Hai mươi năm trở lại đây, tôi chỉ xem hát tuồng Trung Quốc có hai lần. Hai lần đều vào khoảng mười năm sau này thôi, chứ khoảng mười năm trước, tuyệt nhiên không xem lần nào; không thích xem mà cũng không có dịp xem. Nhưng cả hai lần đó, cũng chưa xem được gì hết thì đã bỏ về.
Lần thứ nhất là khi tới Bắc Kinh, năm Dân quốc nguyên niên,[1] Bấy giờ có một anh bạn đến rủ:
- Tuồng Bắc Kinh hay lắm. Anh không đi xem cho biết?
Tôi nghĩ bụng: xem tuồng thì cũng thú đấy, huống nữa là lại được xem ngay ở Bắc Kinh. Thế là chúng tôi hăm hở kéo nhau đến cái rạp gì đó. Đã bắt đầu hát rồi. Ở ngoài đã nghe trống đánh thùng thùng. Vừa chen lọt vào cửa thì thấy trên sân khấu màu đỏ, màu xanh loang loáng trước mắt, và dưới sân khấu, lúc nhúc những đầu người. Định thần lại nhìn bốn phía thì thấy ở khoang giữa có mấy chỗ ngồi bỏ trống. Chen vào sắp ngồi xuống thì có người xì xào. Tiếng trống ù cả tai, chú ý mới nghe ra là ông ta bảo: "Có người rồi! Không được!"
Chúng tôi lui ra. Nhưng một người đuôi sam láng bóng dẫn chúng tôi sang phía bên cạnh, chỉ cho một chỗ ngồi. Cái gọi là chỗ ngồi đó vốn là một chiếc ghế dài, nhưng mặt ván chỉ rộng bằng ba phần tư cái đùi của tôi, còn chân thì lại cao gần bằng hai chân tôi. Tôi chưa có gan trèo lên bỗng chợt liên tưởng đến một thứ dụng cụ tra tấn đặc biệt mà bất giác sởn tóc gáy, bỏ đi ra.
Đi được một quãng xa, bỗng nghe tiếng anh bạn hỏi:
- Thế nào đấy?
Quay đầu lại mới hay là anh bạn đã bị mình cầm tay kéo bừa theo. Anh ta rất đỗi ngạc nhiên hỏi tiếp:
- Sao, sao lại cứ cắm đầu bỏ đi như thế, hỏi không nói?
Tôi trả lời:
- Xin lỗi. Tai tôi ù lên, anh hỏi không nghe.
Về sau, mỗi lần nghĩ đến, tôi rất lấy làm quái lạ. Hình như lối hát tuồng đó không hay lắm, nếu không phải thì chắc là cái cách ngồi xem tuồng như thế kia, đối với tôi, không thích hợp nữa rồi!
Lần đi xem thứ hai, không nhớ vào năm nào, chỉ nhớ vào dịp quyên tiền giúp dân Hồ Bắc bị nạn lụt, và lúc đó kép Đàm Khiếu Thiên còn sống. Quyên bằng cách mua một cái vé hai đồng bạc đến xem hát ở rạpĐệ nhất võ đài. Rạp này toàn là kép có tiếng đóng, trong đó có Đàm Khiếu Thiên.[2] Tôi cũng mua một vé, thật ra là nể người đi quyên mà thôi. Nhưng rồi hình như lại có một anh nào hiếu sự, nhân dịp đó nói cho biết một điều hết sức quan trọng. Thế là tôi quên mất cái nạn chiêng trống inh tai năm trước, cứ đến rạpĐệ nhất võ đài. Nhưng có lẽ lần đi xem này, cái vẻ quý báu kia cũng quyết định một phần. Đã bỏ tiền ra mua bằng một giá đắt như thế thì phải sử dụng mới khỏi tiếc. Tôi dò hỏi biết được là kép Khiếu Thiên chỉ phần cuối vở mới ra. vàĐệ nhất võ đàilà một rạp hát kiểu tân thời, không cần phải tranh nhau chỗ ngồi, nên yên chí và chần chừ mãi đến chín giờ mới ra đi. Ai ngờ rạp vẫn chật ních như thường, tìm được chỗ đặt chân cũng khó. Tôi đành phải chen vào đám người đứng phía sau mà nhoi lên nhìn một anh kép đóng vai bà lão[3]đang hát. Bà lão miệng ngậm hai cái que quấn giấy cháy đỏ rực, đứng cạnh là một tên quỷ sứ. Nghĩ mãi mới đoán chắc có lẽ bà này là mẹ Mục Liên[4]chăng, bởi vì sau đó lại thấy có một vị hòa thượng đi ra… Nhưng tôi không rõ ai thủ vai kia, bèn hỏi một ông cụ to béo bị ép gần bẹp gí, ở phía bên trái tôi. Ông cụ lườm tôi một cái, vẻ khinh thường rồi nói: "Củng Vân Phủ[5] chứ ai!" Tôi xấu hổ thấy mình quê mùa mà lại khờ dại, nóng cả mặt, định bụng quyết không hỏi nữa. Sau đó, lại xem một kép thủ vai đào tơ, một kép thủ vai tiểu thư một kép thủ vai bà già, một kép không biết thủ vai gì, rồi xem một toán người đánh nhau loạn xạ, xem ba người đấu võ, từ hơn chín giờ đến mười giờ, từ mười giờ đến mười một giờ, từ mười một giờ đến mười một giờ rưỡi, từ mười một giờ rưỡi đến mười hai giờ... Nhưng kép Khiếu Thiên vẫn chưa ra...
Xưa nay tôi chưa hề chầu chực một cái gì nhẫn nại được như vậy, huống chi cái ông cụ to béo đứng cạnh tôi cứ thở phì phì, trống chiêng trên sân khấu cứ đánh inh cả tai, màu sắc lòe loẹt cứ chói cả mắt, lại đã mười hai giờ rồi, nên tôi bỗng tỉnh ngộ, thấy việc mình đứng đây quả thực không thích hợp chút nào cả. Như cái máy, tôi quay lại cố hết sức chen ra ngoài, và cảm thấy phía sau lưng, cái chỗ trống đó đã được lấp kín rồi, và cái ông cụ to béo, có thể co giãn kia, chắc đã để cho nửa người bên phải ông ta phình ra được một chút. Có muốn trở lại chỗ cũ cũng không được nữa, tất nhiên là phải chen ra. Chen mãi và cuối cùng thì chen ra được đến cửa. Ngoài đường, trừ những chiếc xe chở khách, hình như không có ai nữa. Chỉ ở cửa rạp, có hơn mười người đứng nghếch đầu lên xem quảng cáo, lại có một số đứng mà không xem gì hết. Tôi nghĩ bụng: có lẽ bọn này đứng chờ xem phụ nữ tan hát đi về chăng. Ấy thế mà kép Khiếu Thiên vẫn chưa ra!...
Khí trời ban đêm mát lạ, quả như "thấm vào da vào thịt". Có lẽ lần này là lần đầu tiên tôi ở Bắc Kinh được thở cái không khí trong lành như thế.
Đêm ấy là đêm tôi từ biệt hẳn hát tuồng Trung Quốc, và sau đó, không bao giờ nghĩ đến nữa, "chúng tôi" cũng phớt đều nhau như thường bởi vì tâm hồn "chúng tôi" đã là kẻ ở Nam người Bắc từ lâu rồi!
Nhưng mấy hôm trước đây, bỗng vô tình được xem một cuốn sách Nhật Bản, - tiếc là quên mất tên sách và tên tác giả rồi - nhưng là một cuốn sách bàn về hát tuồng Trung Quốc. Có một chương đại ý nói: hát tuồng Trung Quốc thôi thì đánh trống đánh chiêng inh tai, la hét om sòm, nhảy múa loạn xạ làm người xem choáng váng cả đầu óc; diễn trong rạp rất không thích hợp nhưng diễn ở một chỗ trống, giữa cánh đồng và đứng xa xa mà xem, cũng có cái phong vị riêng của nó. Xem xong, tôi có cảm tưởng như câu này nói lên được những điều đã có sẵn trong đầu óc tôi, nhưng tôi chưa hề nghĩ mà nói ra thành lời đó thôi, bởi vì tôi nhớ đích xác là đã được xem hát tuồng giữa cánh đồng và quả rất hay. Cho nên khi lên Bắc Kinh, có lại rạp hát hai lần có lẽ chính vì chịu ảnh hưởng của lần xem ấy. Đáng tiếc là chẳng hiểu thế nào mà lại quên bẵng cái tên sách đi!
Thực ra thời kỳ xem hát tuồng mà thấy hay kia thì đã "xa xăm lắm" rồi, e vào hồi mới mười một, mười hai tuổi. Theo phong tục ở Lỗ Trấn chúng tôi, phàm con gái đi lấy chồng rồi nhưng chưa phải đảm đương việc nhà thì mùa hè thường được về nhà mẹ chơi. Hồi đó, bà nội tôi tuy còn mạnh nhưng mẹ tôi cũng đã phải lo liệu một phần việc trong gia đình, nên mùa hè không thể về ở nhà lâu được, đành phải chờ tảo mộ xong xuôi, rỗi rãi mới về ít ngày thôi. Mỗi năm nhân dịp này, tôi cũng theo mẹ tôi về ở nhà bà ngoại. Nhà bà ngoại tôi ở làng Bình Kiều[6]một làng nhỏ ở bên bờ sông, cách biển không xa lắm và rất hẻo lánh. Cả làng không đầy ba mươi nóc nhà đều làm ruộng, đánh cá, chỉ có một phố bán hàng xén nho nhỏ. Tuy vậy đối với tôi, Bình Kiều là một cảnh thiên đường, ở đây không những tôi được chiều chuộng mà lại không còn phải học những câu: "Trật tự tư can, u u Nam Sơn[7] nữa.
Tôi có rất nhiều bạn nhỏ. Vì tôi là khách đường xa nên cha mẹ các anh bạn tôi cũng bớt công việc cho họ để đến chơi với tôi. Ở làng nhỏ, khách của một nhà mà hầu như cũng là khách chung của cả làng. Chúng tôi xuýt xoát bằng tuổi nhau, nhưng kể thứ bực thì nhất nhất các anh ấy cũng là bác, chú tôi, có mấy người, tôi còn phải gọi bằng ông nữa kia, bởi vì cả làng đều người cùng họ, bà con với nhau hết. Nhưng chúng tôi là bạn, giá thử đôi khi cãi lộn nhau rồi cháu có nhè ông mà đánh thì trong làng, từ già đến trẻ, quyết chẳng ai nghĩ ra hai chữ"phạm thượng" mà luận tội, bởi vì ở đây chín mươi chín phần trăm đều không biết chữ.
Việc của chúng tôi hàng ngày đại khái là đào giun, mắc vào lưỡi câu nhỏ làm bằng dây đồng rồi ra nằm bẹp ở bờ sông câu tôm. Tôm là giống khờ dại nhất trong các giống vật ở dưới nước; chúng nó cứ lấy hai cái càng ôm lấy lưỡi câu chẳng sợ sệt gì cả, nên không mấy chốc đã có thể câu được một cái bát to tướng. Lệ thường tôm ấy tôi được ăn tất. Rồi ngoài ra, chúng tôi cùng nhau đi chăn trâu. Có lẽ trâu bò là động vật cao đẳng chăng nên đều xem thường người lạ và dám coi tôi chẳng ra gì; vì vậy, tôi cũng chẳng dám lại gần, đành chỉ đi theo xa xa, hoặc đứng cách một quãng. Những lúc ấy, mấy anh bạn nhỏ của tôi không vì tôi biết chữ, có thể đọc được"Trật tự tư can"mà tha thứ cho tôi. Các anh ấy cứ nhè tôi chế giễu.
Điều tôi mong mỏi nhất khi ở đây là được sang làng Triệu xem hát. Làng Triệu lớn hơn Bình Kiều và cách năm dặm đường. Bình Kiều nhỏ quá, không tổ chức hát riêng được, năm nào cũng phải đóng cho làng Triệu ít tiền gọi là để tổ chức hát chung. Hồi đó, tôi không hề nghĩ vì sao hàng năm, người ta lại phải tổ chức hát như thế. Bây giờ nghĩ lại thì đoán hoặc giả là nhân dịp mùa xuân tế thần mà hát chăng. Đó tức là "xã hí"[8]
Cái ngày hát tế thần năm tôi mười một mười hai tuổi đó đã gần đến nơi rồi. Đen quá, không ngờ buổi sớm không thuê ra thuyền. Làng Bình Kiều chỉ có một chiếc thuyền lớn chở khách sáng đi tối về, không có lý giữ lại dùng riêng. Còn ngoài ra, đều là thuyền nhỏ không đi được. Nhờ người sang làng bên cạnh hỏi, cũng không có, chiếc nào người ta cũng thuê trước cả rồi. Bà ngoại tôi lấy làm bực lắm, phàn nàn mãi, trách người nhà sao không thuê trước đi. Mẹ tôi tìm lời an ủi bà cụ, nói rằng ở bên Lỗ Trấn chúng tôi hát hay hơn cái làng nhỏ này nhiều, mỗi năm xem những mấy lần, bây giờ không đi xem cũng chẳng sao. Chỉ có tôi là sốt ruột sắp khóc. Mẹ tôi hết sức dỗ dành, bảo không được giả vờ làm nũng để cho bà ngoại giận. Nhưng mẹ tôi lại không cho tôi đi với người khác, nói rằng như thế sợ bà ngoại không yên tâm.
Thế là hết. Đến chiều, các anh bạn tôi đều đi cả. Người ta đã bắt đầu hát rồi. Tôi phảng phất như nghe thấy tiếng trống, tiếng chiêng. Và tôi biết thế nào các anh bạn tôi cũng mua sữa đậu nành vừa xem vừa chén.
Ngày hôm đó, tôi không đi câu tôm, mà cơm cũng nhác ăn. Mẹ tôi khó nghĩ quá nhưng cũng chẳng biết làm sao. Đến bữa cơm chiều, bà ngoại tôi thấy được và nói rằng tôi buồn là phải. "Chúng nó" khinh rẻ quá, xưa nay đãi khách không bao giờ lại như vậy. Ăn xong thì các anh bạn tôi đi xem hát về, kéo nhau đến, say sưa kể lại vở tuồng cho tôi nghe. Chỉ có tôi là ngồi làm thinh. Các anh bạn tôi cũng thở dài ái ngại cho tôi. Bỗng Song Hỷ, anh bạn thông minh nhất trong bọn, như sực nhớ ra, nói:
- Thuyền lớn à? Không phải là thuyền chú Tám đã chèo về rồi cơ mà?
Mười mấy anh bạn kia cũng tỉnh ngộ, liền bàn góp vào, nói có thể cùng đi thuyền với tôi. Tôi mừng lắm. Nhưng bà ngoại tôi ngại là toàn một bầy trẻ con, không tin cậy được. Mẹ tôi lại nói, nếu bảo người lớn đi thì họ vừa phải làm việc suốt ngày, bây giờ bắt thức suốt đêm không hợp tình lý chút nào cả. Đang do dự thì Song Hỷ hiểu được ý bà ngoại tôi, liền nói to:
- Bà cứ để cháu xin cam đoan cho. Thuyền thì lớn, mà anh Tấn cũng không hay nghịch. Còn chúng cháu thì đứa nào mà chẳng biết bơi!
Quả có như thế. Hơn mười anh bạn nhỏ của tôi, ai cũng đều biết bơi cả. Có hai ba anh lại là tay bơi cừ nữa kia!
Bà ngoại tôi và mẹ tôi cũng tin, mỉm cười, không cản trở nữa. Tức thì chúng tôi ùa nhau chạy đi.
Lòng tôi đang nặng trĩu bỗng nhẹ hẳn. Người tôi cũng khoan khoái ra không biết bao nhiêu mà kể.
Vừa ra khỏi cổng đã nhìn thấy chiếc thuyền mui trắng đậu ở gần cầu Bình Kiều, dưới ánh trăng. Chúng tôi nhảy xuống thuyền. Song Hỷ nhổ sào mũi. Phát nhổ sào lái. Bọn nhỏ tuổi thì cùng tôi ngồi trong khoang thuyền. Những anh lớn hơn ngồi ở đằng lái. Lúc mẹ tôi ra dặn dò là "phải cẩn thận" thì chúng tôi đã bắt đầu cho thuyền rời khỏi bến. Các anh ấy cắm sào vào đầu cột, ẩy một cái thật mạnh, cho thuyền lui ra phía sau mấy thước rồi cho ra khỏi gậm cầu. Rồi lắp hai mái chèo, cứ hai người chèo một, chèo một dặm lại thay phiên nhau. Tiếng cười nói, tiếng reo hò hòa lẫn tiếng nước vỗ róc rách vào mạn thuyền. Hai bên bờ là những ruộng lúa, ruộng đậu, một màu xanh rờn. Chiếc thuyền chúng tôi vút đi như bay về phía làng Triệu.
Mùi thơm ngát của lúa, đậu hai bên bờ và mùi thơm của cỏ rong dưới đáy sông, lẫn trong hơi nước, nhẹ đưa vào mặt. Trong sương đêm, mặt trăng trở thành mờ ảo. Xa xa, dãy núi màu đen nhạt nhấp nhô, trông giống như lưng một con thú đúc bằng sắt đang chồm lên, cứ thế mà nhảy lùi mãi về phía lái. Ấy thế mà tôi vẫn cứ có cảm tưởng là thuyền đi chậm lắm. Các anh bạn tôi thay tay chèo bốn lần mới trông thấy làng Triệu thấp thoáng ở đằng xa. Lại như có nghe cả tiếng sáo, tiếng hát nữa. Còn có mấy đốm lửa lập lòe, chúng tôi đoán là đèn đám hát, nhưng có thể là đèn của thuyền đánh cá cũng nên.
Tiếng ấy chắc là tiếng sáo thật, nghe trầm bổng, véo von lắm. Lòng tôi như lắng xuống. Nhưng rồi tôi lại có cảm giác lâng lâng như cùng tiếng sáo bay đi rồi tan vào trong sương đêm đượm mùi thơm của lúa, đậu, cỏ, rong.
Đến gần đốm lửa thì ra là thuyền đánh cá thật. Và lúc đó mới nhớ ra rằng cái chỗ trống thấp thoáng hồi nãy cũng không phải là làng Triệu. Phía thẳng chiếc mũi thuyền chính là một rừng thông. Năm ngoái tôi đã có dịp đến chơi, ở đấy còn có một con ngựa đá sứt nằm lăn kềnh dưới đất, và một con dê đá ngồi chồm chỗm trong cỏ. Qua khỏi rừng thông, thuyền quành vào ngã ba sông. Bây giờ trước mặt mới là làng Triệu thật.
Nổi bật đập vào mắt chúng tôi, trước tiên là cái sân khấu đứng sừng sững ở khoảng đất trống, giữa cánh đồng cạnh bờ sông, đằng xa trong ánh trăng, thấy mờ ảo hiện lên giữa không gian bát ngát, tưởng chừng như đấy là cảnh tiên mình đã từng gặp trong tranh. Thuyền lướt càng nhanh, và trong chốc lát đã trông rõ các vai trò mặc áo xanh áo đỏ đi đi lại lại trên sân khấu, và gần sân khấu, dưới sông, một đám đen ngòm: ấy là thuyền của người ta đi xem hát.
Phát nói:
- Gần sân khấu chẳng có chỗ nào trống cả. Cho thuyền đậu xa xa mà xem thôi.
Thuyền đã đi chậm lại, một lát thì đến nơi. Quả thật không thể nào cho vào gần sân khấu được, đành phải cắm sào ở một chỗ, so với cái bàn thờ thần đối diện sân khấu, còn xa hơn nhiều. Thật ra, chúng tôi cũng không muốn cho chiếc thuyền mui trắng của chúng tôi đậu chung một chỗ với những chiếc thuyền mui đen kia, huống chi lại không tìm ra chỗ cho thuyền đậu!
Trong khi vội vã cắm thuyền thì thấy trên sân khấu một ông râu dài đen láy, trên lưng giắt bốn lá cờ, tay cầm thương, đang đánh nhau với một toán người mình trần trùi trụi. Theo Song Hỷ nói thì kép đó là "ông già đầu sắt" ai cũng biết tiếng, có thể lộn nhào tám mươi cái liền, chính lúc ban ngày anh đã có đếm rồi.
Chúng tôi dồn lại cả đằng mũi thuyền ngồi xem họ đánh trận. Nhưng "ông già đầu sắt" chẳng lộn cái nào cả, chỉ có mấy người ở trần lộn thôi, lộn một hồi rồi đi vào. Tiếp theo, một vai đào đi ra, hát ê a.
Song Hỷ nói:
- Ban đêm ít người xem mà "ông già đầu sắt" cũng đã mệt rồi. Ai lại đi trổ tài giữa chỗ trống, cho đất xem à?
Tôi tin Song Hỷ nói đúng, bởi vì lúc đó dưới sân khấu vắng lắm. Người nhà quê ngày mai phải đi làm, không thức đêm được, đã về đi ngủ cả. Chỉ còn lại lác đác mấy anh vô công rồi nghề ở làng Triệu và ở các làng lân cận. Cố nhiên vợ con những tay nhà giàu thì còn đó cả, họ ngồi trong các thuyền mui đen chẳng để ý gì đến xem hát, phần lớn đến đây chỉ là để ăn quà bánh, nhá hạt dưa. Cho nên quả có thể nói là không có ai thật. Trong thâm tâm, tôi cũng chẳng thiết gì xem nhào lộn. Thiết xem là xem Tinh rắn, do một kép mình quấn vải trắng, hai tay để trên đầu cầm một cái đầu rắn y như là một cái gậy. Thứ đến là vai cọp nhảy, do một người mặc áo vàng đóng. Nhưng chờ mãi chẳng thấy ai ra. Vai đào vào thì một kép già đóng vai thanh niên ra liền. Tôi đã thấy hơi mỏi. Nhờ Quế Sinh đi mua sữa đậu nành cho. Quế Sinh đi một lát, trở về nói:
- Không có. Cái ông điếc bán sữa đậu nành cũng về rồi. Thôi, múc một gáo nước lã uống tạm vậy.
Tôi không uống, cố gắng đứng xem, nhưng không thể nói là đã xem được những gì, chỉ thấy mặt các vai tuồng dần trở nên kỳ quái, tai, mắt, mũi dần dần mờ đi trông chẳng rõ nữa. Trong bọn chúng tôi, những anh nhỏ thì cứ ngáp dài, mấy anh lớn thì nói chuyện riêng. Đến khi có một vai hề mặc áo đỏ bị trói vào cái cột trên sân khấu để cho một người đeo râu lốm đốm bạc lấy roi ngựa đánh thì ai nấy tinh thần mới phấn chấn lên, vừa xem, vừa cười. Tôi cho đó là màn hay nhất đêm hát ấy.
Cuối cùng một vai bà già ra. Tôi vốn sợ cái vai bà già ấy lắm, nhất là lúc bà ta ngồi xuống mà hát. Lúc đó thấy ai cũng có vẻ cụt hứng cả, mới biết là mấy anh bạn cũng nghĩ như tôi. Khi mới ra, bà ta còn đi đi lại lại mà hát, sau thì bà ngồi hẳn xuống cái ghế đặt giữa sân khấu. Tôi ngại quá. Bọn Song Hỷ thì chửi làu nhàu. Tôi kiên nhẫn chờ. Một hồi lâu, bà ta giơ tay lên, tưởng là bà ta đã đứng dậy; không ngờ bà ta lại bỏ tay xuống như cũ và vẫn tiếp tục hát. Trong thuyền chúng tôi anh thì thở dài, anh thì ngáp vặt. Song Hỷ không chịu đựng được nữa, nói:
- Cái con mụ này thì nó có thể hát suốt đêm đấy! Hay là ta về đi thôi!
Ai nấy tán thành ngay. Và cũng hăng hái như khi ra đi, ba bốn người chạy ra đằng lái, nhổ sào, đẩy thuyền lùi vài thước, cho quay mũi, lắp chèo vào, vừa chửi vai bà già, vừa chèo thuyền về phía rừng thông.
Trăng chưa lặn. Hình như chúng tôi xem hát cũng không lâu lắm. Ra khỏi làng Triệu, trăng càng tỏ. Ngoảnh lại nhìn sân khấu trong ánh đèn, tôi cảm tưởng giống như khi mới đến, cũng thấy đẹp như một tòa lâu đài xây trên núi tiên, có một lớp sương màu đỏ bao phủ. Và cũng có tiếng sáo vẳng lại, rất véo von. Tôi đoán vai bà già đã vào rồi, nhưng cũng ngại, không rủ anh em trở lại xem nữa.
Không bao lâu, thuyền đã đi quá rừng thông. Thuyền đi cũng không chậm lắm nhưng xung quanh bóng tối dày đặc, biết là đã khuya rồi. Các anh bạn bàn tán về đám hát, anh thì chửi, anh thì cười, và ra sức chèo. Bây giờ tiếng nước vỗ vào mũi thuyền nghe càng rõ. Chiếc thuyền như một con cá trắng lớn cõng một bầy trẻ con vượt sóng. Mấy ông già đánh cá đêm cũng dừng xuồng lại, nhìn thuyền chúng tôi lướt qua, ngợi khen.
Cách Bình Kiều chừng một dặm, thuyền đi chậm lại. Mấy tay chèo kêu rất mệt vì chèo hăng quá, và nhiều anh vẫn chưa có gì trong bụng. Lần này người bàn kế là Quế Sinh. Anh nói rằng bây giờ là mùa đậu la hán, củi đuốc sẵn, có thể trộm một ít nấu ăn. Ai nấy tán thành. Rồi chúng tôi ghé thuyền vào bờ. Ruộng trên bờ toàn là đậu la hán, quả chắc nịch và đen nhánh.
Song Hỷ nhảy lên trước, nói:
- Phát à? Bên này là đậu nhà cậu, còn bên kia là đậu nhà ông Sáu Mốt, trộm bên nào?
Chúng tôi cũng nhảy lên cả. Phát vừa nhảy lên vừa nói:
- Hẵng khoan. Để tớ xem đã nào!
Rồi anh ta đi đi lại lại, sờ nắn một lúc, đứng thẳng dậy, nói:
- Trộm của nhà tớ thôi. Đậu nhà tớ to hơn nhiều.
- Ừ.
Ai nấy chạy lại ruộng nhà Phát, hái mỗi người một ôm lớn, quăng vào thuyền, Song Hỷ bàn, nếu lấy trộm của nhà Phát nữa, mẹ anh biết sẽ khóc và chửi chết, nên chúng tôi lại sang ruộng nhà ông Sáu Mốt trộm một ôm nữa.
Mấy anh lớn chèo thuyền cho đi chầm chậm. Mấy anh nữa lại đằng lái nhen lửa; còn mấy đứa nhỏ chúng tôi thì bóc đậu. Một lát đậu chín. Chúng tôi để mặc cho thuyền trôi, xúm nhau lại, lấy tay bốc ăn. Ăn xong lại chèo. Nồi niêu rửa sạch, vỏ đậu ném xuống sông, chẳng còn tang tích gì nữa. Song Hỷ lo rằng lấy củi muối trong thuyền ông Tám, ông ta tinh lắm, thế nào ông ta cũng biết, sẽ mắng cho mà xem. Nhưng bàn tán một hồi, chúng tôi cho là không sợ. Ông ta có mắng thì sẽ đòi ông ta trả lại nhánh bách khô năm ngoái ông ta nhặt ở trên bờ sông, và gặp đâu thì cứ gọi là "ông Tám sẹo".
Song Hỷ đứng đầu mũi, bỗng nói to:
- Về đây cả rồi ạ! Chẳng chuyện gì xảy ra hết. Cháu đã bảo đảm mà!
Tôi nhìn về phía mũi thuyền. Đằng trước đã là cầu Bình Kiều rồi. Có một người đứng ở trên cầu. Chính là mẹ tôi. Song Hỷ nói là nói với mẹ tôi. Tôi chui ra ngoài khoang thuyền. Thuyền vào dưới gậm cầu, đỗ lại. Chúng tôi rộn rịp nhảy lên bờ. Mẹ tôi hơi giận, nói là đã quá canh ba rồi, sao về khuya thế, nhưng rồi cũng vui lên. Mẹ tôi cười và bảo tất cả về nhà ăn cơm rang.
Mọi người trả lời là ăn lót lòng rồi, bây giờ buồn ngủ lắm, được ngủ là thích nhất. Thế là ai về nhà nấy.
Hôm sau mãi đến trưa, tôi mới thức dậy và cũng chẳng nghe chuyện gì lôi thôi về ông Tám với chỗ củi muối cả. Buổi chiều, vẫn lại đi câu tôm.
- Song Hỷ! Đồ quỷ sứ đâu ấy! Hôm qua chúng bay trộm đậu nhà tao phải không? Lại không chịu hái cho tử tế, giẫm nát cả.
Tôi ngửng đầu nhìn lên. Thì ra là ông Sáu Mốt. Ông ta chèo chiếc thuyền con đi bán đậu về, trong lòng thuyền còn cả một đống đậu.
Song Hỷ nói:
- Vâng. Chúng cháu đãi khách đấy! Chúng cháu lúc đầu không định lấy trộm nhà ông đâu… Ơ kìa! Ông làm tôm sợ chạy hết cả rồi kìa!
Ông Sáu Mốt nhìn thấy tôi, ngừng tay chèo. Cười nói:
- Đãi khách à? Thế thì được.
Rồi hỏi tôi:
- Anh Tấn! Hôm qua hát có hay không?
Tôi gật đầu nói:
- Hay.
- Thế đậu ăn có ngon không?
Tôi lại gật đầu, nói:
- Ngon lắm.
Tôi không ngờ nghe tôi nói thế, ông ta lại tỏ vẻ rất cảm động, giơ ngón tay cái lên[9]nói, đắc ý:
- Người có học hành với lại ở thành phố về có khác. Biết người biết của. Đậu nhà chú, chọn từng hạt một mà gieo đấy! Người nhà quê chẳng biết đếch gì cả lại bảo là không bằng đậu nhà người ta. Chú định hôm nay mang một ít biếu cô ăn thử xem...
Rồi ông ta chèo thuyền đi.
Lúc mẹ tôi gọi tôi về ăn cơm tối thì thấy trên bàn có một bát lớn đậu la hán luộc rồi. Đó là đậu của ông Sáu Mốt đưa lại biếu mẹ tôi và tôi. Nghe nói ông ta còn khen với mẹ tôi rằng tôi còn nhỏ mà đã biết điều, sau này nhất định sẽ đỗ Trạng nguyên cho mà xem.
- Cô này! Cam đoan thế nào cô cũng được sung sướng.
Nhưng tôi lấy đậu ăn thì lại thấy không ngon bằng đậu đêm hôm qua.
Quả thật cho đến bây giờ, tôi chưa hề ăn đậu nào ngon như đậu đêm hôm ấy và cũng chưa hề được xem buổi hát tuồng nào hay như buổi hát tuồng đêm ấy!
Tháng 10 năm 1922
❀ ❀ ❀
[1] Năm 1912 (N.D)
[2] Đàm Khiếu Thiên tức Đàm Kim Bồi, cũng gọi là Tiểu Khiếu Thiên, một kép hát hát kinh kịch có tiếng.
[3] Hồi ấy, trong kinh kịch, cái vai đều do kép đóng cả. (N.D)
[4] Vở "Mục Liên cứu mẫu" là một vở tuồng rất lưu hành ở Trung Quốc. Mục Liên là đệ tử Thích-ca-mầu-ni. Theo truyền thuyết mẹ Mục Liên làm nhiều điều ác nên sa xuống địa ngục. Mục Liên xuống địa ngục cứu mẹ. Hai que lửa ngậm ở miệng là để tượng trưng bà ta ác, nói thì phun ra lửa.
[5] Củng Vân Phủ là một kép hát có tiếng chuyên đóng vai bà lão.
[6] Nhà bà ngoại Lỗ Tấn chính ở làng gọi là An Kiều, cũng thuộc phủ Thiệu Hưng, gần miền biển. Đó là một làng hẻo lánh, gồm hơn 30 nhà, toàn người họ Lỗ (N. D).
[7] Đó là hai câu đầu thiên can ở Tiểu nhã sách kinh thi.
[8] Xem chú thích ở trang đầu.
[9] Một cử chỉ đặc biệt của người Trung Quốc khi muốn khen một cái gì để tỏ ý cái đó vào bậc nhất, tuyệt thế vô song. (N.D).