Cố Hương - Tập Truyện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 14 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Con Người Cô Độc

❊ ❊ ❊

I.

Bây giờ hồi tưởng lại mới thấy mối tình bạn giữa tôi và anh Ngụy Liên Thù cũng hơi khác thường: bắt đầu bằng một đám ma và kết thúc cũng bằng một đám ma.

Hồi đó, tôi đang ở thành S. Thường thường mỗi khi nghe nhắc đến tên anh thì ai cũng bảo anh là người kỳ quái lắm. Học thì học môn động vật học, thế mà lại đi dạy lịch sử ở một trường trung học: đối với ai cũng có vẻ thờ ơ, thế mà lại thích xen vào việc người khác; lúc nào cũng bảo là phải xóa bỏ gia đình, thế mà cứ đến tháng lĩnh lương thì lại nhất định gửi tiền ngay về cho bà nội, một ngày cũng không để chậm. Ngoài ra, người ta còn kháo nhau bao nhiêu chuyện lặt vặt khác nữa về anh. Tóm lại, ở thành S, anh cũng có thể kểlà làm đầu câu chuyện cho thiên hạ. Mùa thu năm nọ, tôi đến ở chơi nhà một người bà con ở Hàn Thạch Sơn. Người này cũng họ Ngụy, bà con với anh Liên Thù, nhưng lại không hiểu gì hơn về anh cả. Người ấy xem anh hình như là một người ngoại quốc, và thường nói: "Anh ta khác chúng tôi lắm!". Cái đó cũng không có gì lấy làm lạ. Trung Quốc mang tiếng là mở mang việc học đã vài chục năm rồi, nhưng ở Hàn Thạch Sơn thì đến một trường tiểu học cũng chưa có. Cả cái làng miền núi này chỉ có anh Liên Thù là đi ra ngoài du học mà thôi. Vì thế, theo con mắt người ở đây, anh quả là một người khác giống. Tuy nhiên, đối với anh, họ lại rất ganh tị và có vẻ thèm muốn được như anh. Họ nói rằng anh sẽ làm ra được nhiều tiền lắm.

Đến cuối thu, làng này có bệnh lỵ. Tôi cũng sợ lây, định trở về thành. Chợt nghe nói bà nội anh Liên Thủ cũng bị bệnh, và vì tuổi già, nên đâm ra nặng lắm, mà quanh vùng thì lại không có lấy một ông thầy thuốc nào.

Gia đình anh Liên Thù, gọi gia đình là gọi thế thôi, kỳ thực chỉ có mỗi bà cụ. Bà cụ có thuê một người gái ở, và sống đơn giản lắm. Anh mồ côi cả cha lẫn mẹ từ khi còn tấm bé, chính bà cụ nuôi nấng anh thành người. Nghe nói trước kia bà cụ cực khổ lắm. Nhưng bây giờ thì thong thả rồi. Hiềm một điều vì anh không có vợ con gì, nên trong nhà vắng vẻ lắm. Có lẽ đó cũng là điều người ta cho anh là khác thường.

Hàn Thạch Sơn cách thành, theo đường bộ thì một trăm dặm, mà đường thủy chỉ bảy mươi dặm, nhưng cho người đi gọi anh về, khứ hồi ít nhất cũng phải bốn ngày. Ở làng núi hẻo lánh, những việc như thế này được xem là những "tin tức" quan trọng, ai cũng cần phải dò hỏi cho biết. Ngày hôm sau, đã đồn ầm lên rằng bệnh bà cụ nặng lắm, và đã cho người đi gọi anh Liên Thù về. Nhưng đến canh tư thì bà cụ tắt thở. Câu nói cuối cùng của bà cụ là: Làm sao không để cho tôi trông mặt thằng Liên Thù một tí!"

Ông trưởng tộc, bà con bên nội, bà con bên ngoại, cả những người rỗi việc nữa, đến chật một nhà. Họ tính rằng anh Liên Thù có về đến nơi thì cũng đã nhập liệm rồi. Cỗ hậu sự cũng như áo quần, bà cụ đã sắm sẵn, nên không cần phải lo liệu gì hết. Đối với họ, vấn đề quan trọng nhất là nên đối phó với cái ông "cháu thừa trọng"[1]ấy như thế nào đây, bởi vì họ đoán trước rằng, tất cả các lễ nghi đình đám, nhất định thế nào anh cũng thay đổi hết cho mà xem. Sau khi bàn bạc, họ quyết định đại khái sẽ bắt buộc anh phải theo cho ba điều chính: một là mặc tang phục trắng, hai là lạy hẳn hoi, ba là mời thầy chùa, thầy phù thủy về làm chay. Nói tóm lại là phải làm y như tục lệ cũ.

Bàn định xong xuôi, họ hẹn nhau hôm nào anh về thì tất cả mọi người sẽ tụ tập ở phòng khách, bày sẵn thế trận, kẻ tung người hứng, trợ lực nhau, đàm phán thật nghiêm nghị. Người làng ai nấy nuốt nước dãi, tò mò chờ nghe tin tức. Họ biết anh là người "phái mới", cái gì cũng "học theo tây" từ trước đến nay không hề kể gì đến phải trái cả. Nhất định cuộc đấu tranh giữa hai bên sắp sửa bắt đầu, và chưa biết chừng sẽ to chuyện cũng nên. Và lúc đó sẽ có nhiều cái lạ lắm, không thể đoán trước được.

Có tin cho biết anh về đến nhà thì đã xế chiều. Vừa bước chân vào nhà thì anh đến trước linh sàng bà cụ, chỉ cúi mình một cái mà thôi. Ông trưởng tộc, bà con nội ngoại bèn lập tức thi hành kế hoạch đã định, mời anh ra ngoài nhà khách lớn, nói giáo đầu một thôi đã, mới vào đề, rồi kẻ xướng người họa, chín người mười miệng, không để hở một tí làm cho anh không có dịp cãi lại. Cuối cùng, nói mãi cũng phải hết, cả phòng khách lại im lìm, ai nấy lo sợ, chăm chú nhìn miệng anh. Anh sắc mặt không chút thay đổi, chỉ trả lời vẻn vẹn mỗi câu:

- Được tất!

Lại là một điều họ không ngờ trước. Cái gánh nặng trong lòng họ đã được cất đi rồi, nhưng họ vẫn cảm thấy lại có bề nặng hơn trước, và như thế này thì anh này quả là "kỳ dị" quá, càng đáng phải lo ngại. Những người trong làng nghe ngóng tin tức cũng thất vọng. Họ kháo nhau: "Lạ thật! Ông ta bảo "được tất". Để xem xem ra làm sao". Cái gì cũng có thể theo như cũ tất thì không có gì mà xem nữa. Thế nhưng họ vẫn cứ muốn xem, cho nên trời vừa tối, họ đã tíu tít chật trước nhà.

Tôi cũng là một người đến để xem. Tôi cho người đem đèn nhang sang trước. Khi tôi đến nơi thì thấy anh đang mặc áo quần cho bà cụ. Anh khổ người nhỏ bé, gầy gò, khuôn mặt dài. Mái tóc bù xù với bộ râu và cặp lông mày rậm rì đen ngòm đã choán mất một nửa mặt rồi, chỉ còn thấy mỗi đôi mắt sáng lấp lánh trong bóng tối. Anh mặc áo quần cho bà cụ rất khéo, đâu vào đấy, như một tay chuyên môn đi liệm thuê, làm cho người xem bất giác đều thán phục. Theo phong tục ở Hàn Thạch Sơn thì vào những lúc này, thế nào người bên họ ngoại cũng tìm cách bắt bẻ. Nhưng anh vẫn cứ làm thinh, bắt bẻ đâu thì sửa chữa đấy, thản nhiên như không. Một bà cụ đã hai thứ tóc trên đầu đứng đằng trước tôi, phải tấm tắc khen.

Thế rồi, làm lễ. Lễ xong thì khóc. Các bà hết thảy đều khấn lâm râm. Sau đó, là nhập quan. Nhập quan xong, làm lễ, rồi lại khóc, cho đến khi đóng nắp hòm mới thôi. Im lặng một phút, bỗng mọi người nhốn nháo lên. Hình như có điều gì làm cho họ ngạc nhiên lắm và không được bằng lòng. Và tôi bỗng tình cờ nhận ra rằng thủy chung anh không hề nhỏ lấy một giọt nước mắt nào, mà chỉ ngồi trên tấm nệm rơm, hai con mắt cứ sáng ngời, lấp lánh giữa mái tóc bù xù và bộ râu, đôi lông mày đen nghịt.

Việc nhập quan đã làm xong trong cái không khí ngạc nhiên và bất mãn đó. Ai ai cũng như muốn bỏ ra về ngay, nhưng anh thì vẫn cứ ngồi trên chiếc đệm rơm, vẻ trầm ngâm. Bỗng anh chảy nước mắt ròng ròng, rồi khóc thất thanh, sau đó, lại rống lên, như con chó sói bị thương rống lên giữa cánh đồng vắng đên khuya, nghe vừa thảm thiết, vừa phẫn nộ, vừa bi ai. Theo phong tục thì không ai lại khóc như thế bao giờ. Vì không đề phòng trước, nên mọi người đều thấy lúng túng, không biết xử trí ra làm sao. Ngần ngừ một lát rồi có mấy người đến khuyên giải anh đừng khóc nữa. Lúc đầu thì chỉ mấy người, sau họ xúm nhau lại thành một đám đông. Nhưng anh vẫn cứ ngồi đờ ra, không động đậy, như một chiếc tháp bằng sắt, mà rống to mãi.

Chán ngán, người ta đành phải tản ra, còn anh thì anh cứ khóc, khóc mãi, có đến nửa tiếng đồng hồ, lúc đó mới bỗng dưng ngừng lại, cũng không chào hỏi khách đến viếng, cứ đi thẳng tuột vào nhà trong. Sau đó, có mấy người đi vào dòm; trở ra họ nói rằng, anh đi vào buồng bà cụ, rồi nằm dài trên giường và hình như đã ngủ thiếp đi rồi.

Cách hai ngày sau, tức là trước khi tôi lên đường về tỉnh một ngày, thì nghe người làng bàn tán dữ quá. Họ nói rằng anh sẽ đem già nửa đồ đạc trong nhà đốt cho bà cụ, còn bao nhiêu sẽ cho người ở gái, là người đã hầu hạ bà cụ lúc còn sống, và nay bà cụ chết đi thì chị ta lại cũng đã đưa bà cụ ra tận huyệt. Mà cả cái ngôi nhà cũng để cho ở đấy luôn, muốn ở đến lúc nào thì ở. Bà con thân thích đều can ngăn nói rát hơi bỏng cổ cũng chẳng ăn thua gì.

Có lẽ cũng vì tò mò mà khi tôi ra về, đi qua cổng nhà anh, tôi lại ghé vào chia buồn nhân thể. Anh mặc áo trắng sổ gấu, ra tiếp, nét mặt vẫn lạnh lùng như thế. Tôi khuyên giải một hồi. Ahh chỉ vâng vâng dạ dạ, và đáp lại vẻn vẹn mỗi câu:

- Cám ơn anh có lòng tốt...

II.

Lần thứ ba, hai chúng tôi gặp nhau vào đầu mùa đông năm nọ, trong một hiệu sách ở thành S. Cả hai bên gật đầu chào nhau, cùng một lúc, tỏ ý là đã quen nhau rồi. Nhưng chúng tôi bắt đầu gần gũi nhau là vào cuối năm ấy, sau khi tôi mất việc làm. Hồi đó, tôi thường đến thăm anh, một là tất nhiên vì buồn rỗi, hai là vì nghe người ta nói, anh tuy tính lạnh lùng như thế, nhưng lại thích chơi với những người gặp chuyện không may. Có điều, thế sự thăng trầm không nhất định, người không may không thể không may mãi, cho nên anh ta cũng ít khi chơi với ai được lâu dài. Lời đồn đại ấy quả thật không sai. Tôi đưa danh thiếp vào là anh tiếp ngay. Phòng khách của anh là hai gian nhà ăn thông nhau, chẳng bày biện gì cả. Ngoài bàn ghế, chỉ có mấy cái giá để sách. Ai cũng nói anh là một nhà thuộc "tân đảng" ghê lắm, thế mà trên giá sách không có tân thư mấy. Anh đã biết tôi mất việc rồi, nhưng nói xong vài câu khách sáo, thì chủ cũng như khách chỉ ngồi lẳng lặng nhìn nhau. Không khí dần dần trở thành nặng nề. Tôi chỉ thấy anh ngồi hút thuốc liên tiếp, điếu thuốc hết nhanh quá, sắp cháy đến ngón tay, anh mới vất đi. Anh đưa tay lấy điếu thứ hai, bỗng dưng nói:

- Hút đi!

Tôi cũng lấy một điếu, hút rồi nói vài câu về chuyện dạy học và chuyện sách vở, nhưng vẫn thấy không khí nặng nề thế nào. Tôi định đứng dậy ra về thì nghe có tiếng la hét và tiếng bước chân rầm rập ngoài cửa. Bốn đứa trẻ vừa trai vừa gái chạy thốc vào. Đứa lớn nhất tám chín tuổi, đứa bé nhất, bốn năm tuổi. Đứa nào đứa nấy mặt mũi áo quần nhem nhuốc, mà lại không hề dễ thương chút nào cả. Nhưng trông thấy chúng nó, anh lại vui, mắt bỗng sáng ngời lên. Anh ta vội vàng đứng dậy, đi sang phòng bên cạnh, miệng hỏi:

- Lương anh, Lương em lại đây! Hôm qua các cháu đòiác-mô - ni-ca,chú đã mua cho đây này.

Lũ trẻ theo anh ta ùa vào rồi mỗi đứa được một cáiác-mô- ni-cavừa thổi vừa đi ra. Ra khỏi phòng khách, chẳng biết thế nào, lại đánh nhau. Một đứa khóc lên. Anh ta đi theo sau chúng nó dặn dò:

- Mỗi cháu một cái. Như nhau cả. Không được tranh giành nhau nhé!

Tôi hỏi:

- Con nhà ai mà đông thế?

- Con ông chủ nhà này cả đấy. Mẹ chúng nó chết rồi. Chỉ còn bà nội.

- Thế, ông chủ nhà ở vậy một mình thôi à?

- Vâng. Bà ta mất có lẽ đã bốn năm nay rồi nhưng ông ta vẫn chưa chịu lấy ai cả. Không thì đâu đã chịu cho người một thân một mình như tôi thuê mấy gian phòng bỏ trống này.

Anh vừa nói, vừa mỉm cười lạnh lùng.

Tôi rất muốn hỏi anh vì sao đến nay anh vẫn chưa lấy vợ, nhưng vì chưa quen lắm, nên không tiện hỏi.

Đã quen thân với nhau rồi, thì dễ nói chuyện với anh lắm. Anh hay nói những tràng nghị luận, thỉnh thoảng đưa ra những ý kiến rất ngộ nghĩnh. Điều làm cho người ta không chịu được, là anh có mấy ông khách, có lẽ là những người đã đọc cuốnTrầm luân[2]cả rồi chăng, nên thường tự ví mình là những "thanh niên bất hạnh", hoặc là "những người thừa". Họ ngồi vắt vẻo trên ghế, vẻ nhác nhớm và kiêu ngạo, vừa than vắn thở dài, vừa chau mày hút thuốc. Lại có lũ con ông chủ nữa, lúc nào cũng cãi cọ nhau, đánh vỡ bát đĩa, vòi quà, ồn ào nhức cả óc. Nhưng anh Liên Thù hễ thấy chúng nó thì lại không có vẻ lạnh lùng như lúc bình thường, anh còn quý chúng nó hơn tính mạng mình nữa. Nghe nói có lần thằng Lương ba lên sởi, anh hốt hoảng đến nỗi bộ mặt trông đã đen rồi, bây giờ lại càng sạm thêm. Không ngờ bệnh chỉ nhẹ thôi. Về sau bà nội lũ trẻ đem chuyện ấy nói ra, người ta lại có dịp chế giễu anh. Hình như anh cũng thấy tôi tỏ vẻ hơi khó chịu, cho nên một hôm anh có cơ hội là nói ngay với tôi:

- Trẻ con đứa nào cũng tốt. Đứa nào cũng chất phác hồn nhiên cả.

Tôi chỉ trả lời cho qua chuyện:

- Cũng chưa hẳn đã như thế!

- Không. Trẻ con không có những tính xấu của người lớn. Về sau con người hỏng đi, như anh thường vẫn công kích, là hoàn cảnh làm cho hư hỏng đi mà thôi, chứ vốn không phải hư hỏng, mà là chất phác, hồn nhiên... Tôi cho rằng Trung Quốc ta mà còn hy vọng là chỉ hy vọng ở chỗ đó...

- Không phải. Nếu trong người đứa bé mà không có mầm mống xấu thì sau lớn lên, làm sao lại trở thành xấu được. Ví như một hạt giống, chính vì trong hạt giống đã có mầm mống của cành, lá, hoa, quả rồi, cho nên khi mọc thành cây mới có thứ đó được chứ? Đâu có lẽ tự dưng mà lại như thế được!

Hồi đó tôi nhàn rỗi, không có việc gì làm, nên đành xem kinh Phật, giống như các cụ lớn hễ không làm quan nữa, về hưu một cái là niệm Phật ăn chay. Tất nhiên tôi không hiểu gì về Phật lý cả, nhưng cũng không giữ gìn, cứ nói bừa như thế.

Anh Liên Thù bực mình lắm, lườm tôi một cái, không nói nữa. Tôi cũng không đoán được là anh đuối lý không trả lời hay là không thèm tranh cãi với tôi. Có điều lại thấy cái thái độ lạnh lùng của anh mà đã lâu không thấy nữa. Anh im lặng hút hai điếu thuốc liền. Đến khi anh sắp lấy điếu thứ ba, thì tôi đành phải rút lui.

Anh giận tôi có đến ba tháng mới nguôi, có lẽ một phần vì quên đi, một phần vì chính anh bị lũ trẻ con "chất phác ngây thơ" kia oán ghét, do đó mà anh thấy rằng những lời tôi xúc phạm đến trẻ con cũng có chỗ tha thứ được. Nhưng đó chẳng qua là do tôi đoán phỏng thôi. Lúc bấy giờ, anh đến chỗ tôi ở. Uống rượu xong, anh có vẻ bi ai, hơi ngửng mặt lên, nói:

- Nghĩ lại mà lấy làm quái! Khi tôi đi đến đây, giữa đường gặp một đứa trẻ con, bé tí tẹo, nó cầm một lá sậy ở tay, chỉ vào người tôi, hét: "Giết!" Nó đi còn chập chững, chưa vững bước.

- Đó là hoàn cảnh làm cho hư hỏng đi đấy chứ!

Nói xong, tôi rất lấy làm hối hận. Nhưng hình như anh ta không để ý, cứ uống rượu thục mạng; và giữa hai ngụm, lại hút thuốc lia lịa.

Tôi liền nói lảng sang chuyện khác:

- À quên, chưa hỏi anh. Anh thường ít đi chơi nhà ai, sao hôm nay cao hứng cái gì lại đến đây thế? Chúng ta quen biết nhau kể cũng đã hơn một năm trời nay, nhưng anh đến đây lần này là lần thứ nhất đấy nhé!

- Chính tôi đang định nói chuyện với anh đây. Mấy ngày này, nhất thiết anh đừng lại đằng tôi nhé! Đằng tôi, đang có một người lớn và một đứa trẻ con đáng ghét quá, thật không ra người nữa!

Tôi hơi kinh ngạc:

- Một người lớn và một đứa trẻ con? Là ai thế?

- Ông anh họ tôi và thằng con ông ta. Ha ha!... con cũng giống bố như đúc.

- Chắc lên thăm anh, rồi nhân thể ở lại chơi chứ gì?

- Không phải. Nó là lên bàn với tôi để tôi nhận thằng bé làm con thừa tự!

- À. Làm con thừa tự cho anh à? - Tôi kinh ngạc quá không thể không kêu lên - Không phải là anh chưa lấy vợ kia mà?

- Họ biết là tôi không lấy vợ. Nhưng đó không phải là điều quan trọng. Kỳ thực, họ chỉ muốn thừa tự cái ngôi nhà nát của tôi ở Hàn Thạch Sơn thôi! Chắc anh biết, ngoài ra, tôi còn có gì nữa đâu! Tiền, được đồng nào vào tay là tiêu sạch, chỉ có mỗi ngôi nhà nát đó. Mục đích ở trên đời của cả hai bố con họ là đuổi người ở gái tôi cho ở nhờ đấy.

Câu nói trắng trợn của anh làm tôi ghê rợn. Nhưng tôi cứ tìm lời an ủi:

-Tôi nghĩ người bà con anh cũng không đến nỗi như thế. Chẳng qua óc họ còn cũ một tí thế thôi. Đấy, như cái năm nọ, lúc anh khóc dữ quá, họ đến vây lấy anh, hết sức khuyên giải anh. Nhiệt tình lắm đấy chứ!...

- Lúc thầy tôi mất, họ định cướp ngôi nhà của tôi, ép tôi ký tên vào văn tự, tôi khóc to, họ cũng đến vây lấy tôi và cũng khuyên giải nhiệt tình như thế!...

Hai con mắt anh đăm đăm nhìn lên không trung, như đang hình dung lại tình cảnh lúc bấy giờ.

- Nói tóm lại, cũng là tại anh không có con nối dõi. Nhưng mà tại sao anh lại cứ không chịu lấy vợ thế?

Tôi bỗng tìm ra được cách chuyển câu chuyện sang hướng khác và cũng để hỏi điều tôi muốn hỏi anh từ lâu. Không có dịp nào tốt hơn nữa.

Anh nhìn tôi, ngạc nhiên. Một lát, anh cúi xuống nhìn vào đầu gối, thế rồi cứ hút thuốc không trả lời.

III.

Tuy anh Liên Thù sống trong cảnh cô liêu như vậy mà người ta cũng có để cho anh yên đâu. Dần dần, có kẻ giấu tên viết bài công kích anh trên mấy tờ báo lá cải. Trong giáo giới, cũng thường có những tin đồn nhảm về anh, nhưng bây giờ không phải là lời nói đùa chế giễu chơi như trước nữa mà là những lời thương tổn đến anh. Tôi cũng không để ý lắm, tôi biết đó là kết quả những bài văn mấy lâu anh thường đăng trên các báo. Ở thành S., người ta chúa ghét những anh viết những bài nghị luận không kiêng nể ai cả. Ai như thế là họ ngấm ngầm quật lại. Xưa nay vẫn như thế. Chính anh Liên Thù cũng biết. Nhưng đến mùa xuân, bỗng nghe nói anh bị ông hiệu trưởng mời ra khỏi trường. Tin đó làm cho tôi thấy hơi đột ngột. Thật ra, xưa nay vẫn như thế rồi, chẳng qua là vì tôi mong cho những người mình quen biết được may mắn hơn mà tránh khỏi, cho nên mới thấy đột ngột. Chứ không phải là lần này người ở thành S. có ác gì hơn trước đâu!

Lúc đó, một phần vì tôi đang bận vì sinh kế, một phần lại đang chạy vạy để mùa thu sắp tới có thể lên Sơn Dương dạy học được, nên không có thì giờ đến thăm anh. Đôi lúc nhàn rỗi một tí - chừng ba tháng sau khi anh mất việc - thì lại không nghĩ đến chuyện đến thăm nữa. Có một hôm, vì qua phố chính, tình cờ dừng lại trước hàng sách cũ tôi không thể không sửng sốt khi thấy ở đấy có bày một bộSử ký sách ẩn[3]do Cấp - Cổ - Các in lần thứ nhất. Bộ này chính là của Liên Thù. Anh ta rất thích sách, nhưng không phải là một người chơi sách. Bộ này cũng kể là một bộ anh cho là quý lắm. Không phải là vạn bất đắc dĩ thì đời nào chịu đem bán đi, lẽ nào vừa mất việc hai ba tháng mà đã túng thiếu như thế rồi ư? Mặc dù từ trước đến nay, hễ có tiền là anh tiêu hết, không dành dụm gì cả. Thế là tôi nhất định đến thăm anh. Dọc đường nhân tiện, tôi mua hai chai rượu, hai gói lạc rang và hai cái đầu cá nướng. Cửa phòng anh đóng kín. Gọi to hơn mấy tiếng không thấy thưa. Tôi nghĩ là anh đang ngủ, lại gọi hơn và đập cửa.

- Đi vắng rồi!

Một người đàn bà béo, con mắt xếch, đứng ở cửa sổ đối diện, thò cái đầu hoa râm ra, cũng nói to, hình như có ý bực. Đó là bà nội mấy thằng Lương anh, Lương em.

Tôi hỏi:

- Đi đâu ạ?

- Đi đâu, ai biết được? Ông ấy thì còn đi đâu? Cứ đợi đấy, lát nữa thế nào cũng về thôi!

Tôi đẩy cửa đi vào phòng khách anh. Quả thật là "nhất nhất bất kiến như tam thu hề!", nhìn đâu cũng thấy trống không, lạnh lẽo, không những đồ đạc chẳng còn mấy cái mà đến sách vở cũng chỉ còn trơ lại các quyển đóng kiểu tây mà ở thành S, chẳng ai thèm mua. Cái bàn tròn đặt giữa nhà vẫn còn đó, trước đây mấy bố thanh niên khảng khái, chán nản, mấy bậc kỳ sĩ hoài tài bất ngộ và lũ trẻ ồn ào, bẩn thỉu, thường cứ vây quanh đấy, bây giờ thì vắng tanh và mặt bàn phủ một lớp bụi mỏng. Tôi đặt chai rượu và mấy cái gói xuống, kéo một chiếc ghế lại, dựa lưng vào bàn, ngồi ngoảnh nhìn ra cửa.

Quả đúng một lát thì cửa mở. Một người đi vào, lặng lẽ như cái bóng, Chính là anh Liên Thù. Có lẽ là vì trời gần tối chăng, nên trông anh đen hơn trước, nhưng vẻ mặt vẫn không đổi khác.

Anh có vẻ vui mừng, hỏi:

- À, anh! Đến lâu chưa?

Tôi nói:

- Cũng mới đến thôi. Anh đi đâu về thế?

- Chả đi đâu cả. Đi lăng nhăng một tí.

Anh cũng kéo ghế lại, ngồi cạnh bàn. Hai chúng tôi bắt đầu uống rượu và nói chuyện về việc anh mất việc. Nhưng anh lại không muốn nói nhiều về chuyện đó. Anh cho rằng đó cũng là một việc đã liệu trước rồi, thường cũng đã vấp nhiều rồi, không lấy gì làm lạ, và cũng không có gì đáng nói. Như thường lệ, anh vẫn ngồi uống hết chén này đến chén khác, và vẫn đem chuyện xã hội, chuyện lịch sử ra bàn. Không biết thế nào, thấy giá sách trống rỗng, tôi lại sực nhớ đến bộSử ký sách ẩndo Cấp - Cố - Các in lần thứ nhất. Tôi bỗng có cảm giác quạnh hiu, buồn thương vơ vẩn:

- Phòng khách anh lạnh lẽo thế này... Độ này chắc ít ai đến chơi nhỉ!

- Chẳng ai đến cả. Họ cho rằng tôi đang buồn bực, đến chơi cũng chẳng thú vị gì. Mình buồn bực thì quả cũng làm cho người khác khó chịu. Mùa đông ai lại đi dạo vườn hoa bao giờ!

Anh uống liền hai hớp rượu, ngồi im lặng, suy nghĩ.

Bỗng anh ngẩng lên nhìn tôi, hỏi:

- Cái chỗ anh chạy chọt dạo nọ cũng lại không xong gì phải không?

Tuy biết anh có ý say, nhưng nghe hỏi thế, tôi cũng hơi bực, đang định nói, thì thấy anh vểnh tai ra nghe ngóng rồi cầm một nắm lạc đi ra. Ngoài cửa có tiếng bọn thằng Lương cười cười nói nói ồn ào.

Nhưng anh vừa đi ra thì bọn chúng nó đã im bặt và hình như bỏ chạy cả. Anh chạy theo, nói gì gì, nhưng không nghe có tiếng trả lời. Anh ta lại trở vào lẳng lặng như một cái bóng, rồi bỏ nắm lạc vào gói giấy.

Anh nói nhỏ, giọng mỉa mai:

- Đến cái mình cho chúng nó mà chúng nó cũng không thèm ăn.

Tôi cảm thấy buồn quá, nhưng cũng cố làm bộ mỉm cười, nói:

- Anh Thù, tôi thấy anh chỉ chuốc lấy khổ vào người. Anh cho người đời ai cũng xấu cả.

Anh cười gằn một tiếng.

- Tôi nói chưa hết. Đối với chúng tôi là những người thỉnh thoảng lại thăm anh, anh cũng cho là vì rỗi rãi không có việc gì làm, nên đến đây, lấy anh ra làm trò tiêu khiển chứ gì?

- Đâu có. Nhưng cũng có lúc nghĩ như vậy. Hoặc là đến tìm ít mẩu chuyện về tôi để đi chỗ khác có cái nói.

Tôi thở dài nói:

- Thế thì anh nhầm rồi. Người ta thực ra có ai như thế đâu. Chính anh làm cho anh cô độc. Như con tằm, anh tự bủa xung quanh anh một tổ kén, rồi nhốt mình vào trong đó. Anh nên nhìn đời sáng sủa hơn một chút.

- Cũng có lẽ như thế thật. Nhưng tôi hỏi anh. những sợi tơ mà tôi xây tổ kén đó, tôi lấy đâu ra? Tất nhiên là trên đời cũng có nhiều người như thế rồi. Như bà nội tôi chẳng hạn. Tôi tuy không cùng máu mủ với bà cụ. Có điều cũng không hề gì. Tôi đã khóc trước số phận của tôi khi tôi khóc bà cụ...

Cái cảnh hôm nhập liệm bà cụ anh bỗng lại hiện ra trước mắt tôi. Tôi bỗng hỏi đột ngột:

- Tôi vẫn không hiểu tại sao lúc bấy giờ anh lại khóc to như thế?

- Lúc nhập liệm bà nội tôi ấy à? Ừ, anh không hiểu là phải.

Anh châm đèn lên rồi bình tĩnh nói tiếp:

- Tôi chắc chính vì lần đó tôi khóc như thế mà anh đi lại với tôi, phải không? Anh không biết đấy chứ, bà cụ ấy là mẹ kế của thầy tôi, còn cụ bà đẻ ra thầy tôi thì đã qua đời lúc thầy tôi mới lên ba tuổi cơ!

Rồi anh có vẻ trầm tư, ngồi uống rượu và ăn hết cả cái đầu cá nướng.

- Những điều dĩ vãng ấy, tôi vốn không biết. Và hồi còn nhỏ tôi cảm thấy không sao hiểu được. Hồi đó, thầy tôi còn sống. Cảnh nhà còn khá, cứ đầu năm mới là thầy tôi lại đem những bức chân dung tổ tiên ra thờ, trọng thể lắm. Hồi đó, được ngắm những người mặc quần áo đẹp đẽ như thế, tôi lấy làm sướng mắt lắm. Nhưng cái u em bế tôi lại chỉ vào một bức mà nói:

- Đây mới thật là bà nội đây này! Lạy bà đi để bà phù hộ cho chóng lớn!

Tôi thật không hiểu tại sao đã có một bà nội rành rành đó rồi, mà lại còn có một bà " mới thật là bà nội" nữa. Nhưng tôi cũng thích cái bà "thật là bà nội" đó lắm. Bà ta không già như bà nội ở trong nhà, còn trẻ, trông rất đẹp, mặc áo đỏ thêu kim tuyến, đội mũ giắt hạt trai, không khác mẹ tôi mấy. Khi tôi nhìn bà thì con mắt bà cũng nhìn chòng chọc vào tôi, và nụ cười ở khóe miệng càng lâu càng rõ. Tôi chắc chắn rằng nhất định bà yêu tôi lắm. Nhưng tôi cũng yêu bà nội hiện ở trong nhà, suốt ngày ngồi trước cửa sổ khâu vá. Bà cụ khác với bà nội người ta ở chỗ dù tôi vui vẻ nô đùa trước mặt bà cụ, hoặc giả có gọi bà cụ, cũng không làm cho bà cụ vui lên được. Tôi thấy bà cụ lạnh lùng quá. Về sau, tôi dần dần xa bà cụ. Cũng không phải là vì tôi lớn rồi, và biết bà cụ không phải là người đẻ ra thầy tôi, mà chính là vì cứ thấy bà cụ ngồi lì khâu vá, năm này sang tháng khác, như cái máy, tự nhiên tôi đâm ra khó chịu. Có điều bà cụ thì vẫn cứ như trước, vẫn cứ ngồi khâu vá, vẫn săn sóc tôi, chiều chuộng tôi, tuy ít khi vui cười, nhưng cũng không quở mắng. Cho đến khi thầy tôi mất, bà cụ vẫn cứ như thế. Về sau, thì cơ hồ chúng tôi hoàn toàn sống nhờ vào đường kim mũi chỉ của bà cụ, mà bà cụ thì tất nhiên vẫn không đổi khác, cho đến khi tôi đi học.

Ngọn đèn mờ dần. Dầu đã cạn. Anh đứng dậy mò dưới giá sách ra một cái bình sắt tây nho nhỏ, rót thêm dầu.

- Chỉ trong mỗi tháng này thôi mà dầu hỏa đã tăng giá hai lần rồi đấy nhé! - Anh vừa xoay cái cổ đèn vào, vừa nói thong thả - Đời sống càng ngày càng khó khăn tệ!... Bà cụ vẫn cứ như thế. Cho đến khi tôi tốt nghiệp, có việc làm, đời sống trong nhà mới được thư thả hơn trước. Mà tôi e bà cụ vẫn cứ như thế cho đến khi lâm bệnh, thật tình không gắng gượng được nữa, mới phải nằm xuống... Theo tôi nghĩ thì trong tuổi già, bà cụ kể cũng không đến nỗi vất vả lắm, và sống được như thế kể cũng đã gọi là thọ rồi, tôi không cần phải khóc làm chi. Vả lại, đã có bao nhiêu người khóc rồi. Cả những người trước kia làm nhục bà cụ cũng khóc, ít ra ai cũng làm ra vẻ cám cảnh. Ha... Ha... Nhưng không hiểu làm sao, lúc đó, cả cuộc đời bà cụ lại thu gọn và hiện ra trước mắt tôi, cuộc đời một người chính mình làm cho mình cô độc, rồi ngồi nghiềm ngẫm cái cảnh cô độc của mình. Tôi cảm thấy những người như thế không phải là ít. Và những người đó làm cho tôi phải khóc lên. Nhưng phần lớn có lẽ vì tôi hồi đó hơi nhiều tình cảm quá!...

Ý kiến của anh đối với tôi bây giờ chính là ý kiến của tôi đối với bà cụ tôi ngày trước. Nhưng ý kiến của tôi hồi đó kỳ thực không đúng. Ngay tôi đây, từ khi bắt đầu hơi hiểu cuộc đời, thì quả tôi đã dần dần xa bà cụ.

Anh trầm ngâm, kẹp điếu thuốc ở ngón tay, cúi đầu, nghĩ ngợi. Ngọn đèn cũng khi tỏ khi mờ.

- Hừ! Muốn làm sao cho khi mình chết, không ai phải vì mình mà khóc, cũng không phải là việc dễ.

Anh lẩm bẩm như nói một mình. Ngừng lại một tí anh ta lại ngửng lên nhìn tôi, nói tiếp:

- Nghĩ lại thì anh cũng chẳng có cách nào giúp tôi cả. Tôi cần phải tìm gấp việc gì làm...

- Anh không có người bạn nào có thể nhờ cậy được ư?

Quả lúc đó tôi cũng đang lo cho thân tôi chưa xong.

- Kể ra thì có mấy người đấy, nhưng cảnh ngộ của họ cũng chẳng khác gì tôi cả.

Lúc tôi từ biệt anh Liên Thù ra cửa thì trăng đã lên giữa đỉnh đầu, tròn vành vạnh. Đêm về khuya rất tĩnh mịch.

Tình cảnh tôi dạy học ở Sơn Dương không lấy gì làm tốt đẹp lắm. Dạy hai tháng rồi mà vẫn không nhận được đồng lương nào trong tay, đến nỗi món thuốc lá mà cũng phải giảm đi. Có điều những người trong trường này, kể cả những anh viên chức nhỏ, lương bổng mười lăm mười sáu đồng thôi, nhưng mà ai cũng tỏ ra là những người lạc thiên tri mệnh cả. Họ đã chịu đựng quen nên đã thành xương đồng da sắt. Mặt có vàng ra, người có tóp đi, họ vẫn cứ làm việc từ sáng đến tối. Khi thấy người nào địa vị cao hơn họ một tí họ còn phải đứng dậy chào hết sức cung kính nữa. Quả họ là những người không cần "ăn no mặc đủ" rồi mới biết lễ nghĩa. Mỗi khi tôi nhìn thấy cảnh đó, không hiểu sao tôi lại sực nhớ đến những lời anh Liên Thù nhờ cậy tôi, khi chia tay nhau. Dạo ấy, đời sống của anh khó khăn quá, sự túng quẫn thường lộ ra cả nét mặt. Nhìn anh tựa hồ không thấy cái vẻ trầm ngâm ngày trước nữa. Biết tôi sắp lên đường, đang đêm, anh đến thăm. Ngần ngừ hồi lâu, anh ta mới ấp úng:

- Không biết trên đó có cách gì không nhỉ? Sao chép mỗi tháng hai mươi ba đồng cũng được. Tôi...

Tôi rất lấy làm ngạc nhiên, không ngờ anh lại chịu làm những việc như thế. Trong khoảnh khắc tôi không nói ra lời.

- Tôi... Tôi còn phải sống ít lâu nữa.

- Để lên đó tôi xem xem... Thế nào cũng hết sức giúp anh.

Tôi cương quyết hứa với anh như vậy, và lời hứa đó vẫn thường văng vẳng bên tai, đồng thời hình ảnh của anh cũng hiện lên trước mắt. Tôi như thấy anh đang ấp úng nói câu: "Tôi còn phải sống ít lâu nữa". Những lúc đó, tôi liền tìm hết cách chạy chọt cho anh khắp nơi. Nhưng có được gì đâu! Việc ít, người nhiều. Kết quả là họ nói với tôi một vài câu xin lỗi, và tôi cũng lại gửi cho anh một bức thư xin lỗi. Tôi dạy gần hết một học kỳ, tình hình lại rắc rối. TờHọc lý chu báocủa mấy tay cự phách ở đây chủ trương bắt đầu công kích tôi. Tất nhiên là họ không chỉ đích danh, nhưng họ nói bóng gió rất khéo, làm cho ai đọc cũng cho là tôi đang gây phong trào trong học sinh phản đối nhà trường. Và việc tôi đề cử anh Liên Thù dạy ở đây, họ cũng nói là tôi cốt gây bè kéo cánh.

Tôi đành phải ngồi yên không dám làm gì cả. Ngoài giờ lên lớp ra là ở nhà đóng cửa lại, trốn tránh. Đến cả khói thuốc lá lọt qua khe cửa sổ mà có khi cũng sợ tình nghi là gây phong trào phản đối nhà trường! Việc của anh Liên Thù lại càng không thể đả dộng tới. Như thế cho đến giữa mùa đông.

Hôm ấy, tuyết xuống, mãi đến khuya vẫn chưa tạnh. Bên ngoài vắng lặng quá, vắng lặng đến nỗi như có thể nghe được thanh âm của sự vắng lặng. Dưới ánh đèn heo hắt, tôi nhắm mắt ngồi khàn, tưởng tượng thấy hoa tuyết rơi từng đóa từng đóa xuống lớp tuyết đã phủ dày mênh mông trên mặt đất, tưởng tượng thấy quê hương tôi đang chuẩn bị ăn Tết, ai nấy bận tíu tít, còn tôi thì vẫn còn là một đứa bé đang cùng với bọn trẻ con lấy tuyết đắp tượng La Hán ở chỗ đất bằng trong mảnh vườn sau nhà, rồi lấy hai cục than nhỏ điểm vào làm mắt cho ông La Hán, đen láy. Bỗng hai con mắt đó nhấp nháy, biến thành hai con mắt của anh Liên Thù.

"Tôi cần phải sống thêm ít nữa".

Vẫn là cái giọng dạo nọ.

- Tại sao vậy?

Tự dưng, tôi hỏi như thế, và liền cảm thấy buồn cười. Câu hỏi buồn cười đó làm cho tôi chợt tỉnh. Tôi ngồi ngay ngắn lại, châm một điếu thuốc, ẩy cánh cửa sổ nhìn: quả tuyết xuống ngày càng nhiều. Nghe có tiếng gõ cửa. Một lát sau, nghe có người đi vào, nhưng là bước chân đã quen của người làm vặt trong khách sạn. Anh ta đẩy cửa, đưa cho tôi một phong thư dài hơn sáu tấc,[4] chữ viết nguệch ngoạc, nhưng liếc qua cũng nhận ra được hai chữ "Ngụy gửi". Thư của anh Liên Thù!

Đây là bức thư đầu tiên anh gửi cho tôi từ ngày tôi xa thành S. Vốn biết tính anh lười, nên mấy lâu không nhận được thư của anh, tôi cũng không lấy làm lạ. Tuy nhiên lắm lúc cũng giận anh không cho mình biết một tin tức gì về anh cả. Đến khi nhận được thư này, thì bỗng dưng tôi lại lấy làm lạ, vội vàng mở ra xem. Chữ trong thư cũng nguệch ngoạc như thế. Thư viết như sau:

Gửi anh Thân Phi...

Biết xưng hô với anh như thế nào đây cho phải? Thôi thì để trắng vậy. Rồi anh muốn tôi xưng hô với anh như thế nào thì anh cứ việc điền vào. Thế nào cũng được.

Sau buổi chia tay, tôi nhận được của anh ba bức thư tất cả, nhưng tôi không trả lời. Lý do rất đơn giản: cả đến tiền mua tem gửi thư, tôi cũng không có.

Cõ lẽ anh cũng muốn biết một ít tin tức về tôi nhỉ? Nói ngay để anh rõ: tôi thất bại rồi! Trước kia, tôi cứ tưởng mình như thế là đã thất bại, bây giờ mới rõ là chưa phải, mà chính ngày nay tôi mới thất bại thật sự. Trước kia, còn có người muốn cho tôi sống thêm ít lâu nữa, và tôi cũng muốn như thế, nhưng không sống nổi. Đến bây giờ, thì không cần thiết phải sống nữa, song vẫn cứ phải sống.

Nhưng cứ như thế mà sống ư?

Cái người muốn tôi sống thêm ít nữa, mà rồi tôi không sống nổi đó, cái người ấy đã bị kẻ thù lừa giết mất rồi. Ai giết? Chả biết ai cả.

Đời người thay đổi chóng quá mất thôi! Nửa năm nay, tôi chẳng khác gì người ăn xin, mà thực tế thì cũng có thể nói được là đã ngửa tay ăn xin rồi. Tuy nhiên, tôi thấy mình còn có nhiều việc phải làm, vì thế, tôi vui lòng ăn xin, chịu đói chịu rét, chịu hiu quạnh, chịu đắng cay. Cốt sao đừng chết mất thôi. Anh tính, đời còn có người muốn cho mình sống thêm ít lâu nữa, điều đó có một sức mạnh lớn lao dường nào! Nhưng giờ đây thì không còn có sức mạnh đó nữa, con người đó cũng không còn nữa. Và chính tôi cũng cảm thấy mình không đáng sống nữa. Cả những người khác cũng thế. Nhưng đồng thời, tôi lại cảm thấy rằng, chính vì những người không muốn cho tôi sống, mà tôi lại phải sống. Có điều hay cho tôi là cái người muốn cho tôi sống nay không còn nữa, cho nên tôi không sợ ai vì tôi mà đau lòng. Làm cho một người như thế đau lòng, điều đó thật tôi không muốn chút nào cả. Nhưng bây giờ thì không còn nữa rồi, cả đến người ấy cũng không còn nữa rồi. Khoan khoái lắm! Thoải mái lắm! Tất cả những cái gì xưa kia tôi thù ghét, phản đối, bây giờ tôi làm hết. Tất cả những cái gì xưa kia tôi sùng bái, chủ trương, bây giờ tôi bỏ hết. Tôi đã thất bại thực sự rồi!... Nhưng mà tôi đã thắng lợi.

Anh cho tôi là điên ư! Cho tôi đã thành anh hùng hoặc vĩ nhân ư? Không. Không đâu. Chỉ giản đơn như thế này thôi: ít lâu nay tôi đã làm cố vấn cho sư trưởng họ Đỗ, lương tháng tám chục đồng.

Anh Thân Phi...

Anh cho tôi là hạng người như thế nào, cái đó tùy anh. Muốn cho là gì cũng được.

Chắc anh còn nhớ cái phòng khách của tôi ngày trước chứ? Cái phòng chúng mình gặp nhau lần đầu và từ biệt nhau lần cuối ấy mà! Bây giờ tôi vẫn dùng phòng ấy làm phòng khách. Ở đây, có những ông khách mới, có những lễ lạt mới, những lời tâng bốc mới, những sự chạy chọt mới, những cái cúi đầu khom lưng mới, những cuộc chơi bài, đánh đố mới, những cái nhìn lạnh lùng, hằn học mới, những đêm thức trắng mới và những lúc thổ huyết mới.

Trong bức thư trước, anh có nói rằng việc anh dạy học không được như ý. Thế có muốn làm cố vấn không nào? Cứ bảo tôi, tôi xoay cho. Thực ra, làm một anh gác cửa cũng không hề gì. Cũng có những ông khách và những món lễ lạt mới, những lời ton hót mới...

Ở đây, tuyết xuống nhiều rồi. Trên ấy như thế nào? Bây giờ đã khuya, tôi vừa hộc ra hai cốc máu, thấy người tỉnh hẳn ra, sực nhớ từ sang thu đến nay, anh đã lần lượt gửi cho tôi ba bức thư... Thật là một điều kinh ngạc hết sức. Cho nên tôi nghĩ phải cho anh biết một ít tin tức về tôi mới được. Mong anh không đến nỗi bực mình, chán ngán.

Sau này, có lẽ tôi không thư từ gì cho anh nữa đâu. Cái tính tôi, anh còn lạ gì. Bao giờ thì anh trở về đây? Nếu về sớm, chắc có thể gặp nhau đấy! Nhưng tôi nghĩ chúng ta đã không còn đi cùng một con đường nữa rồi, thế thì mong anh quên tôi đi là hơn. Tôi thành thực cảm ơn anh trước kia thường lo lắng cho đời sống của tôi. Nhưng bây giờ thì anh quên tôi đi. Tôi nay đã"tươm"lắm rồi!

Liên Thù

Ngày 14 tháng 12...

Mặc dù bức thư này không làm cho tôi "bực mình chán ngán", nhưng sau khi xem qua một lần, rồi xem kỹ một lần nữa, tôi cũng cảm thấy hơi khó chịu, đồng thời cũng cảm thấy hơi khoái chí. Tôi lại nghĩ bụng, bây giờ sinh kế không còn là vấn đề đối với anh nữa, tôi cũng có thể trút hết được một gánh nặng, mặc dù về mặt này, thủy chung tôi chưa hề giúp được gì cho anh. Bỗng tôi lại nghĩ đến chuyện viết thư trả lời anh, nhưng viết thì biết nói gì bây giờ, nên lại thôi không muốn viết nữa.

Và dần dần thực tình tôi đã quên anh. Hình ảnh của anh không mấy khi hiện lên trong ký ức tôi nữa. Nhưng nhận được thư của anh chưa được mười ngày thì tòa soạnHọc lý tuần báoở thành S. bỗng lại tiếp tục gửi bài báo của họ đến cho tôi. Tôi thường ít đọc những của ấy, nhưng đã gửi tới thì cũng tiện lật xem. Không ngờ, tờ báo đó lại làm cho tôi nhớ đến anh Liên Thù bởi vì ở đấy thường thường có đăng những bài thơ văn liên quan đến anh, như bàiĐến chơi nhà Liên Thù tiên sinh một đêm tuyết xuốnghoặc bàiMột buổi gặp mặt của các nhà thơ ở thư trai quán Cố vấn Liên Thù.

Có một lần ở mụcNhàn đàm, có đăng một bài dài kể lại những mẩu chuyện trước kia người ta truyền cho nhau để chế giễu anh, những mẩu chuyện đó gọi là "dật văn"nghĩa là những mẩu giai thoại. Tuy ý tại ngôn ngoại, nhưng đọc lên, người ta cũng hiểu tác giả muốn nói rằng: "Phàm những con người phi thường tất có thể làm được những việc phi thường".

Không hiểu sao, tuy những bài báo đó có làm tôi nhớ đến anh, nhưng trong ký ức tôi thì hình ảnh anh lại cứ không rõ gì cả, có điều tựa hồ như lại càng thân mật hơn. Điều đó làm cho tôi bỗng dưng thường thấy khó chịu và hơi rùng mình, mà không biết duyên cớ vì đâu. May sao, đến mùa thu thì không thấy tờHọc lý tuần báogửi đến nữa. Nhưng tờHọc lý tuần báoở Sơn Dương lại đăng liên tiếp một bài nghị luận khá dài đề là: "Lời đồn đại cũng là sự thực". Trong đó có nói rằng: những lời đồn đại về mấy ông nọ đã được truyền đến tai những vị thân sĩ đứng đắn rồi! Bài báo ám chỉ một số người trong đó có tôi. Tôi đành phải hết sức cẩn thận, và cứ như trước, cả đến khói thuốc lá cũng phải giữ gìn không dám cho bay ra ngoài. Giữ gìn cẩn thận như thế thật đến khổ và mất thì giờ, thành ra trăm việc đều bỏ phế, và tất nhiên không có thì giờ rỗi để nhớ đến anh Liên Thù. Tóm lại, kỳ thực tôi đã quên hẳn anh rồi.

Nhưng rốt cục tôi cũng không nấn ná đến nghỉ hè được. Cuối tháng năm tôi đã rời khỏi Sơn Dương.

Từ Sơn Dương dời đến Lịch Thành, rồi lại từ Lịch Thành dời đến Thái Cốc, dời đi dời lại, mất già nửa năm mà vẫn không tìm ra việc làm, tôi liền nhất định trở về thành S. Về đến nơi vào một buổi chiều đầu xuân, trời muốn mưa và không mưa được. Một màu xám bao trùm lấy cảnh vật. Chỗ trọ cũ còn có phòng để không, tôi lại đến ở đó. Trên đường về sực nhớ đến anh Liên Thù, nên tới nơi tôi liền định cơm chiều xong là đi thăm anh. Tôi mang theo hai gói bánh nướngVăn Hỉ,ngon có tiếng. Phải đi qua bao nhiêu chặng đường ướt át, và phải tránh bao nhiêu con chó nằm kềnh ra giữa lối đi, mới tới được trước cửa nhà anh. Trong nhà đèn đuốc có vẻ khác thường. Tôi nghĩ bụng: Đã là cố vấn thì đến chỗ ở cũng phải cho thật sáng sủa chứ, rồi bất giác cười thầm. Nhưng khi ngẩng đầu lên nhìn thì thấy trong cánh cổng có cái gì trăng trắng. Rõ ràng là một tờ giấy dán chéo.[5]Tôi lại nghĩ: Chắc là bà nội mấy thằng Lương lớn, Lương bé chết chứ gì! Và tôi bước qua cổng đi thẳng vào phía trong.

Một chiếc quan tài đặt giữa sân, dưới ánh sáng một ngọn đèn lù mù. Một người lính mặc quân phục đứng canh. Có lẽ là anh lính hầu cận. Và có một người nào đang nói chuyện với y. Nhìn ra thì lại là bà nội thằng Lương. Ngoài ra, có mấy người phu mặc áo cộc đứng ở đó chẳng làm gì cả. Tim tôi bỗng đập mạnh. Bà cụ quay lại nhìn thẳng vào mặt tôi, bỗng nói to:

- Trời ơi! Ông về rồi đấy à? Sao không về sớm lấy ít ngày trước?

- Ai... ai mất đấy ạ?

Thật ra tôi cũng đã đại khái đoán ra rồi, nhưng vẫn cứ hỏi:

- Cụ lớn Thụy. Ngài mất từ hôm qua.

Tôi nhìn xung quanh. Phòng khách tối om. Hình như chỉ có một ngọn đèn. Ở nhà giữa lại treo một bức màn tang trắng. Có mấy đứa trẻ xúm nhau ở nhà ngoài. Đó là bọn thằng Lương lớn, Lương bé.

Bà nội thằng Lương đi lên trước, đưa tay chỉ cho tôi, nói:

- Ngài nằm ở đây này. Sau khi ngài ăn mừng xong, tôi để cả gian giữa nhà cho ngài thuê. Bây giờ ngài nằm ở đấy.

Bức màn tang trơ trụi, không treo gì cả. Phía trước có một cái bàn dài, và một chiếc bàn vuông, trên chiếc bàn vuông bày mươi đĩa thức ăn và cơm. Tôi vừa bước vào, bỗng có hai người mặc áo tang ra cản lại, mắt như mắt cá chết trôi, trợn lên lộ vẻ kinh ngạc và ngờ vực, nhìn chòng chọc vào tôi. Tôi vội vàng nói rõ mối quan hệ giữa tôi và anh Liên Thù. Bà nội thằng Lương cũng đứng ra làm chứng cho. Bấy giờ họ mới dần buông tay ra và không nhìn tôi như trước nữa, mặc nhiên để tôi đi đến nghiêng mình trước linh sàng.

Tôi vừa nghiêng mình một cái, bỗng có người nào ngồi dưới đất khóc hu hu... Định thần lại thì thấy một đứa bé hơn mười tuổi, phủ phục trên chiếc nệm rơm, cũng mặc áo tang, đầu cạo nhẵn thín, đội chiếc mũ bện bằng gai to tướng.

Trò chuyện với hai người nọ, mới biết một người là anh em họ với Liên Thù, kể là người bà con gần nhất với anh. Người kia là cháu họ xa. Tôi xin được vào nhìn mặt người bạn cũ lần chót. Họ hết sức ngăn cản nói là "không dám". Sau nói mãi, họ mới nghe và chịu vén bức màn tang lên cho nhìn.

Lần này là tôi gặp anh Liên Thù khi anh đã chết rồi. Nhưng sao lạ! Tuy anh mặc bộ quần áo lót ngắn và nhàu nát, trên thân áo còn có vết máu, mặt hốc hác đến thảm hại, nhưng diện mạo thì vẫn như trước kia, miệng mím chặt, mắt nhắm lại, vẻ yên tĩnh, như đang ngủ, khiến cho tôi có ý muốn đặt tay trước mũi anh xem có phải anh vẫn đang thở thật đấy không?

Ai nấy đều im lặng như chết, cả người chết lẫn người sống. Tôi lùi ra. Người anh em họ của anh đến nói chuyện: nào là "chú nó" đang giữa lúc trẻ trung, đường công danh còn rộng rãi, thế mà bỗng "hoá ra người thiên cổ". Đó không những là điều bất hạnh cho "họ hàng" mà cũng làm cho "bầu bạn đau lòng". Ông ta không nói ra, nhưng có ý như xin lỗi hộ anh Liên Thù. Người miền núi biết ăn nói thế cũng hiếm. Nhưng sau đó thì không khí lại trầm mặc. Ai nấy đều im lặng như chết, cả người chết lẫn người sống.

Tôi thấy chán ngắt, chẳng thương xót gì cả, nên lùi ra sân nói chuyện với bà nội thằng Lương. Nhân đó mới biết là sắp đến giờ nhập liệm, chỉ còn chờ bộ quần áo mới đang đi may cho người chết về nữa thôi. Lại biết khi nào đậy nắp quan tài thì bốn tuổi "tí, ngọ, mão, dậu" nhất thiết phải tránh cho xa. Bà cụ nói nghe có vẻ thích thú lắm, thao thao bất tuyệt, như nước suối chảy. Bà cụ kể lại bệnh tình anh Liên Thù, nói đến tình cảnh anh lúc còn sống, và cũng xen vào một vài câu bình phẩm.

- Để tôi nói cho ông nghe. Ông lớn Ngụy từ khi gặp vận hội, thì khác trước lắm, mặt lúc nào cũng vênh lên, trông nghênh ngang lắm. Đối với mọi người cũng không phải quá lạnh lùng như trước. Ông biết đấy, ngày trước, cứ như là người câm, một ngày không được một tiếng. Với lại, trước đây gọi tôi bằng "cụ" là gì, thế mà sau này gọi là "già". Hì! Hì! Thật hay đáo để! Người ta đưa biếu món truật Tiên Cư,[6] không ăn, lại đem quăng ra sân- Ở chỗ này đây- gọi tôi bảo: "Già này! Già có ăn thì ăn". Sau khi ông ta gặp vận hội, kẻ lui người tới đông lắm, tôi phải nhường cái gian nhà giữa cho mà ở, còn tôi thì dọn vào cái gian xép này. Từ khi gặp vận hội thì ông ta khác hẳn người thường, chúng tôi thường nói đùa với nhau như thế. Giá ông về đây chừng một tháng trước thì ông còn thể thấy được cảnh tấp nập ở đây. Cứ mỗi tuần là hai ba lần tiệc tùng, rồi thì nói nói, cười cười, hát xướng, ngâm thơ, đánh mạt chược.

Ngày trước, ông ta sợ trẻ con hơn là sợ bố nữa, lúc nào cũng nhỏ nhẹ, dịu dàng với chúng nó. Gần đây, thì khác hẳn, hay nói, hay đùa. Bọn thằng Lương thích đùa với ông ta lắm, hễ hở tay ra là lại chạy vào phòng ông ta. Ông ta nghĩ ra lắm cách đùa với chúng nó. Chúng nó vòi mua cái gì, thì ông ta bắt chúng nó giả làm chó sủa, hoặc cúi đầu lạy sát đất, mới mua cho. Ha! Ha! Thật là vui đáo để. Hai tháng trước, thằng Lương con vòi ông ta mua giày, nó phải cúi đầu lạy ba cái đấy! Hiện giờ giày còn đi đấy chưa rách.

Một người mặc áo trắng dài đi ra. Bà cụ ngừng lại. Tôi dò hỏi về chứng bệnh anh Liên Thù, nhưng bà cụ không nói rõ lắm, chỉ nói rằng người anh sút đi từ lâu, có điều không ai để ý, bởi vì thấy anh vẫn vui vẻ lắm. Cho đến cách đây hơn một tháng, mới nghe anh nói thổ huyết mấy lần, nhưng hình như cũng chẳng đi xem thầy xin thuốc gì cả. Sau thì nằm liệt xuống. Ba hôm trước khi chết, cổ khàn hẳn đi, không nói ra tiếng nữa. Ông Mười Ba, bà con với anh, tận Hàn Thạch Sơn mò lên, hỏi anh có tiền bạc dành dụm gì không. Anh không nói gì cả. Ông Mười Ba nghi là anh giả vờ. Cũng có người nói rằng, kẻ chết vì lao cũng không nói ra tiếng. Chẳng biết thế nào...

Bỗng bà cụ nói khẽ lại:

- Nhưng mà tính khí ông lớn Ngụy cũng lạ lùng lắm cơ. Ông ta chẳng chịu dành dụm chút gì cả, tiền cứ tiêu như nước. Ông Mười Ba ngờ là chúng tôi được nhờ cậy nhiều. Nhưng nhờ cậy cái gì? Ông ta cứ tiêu tầm bậy tầm bạ hết sạch. Ví dụ, mới mua hôm nay, ngày mai đã lại bán đi, hay là phá cho hỏng. Chẳng hiểu ra làm sao cả. Đến khi chết thì lại chẳng có cái gì nữa, hết sạch. Nếu không thì hôm nay đâu đến nỗi lạnh tanh đi như thế này!

Ông ta chỉ chơi bời phá phách, chẳng lo gì đến chuyện đứng đắn cả. Tôi đã nghĩ đến điều đó và khuyên nhủ ông ta. Tuổi tác như thế phải có vợ có con. Cứ như địa vị ông ta hỏi ai chẳng được! Giá chưa gặp nơi môn đăng hộ đối, thì hẵng cưới vài ba cô hầu đã, cũng được. Đã làm người thì phải cho ra người chứ! Nhưng ông ta cứ nghe tôi nói là lại cười và nói: "Già này? Sao già lại cứ lo những chuyện như thế cho người khác?". Ông xem, ít lâu nay, ông ta trở thành phù phiếm như thế, chẳng thực tế chút nào cả. Người ta nói điều phải lại không chịu nghe. Giá mà nghe tôi thì đâu đến nỗi bây giờ nằm xuống, một thân một mình trơ trọi như vậy. Ít ra thì cũng được nghe tiếng khóc của vài người thân.

Một người ở hiệu may đưa quần áo về. Ba người bà con liền lấy bộ đồ lót, rồi đi vào sau màn. Một lát, màn vén lên, thì đồ lót đã thay rồi. Bây giờ đến lượt mặc áo ngoài. Tôi thật không ngờ tới. Người ta mặc cho anh cái quần màu vàng đất, có nẹp đỏ rộng, rồi mặc chiếc áo nhà binh vào có cầu vai kim tuyến chói sáng. Không rõ anh phẩm tước gì, và phẩm tước ấy ai cho. Khi nhập quan, thấy anh nằm không được thoải mái lắm, cạnh chân để một đôi giày da màu vàng, cạnh người để một cái gươm bằng giấy, và cạnh cái mặt đen xạm khô dét, để một mũ lưỡi trai viền kim tuyến.

Ba người bà con anh vịn vào thành quan tài khóc một hồi, rồi ngừng khóc, lau nước mắt. Đứa bé đội mũ gai lùi ra, thằng Lương ba cũng chạy trốn mất, có lẽ bọn chúng nó cũng thuộc vào một trong bốn tuổití, ngọ, mão, dậu, chăng.

Mấy người phu khiêng nắp quan tài vào. Tôi lại gần, nhìn vào mặt anh lần cuối cùng trước khi vĩnh biệt. Trong bộ quần áo cứng nhắc đó, anh nằm yên tĩnh, mắt nhắm, miệng mím, mỉa mai cái xác chết đáng buồn cười đó.

Tiếng đóng nắp quan tài vang lên, thì tiếng khóc cũng òa lên theo. Tôi không tài nào mà ngồi nghe họ khóc được; đành phải đi ra sân, rồi thuận chân bước. Không ngờ đã ra đến cổng. Đường ướt át, trông rõ lắm. Ngửng lên nhìn trời, mây đen đã tan hết. Một vừng trăng tròn treo lơ lửng toả xuống một làn ánh sáng lạnh lẽo.

Rồi bước rất gấp, như muốn thoát ra khỏi một cái gì nặng nề đang đè tôi xuống, nhưng không thể nào thoát ra được. Tai tôi như văng vẳng nghe một thanh âm ấm ức, mãi rất lâu, mới bật ra thành một tiếng rống to, kéo dài như một con chó sói bị thương rống lên giữa cánh đồng vắng đêm khuya, vừa thảm thiết, vừa phẫn nộ, vừa bi ai.

Bỗng thấy lòng nhẹ nhõm, tôi thản nhiên bước đi trên con đường đá ướt át, dưới ánh trăng.

Ngày 17 tháng 10 năm 1925

❀ ❀ ❀

[1] Theo tang lễ Trung Quốc cũng như nước ta ngày trước, khi một người chết đi mà trưởng nam người đó đã chết trước thì cháu đích tôn sẽ để tang như tang cha mẹ. Đứa cháu đó gọi là cháu thừa trọng.

[2] Trầm luân là một tập truyện của Úc Đạt Phu, một nhà văn hồi Ngũ Tứ. Tác phẩm này xuất bản năm 1921, gồm ba truyện đều tả tâm trạng u uất, bệnh tật của thanh niên, có khuynh hướng đồi trụy. Nhân vật trong các truyện của Úc Đạt Phu đều là "một chàng thanh niên bất hạnh" hoặc "một người thừa".

[3] Sử ký sách ẩn gồm 30 quyển, của Tư Mã Trinh đời Đường soạn thảo, là sách chú thích sách Sử ký của Tư Mã Thiên. Cấp - Cổ - Các là tên nhà thư viện của Mao Tấn đời Minh. Ông ta thích in sách. Sử ký sách ẩn là một trong những cuốn ông đã khắc và in lại theo bản cũ đời Tống.

[4] Sáu tấc Trung Quốc bằng 20 cm.

[5] Theo phong tục dân gian Trung Quốc ngày trước, khi trong nhà có người chết, ở phía cổng người ta dán chéo một tờ giấy trắng viết tên, tuổi người chết, để những người có tuổi liên quan đến tuổi người chết biết mà tránh khi nhập quan.

[6] Truật Tiên Cư là một thứ Bạch Truật, một vị thuốc bắc, lấy ở vùng Tiên Cư, tỉnh Chiết Giang.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.