tán:

- Ông Chắt kế liều thật! - Không phải liều đâu, làm cách mạng thì phải thế! - Sao làm cách mạng lại ăn thịt chó giữa ngày mồng một Tết?

- Để làm gương cho người khác, để phá đầu óc cổ hủ cho dân.

Anh Tư, con bác Chất Kế, đi chơi, nghe mấy ông bà già nói: từ xưa đến nay, ai ăn thịt chó vào đầu tháng cũng gặp rủi ro, còn cái việc ăn thịt chó vào mồng một Tết thì tối kỵ, tối tối kỵ. Anh

Tư sợ quá, ra góc vườn, nhìn ngược nhìn xuôi không thấy ai, thò ngón tay vào móc họng để nôn ra. Chẳng hiểu thế nào việc này lọt vào tai bác Chắt Kế, anh Tư bị bác gọi về mắng cho một trận ngay giữa chiều mồng một Tết.

Làng tôi có hội tuồng nổi tiếng trong huyện.

Gần hai trăm năm trước, cụ Hậu, một cụ đồ trong làng, đứng ra lập hội tuồng, cho nên người ta gọi là “cụ trùm Hậu”. Cụ Hậu nhà nghèo, nhưng nổi tiếng là người tài hoa. Vào tiết lập hạ, nhiều người hăm hở đua nhau chơi thả diều, diều của cụ Hậu thường thắng cuộc: tiếng sáo kêu trong veo và diều bay cao tít tận trời xanh chỉ còn một chấm nhỏ như vì sao. Cụ còn có tài thổi sáo, đêm khuya thanh vắng cụ thường ra ngôi bãi cỏ đâu làng thổi những điệu buồn thương ai oán, ngọn gió nồm mang tiếng sáo lan tỏa khắp cả bầu trời trăng. Nghe nói có lần cụ đi dạy học ngoài Bắc, một cô gái mê tiếng sáo mà theo cụ đi lang bạt kỳ hồ suốt mấy tháng. Đến lúc cao tuổi, cụ không còn đủ sức để cao chạy xa bay nữa bèn trở về làng, bán gia sản, lập hội tuồng, mời thầy về dạy.

Hội tuồng càng ngày càng thịnh đạt. Nhiều người tự nguyện góp thóc, góp tiền để mua sắm áo quân, phông màn và nhạc cụ. Sau khi cụ Hậu qua đời, những ông đồ hào hoa khác nổi tiếp làm trùm hội: Ông Uẩn, ông Lới, ông Khường... Cụ Hậu được tôn làm ông tổ của hội tuồng làng Hậu Luật. Trước mỗi đêm diễn, anh em trong hội làm mâm xôi, con gà, thắp hương cúng tổ.

Đời này qua đời khác, hội phát triển rất nhanh, dân làng đóng góp ngày càng nhiều. Có người bán mâm đồng, nồi đồng để lấy tiền cúng hội. Có người đi gặt thuê về cũng bỏ ra một vài yến thóc cúng hội.

Càng về sau, người xin vào hội càng đông. Ông trùm phải đứng ra tuyển chọn kỹ lưỡng: dáng người đẹp, mặt đẹp, giọng hát hay, hoặc người có tài chơi nhạc cụ. Đặc biệt, một gia đình năm người có chân trong hội tuông. Nhưng tuyệt nhiên hội không tuyển chọn con gái, khi vở diễn cần vai nữ thì nam phải hóa trang.

Sự phân công trong hội rất rõ ràng và công việc của từng người được chuyên môn hóa. Thời nào cũng có người nổi tiếng về một vai diễn hoặc một việc cụ thể, đến nỗi tên riêng được gắn với vai diễn hoặc công việc như một tính từ: ông Nghị Triệu Tử Long, ông Ước Thủy Văn Long, ông Khương tô mặt (hóa trang), ông Trang đánh trống, ông Tá kéo nhị, ông Lai đánh phong la, ông Thể kéo màn..

Lúc đầu ông trùm phải đi đặt trang phục ở những nơi xa về. Về sau, hội tự đào tạo người làm trang phục. Hồi tôi lên bảy lên tám thường được thằng Bá và mấy đứa bạn trong xóm rủ đến nhà bác Lới xem làm đồ tuồng. Chúng tôi ngồi hàng buổi mê mải xem mũ áo treo khắp nhà, rực rỡ màu sắc, lóng lánh hạt cườm trên mũ vua áo chúa. Trong con mắt ngây thơ và giàu trí tưởng tượng của chúng tôi, bác Lới là một ông tiên có nhiều phép lạ. Suốt mùa đông, bác ngồi sửa sang lại một cách tỉ mẩn từng giải áo, từng cánh chuồn mũ vua quan, từng cái roi ngựa, từng mũi hài... để rồi đón mùa xuân tới - mùa xuân tới, những bộ trang phục rực rỡ này sẽ hiện huy hoàng trên sân khấu.

Năm nào cũng vậy, cứ tối mồng hai, mồng ba Tết, hội tuồng diễn tại làng mình. Suốt Giếng, Hai, hội tuồng đi diễn khắp thiên hạ. Nhiều làng khác cũng tổ chức hội tuổng, nhưng hội tuồng làng tôi nổi tiếng hơn. Từ tháng Chạp trước Tết, nhiều nơi đã đến mời.

Chao ôi, âm thanh của tiếng trống tuồng sao mà rộn rã, mà náo nức đến vậy. Vừa nhập nhoạng tối, từ đình làng tiếng trống nổi lên, mọi nhà soạn sửa ăn cơm sớm hơn để đi xem. Cụ già mù lòa cũng bảo cháu con dắt đi để nghe hát. Có đêm diễn đến canh hai canh ba, trai gái đi xem về chưa kịp ngủ đã lo nấu cơm để lên núi hái cỏ. Tối hôm sau lại đi xem. Xem ở làng này rồi xem ở làng khác, Tiếng trống chuyền khắp mọi làng mọi xã. Lũ trẻ chúng tôi đi theo hội tuồng tới những vùng xa xôi tận bên kia sông Bùng, bên này sông Cấm.

Tiếng trống tuồng thưa dần rồi im bặt sau cái tết Độc Lập đầu tiên. Thay vào đó là kịch nói, kịch dân ca. Kịch bản được viết ra theo từng thời vụ, từng chủ trương, chính sách của cấp trên đưa về. Chỉ có thanh niên kéo nhau đi xem những đêm diễn ấy, còn các cụ già thì trùm chăn ngủ khoèo ngay giữa ngày tết Nguyên Đán.

Hồi ấy, chính bác Chắt kế cũng tham gia vẽ phông màn cho hội tuồng. Trong những ngày sắp cướp chính quyền và thời kỳ Mặt Trận Dân Chủ, các đảng viên do bác đào tạo đã dùng những đêm diễn tuồng để tuyên truyền cách mạng. Bây giờ bác lại là người chủ trương phế bỏ tuồng. Thế là bao nhiêu đồ trang phục của hội tuồng sắm sanh qua hàng chục hàng trăm năm bị vứt bỏ.

Một hôm, bác Chắt kế sang nhà bác Lới chơi, thấy mấy chiếc áo tuồng treo trên vách. Bác đưa tay sờ rồi ngắm nghía với một thái độ trân trọng và nuối tiếc. Bác Lời rung đùi:

- Hay là ta phục hồi hội tuồng? Bác Chắt Kế hơi gật đầu, rồi từ tốn nói lại:

- Vắng tiếng trống tuồng, làng xóm buồn tẻ. Nhưng mà diễn lại các tích vua quan phong kiến chỉ có hại. Được rồi, chú để tôi tính xem...

Bác Chắt Kế gợi ý cho một thầy đồ viết vở tuồng “núi Nam Sơn” nói về các chiến sĩ cách mạng đánh Tây. Sau một thời gian tập luyện, vở tuồng được công diễn. Im bặt từ lâu, tiếng trống tuông bông vang lên tưng bừng. Cụ già, thanh niên, trẻ em kéo nhau đi xem nghìn nghịt. Nhưng chỉ diễn vài đêm là người xem chán nản. Các làng khác cũng không mời đi diễn.

Từ đó, hội tuồng hoàn toàn tan rã. Một nền nghệ thuật được xây dựng qua mấy trăm năm bị phế bỏ hoàn toàn. Trong tâm tưởng của lớp người cao tuổi vẫn lưu lại hình ảnh đẹp đẽ những nhân vật tuồng: Thúy Văn Long xông vào hang quỷ để cứu nàng công chúa, vua Trần Anh Tôn cởi áo bào đắp cho người ăn mày nằm bên vệ đường...

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.