Cố Hương - Tập Truyện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 14 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tiếc Thương Những Ngày Đã Mất

❊ ❊ ❊

Bút ký của Quyên Sinh

Nếu như có thể được thì tôi sẽ vì hương hồn Tử Quân và vì chính mình ghi lại đây lòng hối hận, nỗi đau thương của mình.

Gian phòng đổ nát, hẻo lánh như bị bỏ quên trong cái hội quán này sao mà buồn bã, trống trải thế! Thời gian đi nhanh quá! Từ ngày tôi yêu Tử Quân, và nhờ nàng mà thoát ra khỏi nơi buồn bã, trống trải đó, tính đến nay, đã trọn một năm rồi. Thật là không may chút nào cả! Khi tôi trở về đây, lại chỉ có gian phòng này là còn bỏ trống, chưa có ai ở. Vẫn cái cửa sổ hư hỏng ấy. Vẫn cây hòe gần chết khô và cây tử đằng già cỗi ngoài cửa sổ. Rồi chiếc bàn vuông đặt trước cửa sổ, bức tường nát, tấm phản kê sát tường cũng vẫn y nguyên như trước. Đêm khuya, một mình nằm trơ trên tấm phản, tôi có cảm giác giống y như hồi tôi chưa ở chung với nàng. Thời gian một năm qua hoàn toàn như mất hẳn, như hoàn toàn không có. Tôi cũng chưa hề dọn ra khỏi cái gian phòng đổ nát này để xây dựng một cảnh gia đình nho nhỏ, chứa chan hi vọng, ở ngõ Cát Triệu bao giờ cả!

Chẳng những thế mà thôi. Một năm về trước, cảnh vắng vẻ, trống trải ấy cũng đâu có thế này, bởi vì hồi đó còn có sự mong chờ, mong chờ nàng đến. Ngồi mong chờ mãi, sốt ruột, cứ nghe tiếng giày cao gót nhẹ nhàng đi trên con đường lát gạch là tôi lại bỗng vui hẳn lên. Rồi thì được nhìn khuôn mặt tròn trĩnh, nước da hơi xanh, với hai má lúm đồng tiền của nàng, được nhìn thấy đôi tay trắng và gày, chiếc áo vải sọc, chiếc quần màu huyền của nàng. Nàng còn hái một ít lá non ở cây hòe gần chết khô trước cửa sổ đem vào cho tôi xem. Và cả những chùm hoa nửa trắng nửa tím của cây tử đằng lủng lẳng trên cái cành trông như bằng sắt nữa.

Thế mà bây giờ, chỉ có cái cảnh vắng vẻ, trống trải là y nguyên như trước, còn Tử Quân thì không đến nữa, vĩnh viễn không bao giờ đến nữa!...

Khi Tử Quân không ở trong gian phòng đổ nát này, thì xung quanh tôi, tôi không thấy gì nữa hết. Ngồi buồn, tôi tiện tay quờ lấy một cuốn sách, sách khoa học hay là sách văn học, sách nào thì cũng thế thôi, như nhau cả, rồi cứ đọc bừa. Bỗng nhận thấy mình đã lật qua hơn mươi trang giấy rồi, mà nào có nhớ trong sách họ nói cái gì đâu! Chỉ có lỗ tai thì thích lắm, như nghe được mọi tiếng giày qua lại trước cổng, trong đó có tiếng giày của nàng, và tiếng giày nghe lóc cóc càng gần dần... nhưng thường thường thì lại dần dần xa vắng rồi mất hút đi trong những bước chân dồn dập. Tôi rất ghét cái thằng con lão gác cổng: nó đi đôi giày vải, nghe chẳng giống tiếng giày của Tử Quân chút nào cả. Tôi cũng rất ghét cái anh chàng mặt trát kem bừ bự, ở gian phòng bên cạnh, hắn thường đi đôi giày da mới đóng, nghe y như là tiếng giày của Tử Quân ấy!

Nàng ngã xe rồi chăng? Hay là ô tô cán bị thương rồi chăng?...

Tôi muốn cầm mũ đi tìm nàng nhưng người chú ruột của nàng đã có lần mắng vào mặt tôi.

Bỗng tiếng giày của nàng đến gần, càng lâu càng rõ. Chạy ra đón thì nàng đã đi đến giàn tử đằng rồi, tủm tỉm cười, để lộ hai lúm đồng tiền trên má. Như thế chắc là ở nhà, nàng không bị ông chú rầy la rồi. Tôi yên tâm. Chúng tôi ngồi lẳng lặng nhìn nhau một lúc, rồi tiếng nói của tôi vang lên trong căn phòng đổ nát này. Tôi nói về cảnh gia đình chuyên chế, nói về việc phá bỏ tục lệ cũ, nói về nam nữ bình đẳng, nói về Ipxen, Tago, Seli[1]... Nàng chỉ mỉm cười, gật đầu, đôi mắt tò mò sáng lên một cách hết sức ngây thơ. Trên tường, tôi có treo một bức ảnh bán thân của Seli khắc đồng, cắt trong một tờ tạp chí. Đó là bức ảnh đẹp nhất của ông ta. Tôi chỉ cho nàng xem, nhưng nàng chỉ nhìn qua, rồi cúi đầu xuống, hình như có ý ngượng, về những phương diện này, có lẽ nàng còn chưa thoát khỏi ràng buộc của tư tưởng cũ. Về sau, tôi nghĩ có lẽ nên lấy bức ảnh kỉ niệm của Seli chụp khi ông ta chết đuối ngoài biển hoặc là bức ảnh của Ipxen thay vào. Nhưng rồi tôi cũng không thay. Bây giờ thì đến cái bức ảnh kia đã biến đi đâu rồi, cũng chẳng biết nữa!

"Người em là của em, không ai có quyền can thiệp vào đời em cả".

Đó là câu nói của nàng với tôi, khi chúng tôi đã gần gần gụi nhau nửa năm. Hôm ấy chúng tôi nói chuyện đến người chú ruột của nàng ở đây và ông thân sinh nàng ở quê nhà. Nàng ngồi im lặng suy nghĩ một lát, rồi nói như thế, hết sức rành rọt, kiên quyết, trầm tĩnh. Lúc đó tôi đã bày tỏ hết ý nghĩ của tôi, và nói rõ cho nàng hiểu thân thế, khuyết điểm của tôi, không giấu diếm điều gì. Và nàng cũng biết như thế. Câu nói trên làm cho tâm hồn tôi rung động, bao nhiêu ngày sau còn vang dội trong tai tôi. Tôi vui mừng không sao kể xiết, thấy phụ nữ Trung Quốc đâu phải là "nan hóa"[2]như những ông chán đời thường nói. Trong một tương lai không xa nữa, ánh ban mai sẽ rực rỡ lên cho mà xem!

Tôi tiễn nàng ra tới cổng. Theo thường lệ, chúng tôi đi cách nhau mươi bước. Và theo thường lệ, cái lão râu cá trê lại dán mặt vào tấm kính cửa sổ bẩn thỉu, đến nỗi cái mũi bẹp dí xuống. Đến sân, theo thường lệ, lại thấy anh chàng mặt bự kem, đứng sau cửa sổ kính sáng loáng. Mắt nhìn thẳng phía trước, nàng đi một cách kiêu hãnh, nên không thấy. Và tôi cũng đi một cách kiêu hãnh trở vào.

"Người em là của em, không ai có quyền can thiệp vào đời em cả". Trong óc nàng, niềm tin tưởng triệt để đó kể còn dứt khoát, mạnh mẽ hơn tôi nhiều. Cái mũi bẹp dí kia và nửa lọ lem kia, đối với nàng, có nhiều lý gì?

Bây giờ tôi không nhớ rõ lúc đó tôi đã thổ lộ với nàng mối tình yêu trong trắng, nồng nàn của tôi như thế nào. Mà không những bây giờ, ngay sau lúc đó, tôi cũng không còn nhớ được ra sao nữa. Đêm nằm mường tượng lại cũng chỉ mường tượng được một đôi điều vụn vặt mà thôi. Và sau khi ở chung với nhau một vài tháng rồi thì cả những điều vụn vặt đó cũng trở thành mộng ảnh, hết sức mơ hồ, không tài nào hình dung được. Chỉ còn nhớ rằng mười hôm trước đó, tôi đã nghiên cứu thái độ của mình, khi tỏ tình với nàng, sắp đặt sẵn, nên nói cái gì trước, cái gì sau, và cũng nghĩ đến cách xử trí như thế nào giá như nàng cự tuyệt. Nhưng đến lúc đó thì trở thành vô dụng hết. Và trong lúc hoảng hốt, không tự chủ được, tôi đã bắt chước cái trò thường thấy trên màn ảnh. Về sau, mỗi lần nghĩ đến, tôi rất lấy làm xấu hổ. Có điều, trong ký ức tôi thì lại chỉ còn lại cái cảnh đó là không phai mờ. Và đến nay, nó vẫn như ngọn đèn duy nhất trong một gian phòng tối mịt, và dưới ánh sáng ngọn đèn đó, tôi mới lại nhìn thấy tôi, mắt đẫm lệ, cầm lấy tay nàng, quỳ xuống....

Không những tôi không rõ chính tôi đã làm gì, mà đến Tử Quân cử chỉ nói năng ra làm sao, tôi cũng không biết nữa. Chỉ biết là nàng đã đồng ý. Nhưng tôi vẫn phảng phất nhớ là mặt nàng tái đi, sau đó lại dần dần đỏ ửng lên. Trước kia tôi chưa từng thấy mặt nàng đỏ ửng lên như thế bao giờ, và sau này cũng không hề thấy lại một lần nào như thế nữa.

Đôi mắt nàng ngây thơ như mắt con trẻ, ánh lên một niền vui mừng lẫn lộn buồn thương, trong đó lại có sự ngạc nhiên, sự nghi hoặc nữa, Tuy vậy, nàng cố tránh tầm mắt tôi; và hoảng hốt, nàng như muốn bay ra ngoài, qua khung cửa sổ hư nát. Nhưng tôi biết nàng đã nhận lời tôi rồi, mặc dù tôi không nhớ nàng đã nói như thế nào hay là chẳng nói gì hết.

Còn nàng thì nàng nhớ rõ cả. Những lời tôi nói với nàng, nàng như thuộc lòng, có thể nhắc lại được một cách trơn tru. Và những cử chỉ của tôi thì như đã được in vào một cuốn phim ảnh để trước mắt nàng mà tôi không nhìn thấy được, ghi lại rành rọt, tỉ mỉ tất cả, và tất nhiên cũng ghi lại cả cái trò khá bỉ ổi bắt chước màn ảnh, mà tôi không muốn nhớ lại tí nào. Những khi đêm khuya thanh vắng, mặt nhìn mặt, ôn lại chuyện cũ, tôi thường bị nàng chất vấn, khảo sát, bắt nhắc lại những lời tôi đã nói lúc bấy giờ, nhưng luôn luôn phải nhờ nàng bổ sung, đính chính cho, y như là một anh học sinh hạng bét.

Về sau, dần dần cũng thưa đi, không mấy khi như thế nữa. Có điều mỗi lần thấy nàng ngồi mắt đăm đăm nhìn vào quãng không, vẻ trầm tư, nét mặt dịu hiền, má lúm đồng tiền càng lúm xuống, là biết ngay nàng đang ôn lại chuyện cũ. Tôi chỉ sợ nhất là nàng thấy lại cái trò buồn cười mà tôi đã bắt chước được trên màn ảnh. Tôi biết, thế nào nàng cũng thấy lại, và không thấy lại không được.

Có điều nàng thì nàng không cho là buồn cười đâu! Dù tôi có cho là buồn cười, thậm chí cho là bỉ ổi đi nữa, nhất định nàng cũng không cho là buồn cười chút nào. Điều đó tôi biết rất rõ, bởi vì nàng yêu tôi, yêu tha thiết như thế, trong trắng như thế.

Cuối mùa xuân năm ngoái là quãng đời hạnh phúc nhất mà cũng là bận rộn nhất của tôi. Lòng tôi thì đã yên tĩnh lắm rồi, nhưng những phần khác trong người tôi cùng với cả thân thể tôi lại tíu tít lên. Lúc đó, chúng tôi mới dắt nhau đi chơi ngoài phố, cũng có mấy lần dạo vườn hoa, nhưng nhiều nhất là dắt nhau đi tìm nhà. Dọc đường, thỉnh thoảng tôi lại cảm thấy có những con mắt nhìn chúng tôi tò mò, chế nhạo, đểu cáng, khinh bỉ, nếu không giữ gìn cẩn thận, thì cả con người tôi co rúm lại. Tôi đành phải dùng đến cái tính kiêu ngạo, cái tinh thần phản kháng của tôi mà chống chọi lại. Nhưng nàng thì bất chấp tất cả, không thèm bận lòng vì những điều ấy, cứ khoan thai, bình tĩnh bước đi, thản nhiên như đi giữa chốn không người.

Tìm cho ra được một cái nhà để thuê không phải là chuyện dễ. Phần nhiều người ta từ chối bằng cách này cách khác, chỉ một vài nơi chúng tôi không thuê là vì không vừa ý. Lúc đầu thì chúng tôi còn hơi khó tính, mà có lẽ cũng không phải khó tính, bởi vì nhìn qua cũng thấy không phải là chỗ chúng tôi có thể yên thân được. Về sau thì miễn người ta bằng lòng cho thuê là tốt rồi. Đi xem hơn hai mươi chỗ, mới tìm được một chỗ tàm tạm có thể ở được, tức là hai gian phòng hướng nam của một ngôi nhà nhỏ, ngõ Cát Triệu. Chủ nhà là một ông công chức nhỏ, nhưng cũng là người biết điều, ông ta ở gian giữa và cái phòng xép. Ông ta có vợ và một đứa con gái vừa lên một, và một đứa đầy tớ gái thuê ở nhà quê ra. Đứa bé mà không khóc thì yên tĩnh vắng lặng lắm!

Chúng tôi chẳng sắm sửa mấy, thế mà cũng tiêu hết nửa số tiền dành dụm được. Tử Quân còn phải bán đôi hoa tai và chiếc nhẫn vàng duy nhất của nàng. Tôi không cho nàng bán, nhưng nàng cứ nhất định bán cho kỳ được, nên tôi cũng không ngăn cản nữa. Tôi biết nếu không để nàng góp phần của nàng vào thì nàng không yên tâm.

Trước đây nàng đã to tiếng với ông chú đến nỗi ông chú giận không nhận nàng là cháu nữa. Còn tôi thì tôi cũng đã lần lượt tuyệt giao với những ông bạn tự cho là thành thực khuyên bảo tôi, nhưng thật ra là họ sợ giùm cho tôi, hoặc giả là ghen tị với tôi. Nhưng như thế mà lại yên thân. Mỗi ngày tan sở, tuy trời đã gần tối, anh phu xe lại chạy rất chậm, thế mà tôi về đến nhà, hai chúng tôi còn có thì giờ ngồi đối diện với nhau được một lát. Lúc đầu thì chúng tôi im lặng nhìn nhau, sau khi chuyện trò cởi mở thân mật, và cuối cùng thì im lặng. Hai người cúi đầu suy nghĩ, nhưng thật ra chẳng suy nghĩ gì cả. Dần dần tôi hiểu thấu nàng cả về linh hồn lẫn thể xác. Và chưa đầy ba tuần lễ, tựa hồ như không có gì về nàng tôi không biết nữa. Tôi đã tìm ra được cả những điều làm cho chúng tôi không gần nhau, trước kia tưởng không có, nhưng bây giờ thì vẫn thấy cách bức, tức là những cái cách bức thực sự.

Càng ngày, Tử Quân càng vui vẻ hoạt bát lên. Nhưng nàng không thích chơi hoa. Hai chậu hoa nho nhỏ tôi mua ở chợ về, để bốn ngày không có giọt nước, chết khô ở góc tường, còn tôi thì lại không rỗi để làm những việc ấy. Tóm lại, nàng thích nuôi gà nuôi chó, có lẽ là bà quan nọ truyền nhiễm cho chăng, chưa đầy một tháng, quyến thuộc của chúng tôi bỗng dưng đông hẳn lên. Bốn con gà con lảng vảng trước sân cùng bầy với mười con gà của bà chủ nhà. Cả hai người đều nhận được mặt gà, biết con nào là của mình. Lại còn một con chó đốm con nữa, mua ở chợ về. Nhớ như nguyên nó đã gọi là con gì rồi, nhưng Tử Quân lại đặt cho một tên khác, con Tùy. Tôi không thích cái tên đó, nhưng cũng gọi là con Tùy.

Thật thế, tình yêu phải được đổi mới luôn, lớn dần lên và phải sáng tạo. Tôi đem điều đó nói với Tử Quân. Nàng cũng gật đầu cho là đúng.

Trời ơi! Ban đêm sao mà thấy êm ả và hạnh phúc đến thế nhỉ?

Phải giữ cho cuộc sống êm ả và hạnh phúc được vững bền, mãi mãi êm ả như thế. Hồi còn ở hội quán, đôi khi chúng tôi còn xung đột về quan niệm, hiểu nhầm về tư tưởng của nhau, chứ từ khi dời đến ở ngõ Cát Triệu này thì đến những cái đó cũng không còn nữa. Ngồi đối diện dưới ánh đèn, nhắc lại chuyện cũ, chúng tôi thưởng thức lại nỗi vui sướng làm lành với nhau sau những cuộc xung đột, vui sướng như chết đi mà được sống lại.

Tử Quân cũng càng ngày càng béo ra, sắc mặt cũng hồng hào lên. Chỉ hiềm điều nàng bận lắm. Bận việc cửa việc nhà đến nỗi thì giờ nói chuyện gẫu với nhau cũng không có nữa, nói gì đến thì giờ đọc sách và đi chơi! Chúng tôi thường bàn với nhau thế nào cũng phải thuê một người ở gái.

Có điều này làm cho chúng tôi không được vui là cứ buổi chiều đi làm về, tôi thường thấy vẻ mặt nàng buồn rười rượi, nhất là khi thấy nàng cố gượng nói gượng cười thì tôi lại càng buồn hết sức. May mà dò biết được rằng, nguyên nhân vì có sự lục đục với bà quan nọ về chuyện gà qué giữa hai người. Nhưng chuyện như thế sao mà hỏi lại nhất định không nói? Con người ta nhất định phải ở riêng biệt ra. Chỗ như thế này thì không thể ở được.

Cuộc đời của tôi đã thành nếp rồi. Mỗi tuần lễ sáu ngày, ngày nào cũng từ nhà đến sở, rồi lại từ sở về nhà. Ở sở thì ngồi vào bàn giấy, sao sao chép chép công văn và thư từ, về nhà thì ngồi cùng nàng, mặt cùng mặt, hoặc giúp nàng nhóm bếp, nấu cơm, hấp bánh bao. Tôi biết nấu cơm là từ hồi đó.

Ở đây tôi được ăn ngon hơn khi ở hội quán nhiều. Tử Quân không có tài về khoa nấu nướng, nhưng nàng làm hết lòng hết sức. Những điều làm cho nàng lo nghĩ đêm ngày cũng làm cho tôi lo nghĩ theo, gọi là vui buồn có nhau. Huống chi nàng lại phải suốt ngày mồ hôi đầm đìa, tóc cứ dính bết vào trán và hai bàn tay thì càng lâu càng thô ráp đi như thế!

Rồi lại phải cho con Tùy ăn, cho gà con ăn... đều là việc không có nàng không xong.

Có lần tôi đã nói thật với nàng rằng: "Anh không ăn cũng được, chứ không để cho em vất vả thế kia". Nàng chỉ lườm tôi một cái, không nói gì, nhưng nét mặt lại buồn rũ rượi. Tôi đành phải làm thinh. Nhưng nàng thì vẫn cứ vất vả như thế.

Cái điều không hay mà tôi dự đoán quả nhiên đã xảy ra. Buổi chiều trước tết Song Thập, tôi đang ngồi thẫn thờ và nàng thì đang rửa chén bát. Nghe tiếng gõ cửa, tôi ra mở. Thì ra là anh chạy giấy ở sở, anh ta đưa cho tôi một tờ công văn in thạch. Tôi đã hơi đoán ra chuyện gì rồi. Đem lại trước bàn xem, quả nhiên tờ công văn viết như thế này đây:

Theo lệnh ông thủ trưởng cơ quan thì ông Sử Quyên Sinh có thể nghỉ việc bắt đầu từ hôm nay.

PHÒNG BÍ THƯ

Ngày 9 tháng 10

Việc này khi còn ở hội quán, tôi đã dự đoán rồi. Cái thằng mặt bự kem kia là bạn cờ bạc với thằng con ông thủ trưởng. Nhất định hắn đã đặt điều xuyên tạc mối quan hệ giữa tôi và Tử Quân, rồi tìm cách nói đến tai cấp trên của tôi. Mãi đến nay mới hiệu nghiệm thì cũng có thể cho là hơi muộn! Thật ra, đối với tôi, đó không phải là một miếng đòn đau, bởi vì tôi đã quyết định sẵn rồi, hoặc là đi sao chép ở nơi khác, hoặc là đi gõ đầu trẻ, hoặc là dịch một ít sách, tuy có mệt hơn, huống nữa ông chủ bút tờNgười bạn của tự dolà người quen, đã gặp nhau mấy lần, cách đây hai tháng còn gửi thư cho tôi. Tuy vậy, tim tôi vẫn đập mạnh. Rồi thì Tử Quân xưa nay vốn không sợ cái gì, bỗng cũng biến sắc đi; điều này làm cho tôi hết sức đau khổ. Gần đây xem nàng hình như có ý khiếp nhược hơn trước.

Nàng nói:

- Chẳng hề gì! Hừ! Không làm việc này thì làm việc khác. Chúng ta...

Nàng không nói hết câu. Không hiểu vì sao mà giọng nói của nàng tôi nghe cứ như thoang thoảng. Và ngọn đèn trông cũng thấy ảm đạm khác thường. Con người ta nghĩ cũng buồn cười. Một việc nhỏ mọn hết sức cũng có thể có một ảnh hưởng rất sâu sắc. Lúc đầu chúng tôi ngồi nhìn nhau im lặng, dần dần chúng tôi bàn bạc với nhau, cuối cùng thì quyết định số tiền hiện còn phải hết sức dè xẻn, một mặt đăng quảng cáo trên báo tìm chỗ làm thư ký hay dạy học, một mặt thì viết thư cho ông chủ bútNgười bạn của tự do, nói rõ cảnh ngộ tôi hiện nay, mong ông ta nhận sử dụng những bản dịch của tôi sẽ gửi đến, giúp tôi chút đỉnh trong lúc hoạn nạn.

- Đã nói thì làm. Quyết tìm một con đường khác vậy!

Tôi liền đứng dậy đi lại bàn viết, đẩy lọ đựng dầu thơm và giấm sang một bên, Tử Quân thì mang cái đèn leo lét đến. Tôi thảo mẫu đăng quảng cáo trước rồi ngồi chọn những quyển sách có thể dịch được. Đống sách này từ khi dọn nhà đến nay chưa hề giở ra xem, cho nên quyển nào quyển nấy trên đầu cũng bám đầy bụi. Sau cùng thì viết bức thư.

Tôi ngần ngừ mãi, chẳng biết nên nói thế nào cho tiện. Đang dừng bút suy nghĩ thì liếc qua nhìn nàng. Dưới ánh đèn heo hắt, trông mặt nàng càng thảm hại quá chừng. Tôi không ngờ một việc cỏn con như thế mà lại có thể làm cho một người kiên quyết, cam đảm như Tử Quân thay đổi hẳn đi như thế được. Quả thực, gần đây nàng trở thành khiếp nhược lắm rồi, chứ không phải chỉ mới bắt đầu từ đêm hôm nay mà thôi! Vì thế lòng tôi càng thêm rối loạn. Bỗng hình ảnh cuộc sống yên lành trong cảnh thanh vắng của cái hội quán đổ nát kia, cứ thoảng qua trước mắt tôi. Tôi định tâm nhìn cho thật rõ thì lại chỉ thấy cái ánh đèn heo hắt.

Một hồi lâu, thư cũng đã viết xong. Bức thư hơi dài. Tôi thấy người rã rời hẳn ra. Hình như gần đây tôi cũng khiếp nhược hơn trước. Thế rồi chúng tôi quyết định nội ngày mai sẽ gửi quảng cáo và bức thư đi. Không ai nói gì, nhưng chúng tôi đều cảm thấy được tinh thần bền bỉ, quật cường của nhau. Và chúng tôi còn như thấy được mầm hy vọng tương lai đang chớm nở.

Thật ra, miếng đòn từ ngoài đánh vào đó lại làm cho tinh thần chúng tôi phấn chấn lên, đổi mới hẳn đi. Cuộc đời tôi ở sở vốn chẳng khác gì cuộc đời con chim trong tay chú bán chim. Chỉ được có ít gạo tấm cầm hơi, quyết không thể nào cho béo mập ra được. Càng lâu, đôi cánh càng tê dại đi, dù có đem thả ra khỏi lồng cũng không bay nổi nữa. Bây giờ thì có thể cho như là đã thoát khỏi lồng rồi đấy. Nhân lúc chưa quen sử dụng đôi cánh, từ đây tôi phải vút lên, bay liệng trong những khoảng trời mát mẻ, rộng thênh thang.

Quảng cáo vừa đăng cố nhiên không thể có kết quả ngay được. Mà dịch sách cũng không phải chuyện dễ. Những quyển trước kia xem cho là hiểu hết cả, bây giờ cầm bút dịch lại thấy hàng trăm chỗ nghi ngờ, khó khăn, nên dịch rất chậm. Nhưng tôi quyết tâm tiến hành. Không đầy một tháng mà mép cái cuốn tự điển còn khá mới kia đã đầy dấu vân tay đen thui. Đủ rõ tôi làm việc kỹ lưỡng như thế nào. Ông chủ bútNgười bạn tự dotừng có nói với tôi rằng tạp chí của ông ta nhất định không bỏ qua những bài tốt gửi đến mà không đăng.

Hiềm một điều tôi không có được một gian phòng tĩnh mịch để làm việc, mà Tử Quân thì cũng không lặng lẽ và khéo chiều như trước nữa. Trong nhà, bát đĩa cứ quăng bừa bãi, khói cứ um lên, không thể nào an tâm mà làm việc được. Nhưng cái đó thì chỉ có thể trách mình không có tiền mà bố trí một chỗ làm việc riêng. Đã thế lại còn thêm có con Tùy và đàn gà con nữa. Rồi đàn gà càng ngày càng lớn lên, càng dễ gây ra những cuộc cãi cọ giữa hai gia đình.

Lại còn chuyện cơm nước. Cơm thì ngày nào cũng phải ăn, như "nước sông ngày nào cũng chảy", không dừng được. Công việc của Tử Quân hoàn toàn hình như ở chỗ cơm nước. Ăn xong lại chạy tiền, chạy tiền được rồi thì lại ăn. Lại còn phải cho con Tùy và đàn gà con ăn nữa. Bao nhiêu điều trước kia nàng đã biết rồi bây giờ hình như quên đi cả. Và nàng cũng không hề nghĩ rằng mỗi khi thúc giục tôi đi ăn cơm là thường làm cho tứ văn của tôi phải đứt đoạn. Dù trong bữa cơm tôi có làm mặt giận, nàng cũng không hề sửa đổi. Nhưng không cảm thấy gì hết, nàng cứ ngồi ăn ngon lành.

Tôi phải mất đến năm tuần lễ mới làm cho nàng hiểu được rằng công việc của tôi không thể gò bó theo việc cơm nước đúng giờ đúng buổi. Nàng hiểu ra, nhưng có lẽ nàng không được vui, có điều không nói gì hết. Từ đó công việc của tôi quả tiến hành có nhanh hơn trước. Không bao lâu đã dịch được năm vạn chữ. Chỉ cần sửa chữa một ít nữa là có thể gửi choNgười bạn của tự do,cùng một thể với hai bài báo khác cũng vừa viết xong. Nhưng chuyện cơm nước vẫn làm cho tôi khổ sở. Cơm canh nguội lạnh, cái đó không hề gì, nhưng mà lại không đủ no. Có khi đến cơm cũng thiếu nốt, mặc dù cả ngày ngồi trong nhà dùng sức óc, tôi đã ăn kém trước nhiều rồi. Thiếu cơm là vì cho Tùy ăn trước. Có lúc lại còn cho nó vài miếng thịt dê là món gần đây chúng tôi cũng không dễ gì có mà ăn. Nàng nói độ rày con Tùy nó gầy đến thảm hại, bà chủ nhà chê cười nghe không chịu được.

Thế là chỉ có đàn gà là ăn cơm thừa của tôi. Điều này mãi lâu tôi mới nhận thấy, đồng thời cũng nhận thấy được "vị trí của loài người trong vũ trụ", để dùng chữ của Hocsli,[3] vị trí của tôi chẳng qua là ở giữa con chó và đàn gà con mà thôi!

Về sau, qua bao nhiêu lần phản đối và thúc giục, đàn gà đã lần lượt biến thành những món ăn thịnh soạn. Chúng tôi và con Tùy được hưởng chất béo trong hơn mười ngày. Thật ra, phải nói chúng nó gầy lắm, vì đã từ lâu, mỗi ngày chúng nó chỉ còn được vài hạt ngô nữa thôi. Từ đấy trở đi, trong nhà yên tĩnh lắm. Có điều Tử Quân thì trông tiều tụy hẳn. Hình như nàng cảm thấy buồn bực, chán nản, đến nỗi không buồn mở miệng nói năng gì cả. Tôi nghĩ bụng: "A! con người ta sao mà dễ thay đổi đến thế!"

Nhưng rồi đến con Tùy cũng không thể giữ nuôi được nữa. Chúng tôi không còn hy vọng nhận được thư ở đâu gửi tới giúp đỡ nữa nên đã từ lâu Tử Quân cũng không có thức gì cho nó ăn để bắt nó cúi chào hoặc đứng thẳng hai chân trước. Mùa đông lại sắp sửa đến nơi rồi. Lò sưởi đã thành một vấn đề lớn. Con Tùy với mức ăn của nó thực ra là một gánh nặng mà chúng tôi đã cảm thấy rõ từ trước. Thế là không thể giữ nuôi được nữa.

Giá cột vào cổ nó một nhánh rơm[4]rồi đưa ra chợ bán, có lẽ cũng được ít tiền đấy, nhưng chúng tôi không thể và cũng không muốn làm như vậy. Cuối cùng, tôi lấy một cái bao tải chụp vào đầu nó rồi dắt ra bỏ ở ngoại ô phía tây. Nó còn chạy theo, tôi liền xô xuống một cái hố cũng không sâu lắm.

Trở về nhà thấy càng yên tĩnh hơn nhiều. Nhưng tôi phải giật mình khi nhìn thấy nét mặt Tử Quân thê thảm quá chừng, chưa bao giờ thê thảm đến thế! Tất nhiên là về chuyện con Tùy. Nhưng việc gì mà đến nông nỗi ấy? Đó là tôi chưa nói lại cho nàng biết việc xô con Tùy xuống hố đấy!

Đến đêm nét mặt thê thẳm của nàng lại thêm có cái gì giá lạnh. Tôi cầm lòng không đậu, phải hỏi:

- Lạ chưa? Em hôm nay sao lại như thế?

Cũng chẳng ngước mắt nhìn tôi, nàng hỏi lại:

- Cái gì?

- Nét mặt em ...

- Có gì đâu... không có gì hết!

Cuối cùng xem lời lẽ, hành động của nàng, tôi cũng hiểu ra rằng có lẽ nàng cho tôi là một người nhẫn tâm. Thật ra, một mình tôi thì sự sống cũng dễ dàng thôi... mặc dù xưa nay, vì có tính kiêu ngạo, tôi không hề lui tới những nơi quen biết với gia đình tôi ngày trước, rồi sau khi rời đến ở đây thì lại cũng xa dần những người bạn cũ của mình nốt. Nhưng quý hồ có thể bay nhảy được thì con đường làm ăn sinh sống của tôi cũng còn rộng rãi chán. Bây giờ, chịu đau khổ cho đời sống giày vò như thế này, phần lớn chính là vì nàng. Cho đến cái việc đem con Tùy vứt đi, há lại cũng không phải vì nàng đó sao? Nhưng sự hiểu biết của Tử Quân hình như lại cứ càng ngày càng nông nổi, hời hợt, đến nỗi có một điều đó mà cũng nghĩ không ra.

Tôi tìm một cơ hội đem cái sự thật đó nói bóng gió xa xôi cho nàng hiểu. Nàng gật đầu ý chừng đã hiểu. Nhưng xem tình hình về sau thì nàng vẫn chưa hiểu, hoặc giả không tin điều tôi nói là đúng.

Khí trời lạnh và nét mặt của nàng càng lạnh làm cho tôi không thể ngồi yên thân ở trong nhà được. Nhưng đi đâu bây giờ? Trên đường phố, trong vườn hoa, tuy không gặp phải những vẻ mặt lạnh lùng như thế, nhưng gió lạnh thổi thốc vào người như cắt da cắt thịt. Cuối cùng tôi đã tìm ra được cảnh thiên đường của tôi trong Thư viện bình dân.

Vào đấy không phải mua vé. Trong phòng đọc sách lại có sẵn hai cái lò sưởi bằng sắt. Mặc dù than trong lò cũng nửa tắt nửa đỏ, nhưng mắt nhìn thấy có lò là đã tưởng tượng thấy ấm rồi. Có điều sách không có quyển nào xem được; sách cũ thì cổ hủ quá rồi, mà sách mới hình như không có quyển nào.

Cũng may tôi đến đấy không phải là để xem sách. Ngoài tôi ra, thường có mấy người nữa, lúc nhiều nhất là hơn mười người. Ai cũng áo quần mỏng manh như tôi cả. Và ai cũng xem sách để lấy cớ ngồi sưởi nhờ. Cảnh này thích hợp với tôi lắm. Đi ngoài đường thế nào cũng gặp người quen, họ sẽ lườm nguýt mình, khinh bỉ. Nhưng ở đây thì quyết không thể vấp phải cái tai họa giữa trời ấy, bởi vì những người đến xem sách ở đây, hoặc giả họ ngồi xa, vây quanh những lò sưởi khác, hoặc giả họ dựa vào cái lồng ấp bằng đất sét họ mang theo.

Ở đây, tuy không có sách để xem, nhưng tôi lại được an nhàn để suy nghĩ. Một mình, ngồi thừ ra, nhớ lại khoảng thời gian vừa qua, tôi mới nhận ra rằng, hơn nửa năm nay, tôi chỉ sống vì tình yêu, một tình yêu mù quáng, mà quên hẳn những ý nghĩa quan trọng khác của cuộc đời. Trước hết quên rằng phải sống cái đã. Con người ta có sống thì tình yêu mới có chỗ dựa. Trên đời, đối với những người chịu phấn đấu thì không phải không có con đường sống. Mà tôi thì cũng chưa quen sử dụng đôi cánh của tôi, mặc dù so với trước đã thấy yếu đuối hơn nhiều!...

... Cả gian phòng đọc sách và những người ngồi đọc sách mờ dần. Bỗng trước mắt tôi hiện ra cảnh người đánh cá giữa lớp sóng cồn, người binh sĩ nằm trong chiến lũy, kẻ quyền quý ngồi trong ô - tô, bọn đầu cơ công trái ở sở giao dịch,[5] đấng hào kiệt giữa chốn rừng sâu núi thẳm, vị giáo sư trên giảng đàn, nhà thể thao lúc hoàng hôn, tên kẻ trộm giữa đêm khuya... Tử Quân không có cạnh tôi. Cái dũng khí của nàng không còn nữa. Nàng chỉ biết buồn giận vì con Tùy, chỉ biết chăm chú vào việc cơm nước mà thôi. Nhưng kỳ quái làm sao, nàng chẳng gầy ốm đi tí nào cả...

Tôi bỗng thấy lạnh. Mấy cục than nửa tắt nửa đỏ trong lò sưởi cũng đã tàn. Đã đến giờ thư viện đóng cửa. Lại phải trở về ngõ Cát Triệu mà chịu đựng cái vẻ mặt lạnh như băng kia rồi đây. Gần đây thỉnh thoảng trên vẻ mặt đó cũng thoáng hiện lên một chút tình đầm ấm, nhưng như thế lại càng làm cho tôi thêm đau khổ. Còn nhớ có một đêm tôi chợt thấy đôi mắt Tử Quân bỗng ánh lên cái niềm nở ngây thơ thủa nọ đã mất từ lâu. Lúc ấy nàng vừa cười vừa nhắc lại cho tôi nghe cảnh ở hội quán. Cười nhưng lâu lâu cũng tỏ vẻ sợ sệt, hoảng hốt.

Tôi biết mấy lâu nay, đối với nàng, tôi còn lạnh lùng hơn nàng đối với tôi nữa, và thái độ đó của tôi đã làm nàng lo ngại. Cho nên tôi đành phải gượng nói, gượng cười để an ủi nàng chút ít. Nhưng nụ cười của tôi vừa hé nở trên môi, lời nói của tôi vừa buột ra khỏi miệng thì đã biến thành hư không. Cái hư không đó lập tức dội trở lại vào tai, vào mắt tôi, đưa đến cho tôi một sự mỉa mai cay đắng không thể chịu được.

Tử Quân hình như cũng cảm thấy thế. Từ đó nàng mất hẳn cái trầm tĩnh đến như tê dại trước kia. Mặc dù hết sức che giấu đi, nàng cũng thường thường để lộ sự lo ngại trên thần sắc. Nhưng đối với tôi nàng lại ôn tồn hơn trước nhiều.

Tôi muốn nói rõ những điều suy nghĩ cho nàng biết nhưng còn chưa dám, bởi vì khi định nói ra thì lại bắt gặp đôi mắt thơ ngây như con trẻ của nàng, thành thử tôi đành phải tạm thời tự tạo ra một vẻ mặt vui tươi gắng gượng. Nhưng điều đó lại lập tức trở thành một sự mỉa mai đối với tôi làm cho tôi không thể trấn tĩnh, lạnh nhạt được nữa.

Từ đó nàng lại bắt đầu ôn lại chuyện cũ và khảo tra tôi, bắt tôi phải bịa ra những câu trả lời yêu thương giả dối. Cái yêu thương thì tỏ cho nàng thấy, còn cái giả dối thì giữ lại trong lòng. Ngày lại ngày cái giả dối chất chứa, tràn ứ lên, làm cho tôi tắc thở. Trong lúc đau khổ, tôi thường nghĩ rằng: "Nói sự thật tất nhiên cần phải dũng cảm lắm. Giá thử không có cái dũng cảm đó, cứ yên thân trong sự giả dối thì con người ấy quyết không phải là người có thể tìm ra con đường sống. Chẳng những không tìm ra con đường sống mà ngay con người đó cũng chẳng còn tồn tại nữa".

Một buổi mai, trời lạnh lắm, Tử Quân có vẻ oán giận. Tôi chưa từng thấy nàng có vẻ mặt ấy bao giờ. Nhưng cũng có lẽ tôi tưởng tượng ra chăng? Lúc đó tôi hờn mát và cười thầm trong bụng. Cái tư tưởng nàng đã rèn luyện được và những lời lẽ sáng suốt can đảm của nàng rút cục lại cũng chỉ là hư không, mà nàng lại không cảm thấy cái hư không đó mới chết chứ! Đã lâu, nàng không hề cầm đến sách nữa. Nàng quên rằng mục đích thứ nhất của đời người là mưu sống. Và trên con đường mưu sống đó thì cần phải hoặc nắm tay cùng đi, hoặc một mình can đảm tiến lên. Còn như chỉ biết cầm lấy vạt áo người ta mà đi theo thì dù người kia là một chiến sĩ đi nữa, cũng khó mà chiến đấu cho được. Rút cục cả hai người sẽ bị tiêu diệt.

Tôi nhận thấy chúng tôi có lìa nhau ra thì mới có thể có một nguồn hy vọng mới được. Nàng phải cương quyết bỏ tay ra... Tôi bỗng nghĩ nàng có thể chết đi cho rảnh, nhưng tôi liền tự trách mình và lấy làm hối hận. May mà là buổi mai, nhiều thì giờ nên tôi có thể đem hết sự thực của tôi nói cho nàng nghe. Chúng tôi có thể mở được con đường mới hay không là ở một chuyện này!

Ngồi nói chuyện với nàng, tôi cố ý gợi lại quãng đời quá khứ của chúng tôi, bàn về văn chương và do đó đề cập đến các nhà văn ngoại quốc, đến tác phẩm của họ nhưNora, Người đàn bà của biển cả.[6]Tôi ca tụng đức tính quả quyết của Nora[7]... Cũng vẫn là những lời năm ngoái tôi đã nói với nàng ở gian phòng đổ nát của hội quán, có điều bây giờ thì trở thành những lời trống rỗng, từ miệng của tôi nói ra rồi lại truyền vào tai tôi. Tôi luôn luôn có cảm tưởng có một em bé nào tinh nghịch ẩn nấp sau lưng tôi và lặp lại những lời tôi nói một cách ác ý, cay độc.

Nàng vẫn cứ vừa lắng nghe vừa gật đầu, sau thì trở nên trầm mặc. Còn tôi cũng chắp chắp nối nối cố nói cho hết, đến cái dư âm những lời tôi nói cũng mất đi trong hư không.

- Phải đấy! - Nàng lại im lặng một lát rồi nói tiếp - Nhưng mà, anh Quyên Sinh này, em thấy độ này anh khác trước nhiều, có phải thế không? Anh... anh cứ nói thật với em!

Tôi cảm thấy tựa hồ như nàng vừa giáng cho tôi một gậy vào đầu, nhưng lập tức tôi trấn tĩnh được rồi nói rõ ý kiến và chủ trương của tôi, tức là mở một con đường mới, làm lại một cuộc đời mới để cho cả hai cùng khỏi bị tiêu diệt.

Cuối cùng tôi nói thêm mấy câu, giọng hết sức quả quyết:

- Huống chi em đã có thể không cần phải đắn đo, cứ dũng cảm mà bước tới. Em muốn anh phải nói thật. Đúng thế. Người ta không nên giả dối. Anh cứ nói thật ra, bởi vì... bởi vì anh không yêu em nữa. Nhưng như thế càng hay cho em, bởi vì như thế em có thể đi tìm việc mà làm, không phải bận lòng gì cả.

Tôi đang đoán thế nào cũng sẽ có một biến cố gì xẩy đến. Nhưng không, nàng chỉ ngồi im lặng. Mặt nàng bỗng tái dần rồi vàng ệch ra như người chết, rồi trong nháy mắt lại trở lại bình thường, cặp mắt nàng lại ánh lên một niềm trong trắng, ngây thơ. Nàng nhìn quanh quẩn như đứa trẻ đói khát tìm người mẹ hiền, nhưng nàng chỉ nhìn trong không trung, cố tránh mắt tôi, vẻ sợ hãi lắm.

Tôi không thể ngồi nhìn quang cảnh đó mãi. May mà là buổi sáng, nên tôi liền chạy ra Thư viện bình dân, không kể mưa ướt gió lạnh.

Ở thư viện, thấy có tờNgười bạn của tự do. Hai bài văn ngắn của tôi đã được đăng rồi. Tôi rùng mình một cái hình như vừa tiếp được một luồng sinh khí. Tôi nghĩ bụng: Con đường sống hãy còn nhiều... nhưng bây giờ, chỉ mới được chừng ấy, chưa thấm vào đâu.

Tôi bắt đầu tìm gặp những người quen lâu nay không hề lui tới. Nhưng cũng chỉ đến một vài lần thôi. Nhà họ tất nhiên vẫn ấm cúng nhưng tôi cảm thấy lạnh buốt thấu xương. Đêm về, tôi nằm co ro trong căn nhà của tôi còn lạnh hơn là băng giá nữa. Nỗi lạnh lẽo buốt như kim châm đó thấm tận tâm hồn tôi, cứ làm cho tôi đau đớn, tê dại đi. "Con đường sống còn nhiều... Mình cũng chưa quên sử dụng đôi cánh của mình", tôi nghĩ thế. Tôi bỗng lại mong cho nàng chết đi, nhưng lập tức lại tự trách mình và lấy làm hối hận.

Ngồi trong Thư viện bình dân, lâu lâu tôi lại nhìn thấy con đường sống mới lóe lên, thoáng qua trước mắt. Tôi tưởng tượng thấy Tử Quân đã nhìn thẳng vào sự thật một cách cam đảm, kiên quyết đi ra khỏi căn nhà giá lạnh này, và không có vẻ oán giận chút nào cả. Còn tôi thì nhẹ nhàng như một đám mây bay bồng bềnh giữa không trung, trên nền trời xanh biết, dưới là núi thẳm biển lớn, nhà rộng lầu cao, chiến trường, xe ô - tô, giao dịch, biệt thự, thành phố náo nhiệt, sáng trưng, đêm tối mịt mùng...

Và, đúng thế, tôi tự cảm thấy cuộc đời với cái bộ mặt mới mẻ đó nhất định sẽ đến.

Thế rồi chúng tôi cũng sống qua những ngày đông cực kỳ khó chịu của Bắc Kinh. Chúng tôi khác nào con chuồn chuồn rơi vào tay đứa bé ác nghịch: nó buộc vào một sợi chỉ nhỏ rồi đưa ra đùa bỡn, hành hạ đủ cách; may một điều là chưa chết, nhưng rút cục cũng đã nằm lăn kềnh trên mặt đất rồi sớm muộn cũng sẽ toi mạng.

Viết cho ông chủ bútNgười bạn của tự dokể có ba bức thư mới được trả lời. Trong thư trả lời chỉ có hai phiếu mua sách, một cái giá trị hai hào, một cái ba hào. Thế mà chỉ tính mỗi một việc viết thư giục trả tiền nhuận bút cũng đã mất đứt đi chín xu rồi, nhịn đói một ngày mà cũng chẳng được cái gì hết.

Nhưng cái việc tôi dự cảm thế nào cũng đến thì bây giờ đã đến.

Nó xẩy ra khoảng cuối đông, đầu xuân. Bấy giờ gió không còn lạnh lắm nữa nên tôi cũng bỏ nhà đi vơ vẩn ở ngoài lâu hơn trước, mỗi khi trở về, trời đã sẩm tối. Một hôm, cũng vào lúc trời sẩm tối như vậy, theo thường lệ, tôi uể oải về nhà. Nhìn thấy cổng đã lại buồn thiu, bước càng chậm. Nhưng cuối cùng rồi cũng đi vào. Không có đèn đóm gì cả. Tôi sờ được bao diêm đánh lên thì thấy nhà vắng tanh vắng ngắt.

Đang sửng sốt thì bà chủ nhà đứng ngoài cửa sổ gọi tôi ra.

- Hôm nay ông thân sinh chị ấy đến đây đưa chị ấy về quê rồi.

Bà ta chỉ nói vỏn vẹn có thế.

Hình như đó lại là một việc tôi không ngờ trước nên tôi có cảm tưởng như bị ai đánh vào gáy. Tôi đứng thừ ra, không nói được nửa lời.

Một lát sau, tôi mới hỏi được một câu:

- Nhà tôi về rồi sao?

- Vâng, chị ấy về rồi.

- Thế nhà tôi... nhà tôi có dặn gì không?

- Chị ấy chẳng nói gì hết. Chị dặn khi nào ông về thì nhờ nói lại với ông là chị ấy đã về quê, thế thôi.

Tôi không tin. Nhưng sao nhà lại vắng tanh vắng ngắt đi như thế này! Tôi nhìn khắp xung quanh, tìm Tử Quân. Chỉ thấy mấy cái bàn ghế cũ nát, ảm đạm và cũng đơn sơ lắm, không thể che giấu được một người nào hay một vật gì. Tôi xoay ra nghĩ thử đi tìm bức thư hay mảnh giấy nào nàng có thể để lại chăng. Cũng không có. Chỉ có muối, ớt khô, bột mì, nửa bắp cải để dồn vào một chỗ, bên cạnh còn mấy chục đồng xu. Đó là tất cả những cái nuôi sống chúng tôi, bây giờ nàng trịnh trọng để lại cho một mình tôi, và không nói ra nhưng có ý bảo tôi là sẽ nhờ vào đó mà cầm giữ sự sống cho được lâu dài hơn.

Có cảm tưởng như tất cả những sự vật xung quanh mình dồn ép lại, tôi chạy ra đứng giữa sân. Trời tối om. Chỉ cái khung cửa sổ dán giấy ở gian nhà giữa là có ánh đèn. Tôi trông thấy bóng hai vợ chồng chủ nhà đang đũa giỡn với đứa con. Lòng tôi lắng xuống và dần dần thấy hiện lên thấp thoáng con đường thoát ra khỏi cảnh nặng nề, khó thở này: núi sâu, đầm rộng, sở giao dịch, bữa tiệc linh đình dưới ánh đèn điện, hầm hố, đêm khuya mịt mùng, một mũi dao nhọn đâm phặt một cái, những bước chân lặng lẽ...

Trong chốc lát, lòng tôi nhẹ nhõm, khoan khoái. Tôi nghĩ đến tiền đi đường, rồi thở phào.

Tôi nằm nhắm mắt, thấy hiện lên cái tiền đồ dự đoán trước. Chưa đến nửa năm mà đã duyệt qua hết. Trong bóng tối, tôi phảng phất thấy một đống thức ăn rồi lại thấy Tử Quân, mặt vàng sạm, giương đôi mắt ngây thơ nhìn tôi, vẻ cầu khẩn. Tôi định thần lại thì biến đâu mất cả.

Nhưng lòng tôi lại thấy nặng trĩu. Tại sao tôi không rán chịu thêm ít ngày nữa mà đã vội vàng nói thẳng sự thực với nàng như thế? Bây giờ nàng biết rằng từ nay về sau, nàng chỉ còn việc là chịu đựng cái uy nghiêm gay gắt như mặt trời của ông bố -người chủ nợ của con cái - và cái khinh bỉ lạnh lùng, lạnh lùng hơn cả băng giá, của người xung quanh. Ngoài ra là hư không tất cả. Mang cái gánh hư không nặng trĩu đó trên vai mà bước đi trên cái gọi là đường đời, trước cái uy nghiêm của ông bố và sự khinh bỉ của người xung quanh, hỏi còn gì ái ngại hơn! Huống chi cuối con đường ấy lại chẳng qua chỉ là một nấm mồ, một nấm mồ mà đến một tấm bia cũng không có nốt.

Đáng lý ra tôi không nên đem sự thật nói với Tử Quân. Hai chúng tôi đã từng có lần yêu nhau thì bây giờ tôi nên nói dối dá với nàng là hơn. Nếu quả sự thật là đáng quý thì đâu đến nỗi nàng phải chịu mang cái gánh hư không nặng nề đó. Sự dối dá tất nhiên cũng là hư không, có điều cuối cùng, quá lắm thì cũng chỉ nặng nề đến như thế là cùng.

Tôi tưởng đem sự thật nói cho nàng rõ thì nàng sẽ không còn phải lo ngại gì nữa, cứ kiên quyết, mạnh dạn bước tới như hồi chúng tôi sắp sửa ở chung. Nhưng có lẽ tôi nhầm rồi. Hồi đó sở dĩ nàng dũng cảm được, bất chấp được tất cả chính là vì yêu tôi.

Tôi đã không có cái dũng cảm mang cái gánh nặng hư không đó nên mới đem cái gánh nặng sự thật đặt lên vai nàng. Bây giờ sau khi yêu tôi thì nàng phải gánh cái gánh đó, bước đi trên cái gọi là đường đời, trước sự uy nghiêm của ông bố và sự khinh bỉ lạnh lùng của người xung quanh.

Tôi lại nghĩ đến việc nàng nên chết đi... Tôi thấy rõ tôi là một thằng khiếp nhược, phải gạt ra khỏi hàng ngũ những kẻ mạnh, dù họ là những người chân thật hay giả dối. Thế mà tự thủy chì chung, nàng vẫn mong mỏi cho tôi cầm giữ được sự sống lâu dài hơn.

Tôi phải rời cái ngõ Cát Triệu này. Ở đây vắng vẻ, trống trải quá. Tôi nghĩ bụng, có lẽ quý hồ rời khỏi nơi này thì tôi lại có cảm tưởng như Tử Quân còn ở cạnh tôi, hay ít nhất thì cũng có cảm tưởng như nàng còn ở trong thành phố này. Và một ngày kia nàng sẽ thình lình đến thăm tôi, giống như hồi tôi còn ở hội quán.

Nhưng bao nhiêu lời nhờ cậy, bao nhiêu thư đi từ về đều không có hiệu quả gì cả. Cực chẳng đã tôi đành phải tìm đến một bậc thế giao mà lâu nay tôi không hề lai vãng. Ông này là bạn đồng song với ông bác tôi hồi còn nhỏ và là một vị bạt cống[8] nổi tiếng về chỗ thông hiểu kinh truyện, lên ở Bắc Kinh đã lâu, đường giao du cũng rất rộng.

Chừng vì quần áo tôi lùi xùi quá nên vừa bước chân vào cửa thì anh gác cổng đã trợn trắng con mắt lên mà nhìn.

Nói khó dễ mãi mới vào gặp được. Ông ta còn nhận ra tôi, có điều lạnh nhạt lắm. Chuyện của chúng tôi, ông ta biết cả. Sau khi nghe tôi nói là nhờ tìm cho tôi một việc ở một nơi nào khác cũng được, ông ta nói vẻ thờ ơ:

- Tất nhiên anh không thể ở đây được nữa. Nhưng đi đâu bây giờ? Khó khăn lắm. À... gì đây! ... Cứ gọi là bạn đi... người bạn của anh, cô Tử Quân ấy mà? Chết rồi, anh biết rồi chứ!

Tôi sửng sốt không nói lên lời, mãi mới hỏi được một câu:

- Thật không ạ?

- Ha, ha. Tất nhiên là thật rồi. Chú Vương Thăng ở nhà đây là người làng cô ta.

- Nhưng mà không biết chết như thế nào?

- Ai biết được. Chỉ biết chết rồi, thế thôi.

Tôi không nhớ rõ tôi dã từ giã ông ta như thế nào để lui về nhà trọ nữa. Tôi biết ông ta không nói dối, và như thế là Tử Quân sẽ không bao giờ trở lại đây như thể năm ngoái. Nàng tuy muốn mang cái gánh hư không nặng trĩu trên vai mà bước đi trong cái gọi là con đường đời, trước sự uy nghiêm của ông bố và sự khinh bỉ lạnh lùng của người xung quanh, nhưng cũng không thể được. Số phận nàng đã định cho nàng phải chết trong cái cõi người không có tình yêu - tức là cái sự thật tôi đã nói cho nàng rõ.

Tất nhiên tôi không thể ở lại đây được nữa. Nhưng "đi đâu bây giờ?".

Xung quanh tôi là một sự hư không rộng lớn cộng thêm cái tĩnh mịch của sự chết chóc. Tôi phảng phất như được nhìn thấy cái bóng đen bao trùm lấy kẻ phải chết trước mắt những người không có tình thương và lại còn nghe được tất cả những tiếng vật vã đau đớn tuyệt vọng của kẻ đó nữa.

Tôi vẫn chờ đợi một cái gì mới, một cái gì không có tên và không ngờ trước được. Nhưng ngày lại ngày, chỉ có sự quạnh hiu của cái chết mà thôi.

Tôi không hay đi lang thang như trước nữa, hết ngồi lại nằm trong cái hư không rộng lớn, mặc cho sự quạnh hiu của cái cái chết đục khoét tâm hồn tôi. Nhưng chính sự quạnh hiu của cái chết cũng có khi run sợ thụt lùi và ẩn náu đi, và trong khoảnh khắc đó thì thoáng hiện lên mối kỳ vọng mới, không có tên và không ngờ trước được.

Một buổi mai âm u, mặt trời không làm sao thoát ra khỏi đám mây dày đặc bao bọc xung quanh; cả đến không khí cũng ra bề mệt mỏi. Bỗng nghe có tiếng chân người bước nhè nhẹ nhưng vội vã và tiếng thở đằng mũi xì xì... Tôi giương mắt nhìn. Nhìn qua một lượt, nhà vẫn trống không. Nhưng rồi tình cờ nhìn xuống đất thì thấy một con vật nho nhỏ, gầy còm, chết dở, đất bụi bám đầy mình, đang quanh quẩn ở đấy...

Tôi nhìn kỹ. Quả tim tôi bỗng ngừng lại. Rồi tôi nhảy vùng dậy.

Té ra là con Tùy! Nó lại trở về.

Tôi rời khỏi ngõ Cát Triệu, cũng chẳng phải chỉ vì sự khinh miệt của ông bà chủ nhà và người ở gái, và phần lớn là vì con Tùy này. Nhưng "đi đâu bây giờ"? Tất nhiên con đường sống mới đang còn nhiều, tôi biết sơ qua như thế, và đôi khi cũng trông thấy thấp thoáng, hình như gần trước mắt tôi thôi. Nhưng làm thế nào mà bước được bước thứ nhất để đi đến đó thì tôi chưa biết.

Suy nghĩ và đắn đo mãi, tôi thấy chỉ có hội quán là chỗ còn có thể dung thân được. Vẫn cái gian phòng đổ nát ấy, cái tấm phản ấy, gốc hòe gần chết khô ấy, cây tử đằng ấy, nhưng cái làm cho tôi hi vọng, sung sướng yêu đương và sống được lúc bấy giờ nay không còn nữa. Chỉ trơ lại cái hư không mà tôi đã đánh đổi bằng sự thật.

Con đường sống mới vẫn còn nhiều. Tôi cần phải tiến vào vì tôi còn sống. Nhưng tôi vẫn chưa biết làm thế nào để bước được bước thứ nhất. Có lúc tôi phảng phất thấy con đường đó như con rắn dài, màu xám, đang trườn về phía tôi rất nhanh. Tôi cứ đứng chờ, nhưng gần thấy đến nơi thì bỗng lại mất hút đi trong bóng tối.

Đêm đầu xuân vẫn còn dài dằng dặc. Ngồi thừ ra một hồi lâu, bỗng sực nhớ đến đám ma ở đầu phố buổi sáng. Đi đầu là một đoàn người giấy, ngựa giấy, theo sau là những người mà tiếng khóc nghe như tiếng hát. Bây giờ tôi mới biết họ thông minh thật. Nhẹ nhàng đơn giản biết bao nhiêu!

Nhưng đám ma của Tử Quân cũng lại hiện lên trước mắt tôi. Nàng một mình mang cái gánh nặng hư không nặng trĩu, bước đi trên con đường dài, màu xám, nhưng bỗng lại mất hút đi trong sự uy nghiêm và trong sự khinh bỉ xung quanh.

Tôi muốn có cái gọi là linh hồn và có cái gọi là địa ngục thật sự. Lúc đó dù phải đi giữa ngọn gió dữ gầm vang, tôi cũng quyết tìm cho được Tử Quân, nói cho nàng biết hết lòng hối hận, nỗi đau thương của tôi và xin nàng tha thứ cho tôi. Không nữa thì tôi sẽ cầu cho ngọn lửa độc của địa ngục bao vây lấy tôi thiêu cho hết lòng hối hận, nỗi đau thương của tôi đi.

Trong cơn gió dữ, lửa độc, tôi sẽ ôm lấy nàng, van lạy nàng khoan dung cho tôi, hoặc làm cho nàng thỏa nguyện...

Nhưng như thế lại càng hư không hơn con đường sống mới. Hiện bây giờ, trước mắt chỉ có cái đêm đầu xuân dài dằng dặc. Còn sống thì nhất định tôi phải nhằm con đường sống mà tiến lên. Và cái bước thứ nhất... Chẳng qua lại là những dòng chữ này ghi lòng hối hận, nỗi đau thương của tôi, vì hương hồn của Tử Quân và vì chúng tôi.

Tôi vẫn chỉ có tiếng khóc, nghe như tiếng hát để tiễn đưa Tử Quân lần cuối cùng, tiễn đưa vào Quên lãng.

Tôi cần phải quên, chỉ nghĩ đến mình tôi nữa thôi, và cần phải quên cả việc tiễn đưa Tử Quân vào trong Quên lãng.

Tôi cần phải bước cái bước thứ nhất vào con đường sống. Tôi cần phải đem sự thật giấu kín trong vết thương lòng, lặng lẽ và tiến lên, lấy sự dối trá và sự lãng quên làm kẻ đưa đường chỉ lối.

Viết xong ngày 21 tháng 10 năm 1925

❀ ❀ ❀

[1] Ibsen (1828-1906), một nhà viết kịch nổi tiếng người Na Uy. Tagore (1861- 1941), một nhà thơ và nhà triết học người Ấn Độ. P.S Shelley (1792- 1822), một nhà thơ người Anh.

[2] Lấy ở câu: Phụ nhân nan hóa, nghĩa là người phụ nữ thì khó giáo dục. Tư tưởng Khổng Mạnh.

[3] T.H Huxley (1825-1895), một nhà sinh vật học người Anh và cũng là kẻ tuyên truyền cho chủ nghĩa Darwin… "Vị trí của loài người trong vũ trụ" là tên một tác phẩm nổi tiếng của ông.

[4] Theo thói tục, cột nhánh rơm như thế vào cổ chó là có ý để bán.

[5] Sở giao dịch là nơi buôn bán công trái ở các nước tư bản (Bourse).

[6] Nora và Người đàn bà của biển cả là hai vở kịch nổi tiếng của Ibsen, bàn về vấn đề phụ nữ.

[7] Nora ở trong gia đình thấy mình chỉ là con búp bê của chồng, và con cái chỉ là búp bê của chính mình, nên bỏ nhà ra đi. Do đó, vở Nora còn có tên là Gia đình búp bê.

[8] Trong chế độ khoa cử triều Thanh cứ sáu năm một lần (về sau đổi là 12 năm) thì chọn những người tú tài "văn hạnh kiêm ưu" đưa lên kinh sư ứng thi. Những người đó gọi là bạt cống, tức là một loại cống sinh.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.