Cố Hương - Tập Truyện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 25 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Trong Quán Rượu

❊ ❊ ❊

Tôi từ miền Bắc đi về miền Đông -nam, nhân tiện ghé thăm quê nhà, nên mới qua thành S. Thành này cách quê tôi chừng ba mươi dặm đường, ngồi thuyền non nửa ngày là về tới nơi. Tôi đã từng dạy một năm trời trong một trường học ở đây. Giữa mùa đông, tuyết lại vừa xuống, nên phong cảnh thê lương lắm. Lòng đã bần thần, lại thêm nhớ cảnh cũ người xưa, nên tôi tạm dừng chân ngồi nghỉ ở khách sạnLạc Tư. Khách sạn này trước kia chưa có. Thành vốn nhỏ, đi một lát đã đến khắp các nhà mấy người đồng sự ngày trước mà mình định gặp, nhưng chẳng gặp ai cả. Không biết họ tản mát đi đâu hết rồi. Đi qua trường học, trường học cũng đã đổi tên, mà quanh cảnh cũng khác xưa. Tôi cảm thấy lạc lõng đi. Không đến hai tiếng đồng hồ, tôi đã thấy không còn hứng thú nữa, và hối hận mình cũng hay đa sự, nán ở lại làm gì.

Cái khách sạn tôi trọ chỉ cho thuê phòng, chứ không bán cái ăn. Cơm nước phải mua nơi khác đưa tới, nhưng chẳng ngon lành gì cả, nhai như nhai đất. Trước cửa sổ có một bức tường chắn ngang, loang lổ vết nước mưa, rêu bám vào đã khô héo. Nền trời màu chì, nhờ nhờ, hết sức u ám. Tuyết lại lác đác rơi. Bữa cơm trưa ăn không no, vả lại không có gì tiêu khiển, tất nhiên tôi nhớ đến cái quán rượu nhỏ ngày trước rất quen, tên làNhất Thạch Cư, cách khách sạn kể cũng không bao xa. Thế là tôi khóa phòng lại, ra phố đi tìm. Thực ra chẳng phải vì thèm rượu, mà chỉ vì muốn tránh cái cảnh cô liêu nơi đất khách. QuánNhất Thạch Cưvẫn còn đấy, mặt ngoài vẫn chật hẹp ẩm thấp, tối tăm và tấm biển hỏng nát vẫn y như xưa. Nhưng từ ông chủ cho tới người hầu sáng, chẳng quen ai hết. Trong quánNhất Thạch Cưnày tôi hoàn toàn là một người khách lạ. Nhưng tôi vẫn cứ bước lên cái thang gác quen thuộc ở góc nhà mà lên thẳng cái gác xép. Ở đây vẫn y nguyên năm cái bàn nhỏ như trước, độc mỗi một cái cửa sổ sau là có khác; trước kia song gỗ, nay thì đã lắp kính rồi.

- Cho một cân rượu Thiệu.[1] Còn thức nhắm thì cho mười khuông đậu rắn. Tương ớt nhiều nhiều đấy nhé!

Tôi vừa dặn anh hầu sáng đang theo tôi lên gác, vừa đi lại phía cửa sổ sau, ngồi vào cái bàn kê ngay đấy. Gác vắng tanh vắng ngắt, tôi tha hồ chọn chỗ ngồi tốt nhất, có thể nhìn xuống mảnh vườn hoang phía dưới. Mảnh vườn này hình như không phải của quánNhất Thạch Cư. Trước kia tôi cũng đã nhiều lần ngồi đây nhòm xuống, có lúc cũng gặp ngày tuyết như thế này. Nhưng bây giờ mắt tôi đã quen với cảnh trí miền Bắc, nên nhìn thấy lạ lắm. Tuyết xuống mà mấy gốc mai già, hoa vẫn nở đầy, hình như bất chấp cả ngày đông tháng giá. Cạnh cái đình đổ nát, còn có một cây sơn trà, giữa nền lá xanh sẫm, nổi bật lên mươi cánh hoa đỏ chói, xung quanh là tuyết trắng, nên trông đỏ như những ngọn lửa. Nhìn hoa mà tưởng hoa như có vẻ phẫn nộ, ngạo mạn, khinh thị người du khách từ phương xa đến đây thưởng thức. Lúc ấy tôi mới chợt nhớ ra rằng tuyết ở miền này ướt đẫm, rơi vào đâu là bám chặt vào đó, mà lại sáng long lanh như thủy tinh, khác hẳn với tuyết miền Bắc, khô như phấn bột gió nổi lên là cứ bay vù trời như khói tỏa.

- Thưa ông, rượu...

Người hầu sáng nói uể oải, rồi đặt chén, đũa, hồ rượu và bát đĩa xuống bàn. Tôi quay lại, sắp đặt các thứ, rồi rót rượu ra. Nghĩ mình không phải quê miền Bắc, mà về miền Nam, thì cũng chỉ như một người khách thôi, nên dù tuyết miền Bắc khô và bay vũ như bụi phấn, hay là tuyết miền Nam ướt đẫm và bám chặt vào cỏ cây, tôi cũng thấy đều chẳng có quan hệ gì với mình cả. Tôi hơn buồn, nhưng lại uống một ngụm rượu rất khoái chí. Rượu rất ngon, đậu cũng rán thật khéo, chỉ tiếc món tương ớt không mùi mè gì, người thành S vốn không thích ăn cay.

Có lẽ vì đang giữa buổi chiều chăng, thành ra nói là quán rượu, nhưng lại chẳng có vẻ gì là quán rượu cả. Tôi đã cạn ba chén rồi, mà ngoài tôi ra, bốn chiếc bàn kia vẫn bỏ trống. Tôi nhìn xuống mảnh vườn hoang, dần dần cảm thấy cô đơn, nhưng lại muốn đừng có ai tới nữa. Thỉnh thoảng nghe tiếng bước chân lên thang gác là tự dưng tôi lại buồn, đến khi thấy là anh hầu sáng thì mới yên tâm. Thế là lại uống thêm hai chén nữa.

"Lần này chắc là khách!" tôi nghĩ bụng như thế, vì nghe tiếng bước chân khoan thai hơn bước chân anh hầu sáng. Xem chừng người đó đã lên hết thang gác thì tôi có vẻ như sợ sệt, ngửng đầu lên nhìn cái ông khách cũng đến đây uống rượu như mình và chẳng liên quan gì đến mình cả. Nhưng tức thì, tôi hết sức ngạc nhiên, đứng dậy. Tôi không ngờ lại được gặp ở đây một người bạn, nếu quả anh ta bây giờ vẫn cho phép tôi gọi là bạn. Người vừa đi lên đó rõ ràng là một người bạn đồng song của tôi và cũng là người bạn đồng nghiệp của tôi, hồi tôi còn là một nhà giáo. Diện mạo tuy có hơi đổi khác, nhưng thấy là nhận ra ngay, chỉ có cử chỉ thì chậm chạp vô cùng, thật chẳng giống chút nào với anh Lã Vĩ Phủ nhanh nhẹn, hoạt bát ngày trước cả.

- À, anh Vĩ Phủ! Anh đấy à? Tôi thật không ngờ lại được gặp anh ở đây!

- A, a! Anh? Tôi cũng không ngờ...

Tôi liền mời anh cùng ngồi. Anh có ý ngần ngừ một chút rồi mới ngồi xuống. Lúc đầu, tôi rất lấy làm lạ, sau đó thì hơi buồn, không làm sao vui lên được. Nhìn kỹ thì thấy mái tóc, bộ râu của anh vẫn bờm xờm như độ nọ, khuôn mặt vẫn dài dài và xanh xao, có điều gầy tóp đi. Trông anh có vẻ rất trầm tính, nói là tiều tụy thì đúng hơn. Dưới cặp lông mày vừa rậm vừa đen, mắt anh không còn gì là tinh anh nữa. Nhưng sau khi anh chậm rãi nhìn xung quanh, rồi nhìn xuống mảnh vườn hoang thì bất chợt tôi lại thấy mắt anh sáng hẳn lên như hồi còn đi học.

Tôi vui vẻ nói, nhưng không được tự nhiên lắm:

- Chúng ta xa nhau độ ấy, có đến mười năm rồi nhỉ? Tôi vẫn biết anh ở Tế Nam nhưng, quả thực lười lắm, chẳng thư từ gì cho anh cả.

- Tôi cũng thế. Nhưng bây giờ tôi lên Thái Nguyên rồi. Đã hơn hai năm nay. Ở với bà cụ tôi. Lần về đón bà cụ, thì được tin anh đã dọn đi, không còn gì ở đây nữa.

Tôi hỏi:

- Thế, anh lên Thái Nguyên làm gì trên ấy?

- Gõ đầu trẻ, ở nhà một người đồng hương.

- Còn trước kia?

- Trước kia à? - Anh ta móc trong túi áo một điếu thuốc, châm lửa, ngậm vào miệng hút, rồi nhìn làn khói bay, nói một cách trầm tư- Cũng là những việc chẳng ra gì, coi như không làm gì cả.

Anh ta hỏi tình cảnh của tôi sau ngày từ biệt nhau. Tôi vừa kể cho anh nghe qua loa, vừa bảo người hầu sáng mang chén, đũa ra, uống nốt chỗ rượu này đã rồi hãy lấy thêm hai cân nữa. Trong lúc đó thì gọi thêm thức nhắm. Trước kia, chúng tôi rất thật tình với nhau, nhưng bây giờ lại đâm khách khí lôi thôi, cuối cùng, chẳng biết ai gọi và gọi món nào cả. Thành ra người hầu sáng kê ra mà chỉ định lấy bốn món, một đĩa đậu hồi hương, một đĩa thịt đông, một đĩa đậu phụ rán và một đĩa cá khô.

Anh ta tay cầm điếu thuốc, tay bưng chén rượu, nhếch miệng tươi cười gượng, nói:

- Tôi vừa trở lại đây, sực nghĩ tới mình mà tôi buồn cười. Hồi còn bé, nhìn thấy con ong hay con ruồi đang đậu, hễ có cái gì làm kinh động là bay vù đi; bay quành được một vòng bé tị, lại trở lại đậu vào chỗ cũ, mình cho là buồn cười và đáng thương hại. Không ngờ chính mình bây giờ cũng như chúng nó; vừa bay được một vòng bé tị, đã bay trở về. Mà không ngờ anh cũng thế. Anh không thể bay xa hơn chút nữa hay sao?

Tôi cũng nhếch miệng cười gượng, nói:

- Khó nói quá. Có lẽ cũng chỉ bay quanh được một vòng nho nhỏ thôi. Nhưng anh thì vì sao mà bay trở lại?

- Cũng là vì một việc hết sức chán ngắt. Anh ta uống một hơi cạn chén, rít mấy khói thuốc, mắt hơi mở to- hết sức chán ngắt. Nhưng anh với tôi thì ta cứ nói.

Người hầu sáng đem thêm rượu, thức ăn lên bày một bàn đầy. Có khói thuốc lá và hơi nóng đậu rán, gian gác như có vẻ rộn ràng lên. Ngoài trời, tuyết cũng rơi càng dày đặc.

Anh ta nói tiếp:

- Chắc anh cũng biết, trước đây tôi có một đứa em trai, chết lúc lên ba, chôn ở quê đây. Nó hình dáng như thế nào, tôi cũng không nhớ rõ. Nhưng nghe bà cụ nói thì nó dễ thương lắm và rất mến tôi. Cho đến bây giờ, mỗi lần bà cụ nhắc đến thì nước mắt lại muốn trào ra. Mùa xuân năm nay, một người anh họ gửi thư nói cho biết là nấm mộ của nó ở gần sông bị nước xói lở, chẳng bao lâu nữa, e không còn, phải liệu ngay từ bây giờ. Bà cụ được tin, sốt ruột lắm, cơ hồ mấy đêm liền không ngủ. Bà cụ cũng biết chữ, nên xem thư lấy. Nhưng tôi biết làm thế nào? Không có tiền, không có thì giờ, lúc đó tôic hẳng nghĩ ra cách gì cả.

Lần nữa đến nay, nhân dịp nghỉ tết rỗi rãi, tôi mới về được đến đây mà dời mộ cho nó- Anh ta lại uống thêm một chén rượu nữa, nhìn ra ngoài cửa sổ rồi nói tiếp - Ở trên kia làm gì được thế này? Hoa nở trong tuyết, tuyết xuống mà hoa không bị giá... Thế là hôm kia, tôi mua một chiếc tiểu ở ngoài phố - vì tôi đoán chiếc quan tài chôn ở dưới đất đã mục đi rồi - đem theo bông và chăn nệm. Thuê bốn người về làng dời mộ. Lúc đó, tôi bỗng rất hứng thú. Muốn đào ngay nấm mộ lên, muốn thấy ngay hài cốt của đứa em từng thương mến tôi. Những việc như thế, đời tôi chưa từng trải qua bao giờ cả. Đến nghĩa địa, quả nhiên thấy con sông đã lở dần, cách nấm mộ không đầy hai mươi thước nữa. Tội nghiệp, hai năm nay không ai đắp điếm cho, bây giờ bằng xuống rồi. Tôi đứng giữa mưa tuyết, chỉ nấm mộ và bảo mấy người làm thuê một cách cương quyết: "Đào lên!". Tôi vốn là người tầm thường, nhưng lúc này, tôi cảm thấy giọng nói của tôi có vẻ khác thường. Cái mệnh lệnh đó của tôi cũng là cái mệnh lệnh oai nhất trong đời tôi. Nhưng mấy người kia lại không cho là quái lạ, liền bắt tay đào. Chờ đào đến huyệt, tôi bước lại xem. Quả nhiên, quan tài sắp mục hết rồi, chỉ còn lại một ít miếng gỗ và một đống vụn. Tim tôi đập mạnh. Tôi tự tay bốc lên, rất cẩn thận, cốt nhìn mặt đứa em cho được. Nhưng không ngờ, chăn nệm, quần áo, xương cốt, chẳng còn gì hết. Tôi nghĩ bụng, chắc là tiêu đi hết rồi chăng. Thường nghe nói tóc lâu tiêu nhất, cho nên nghi là còn tóc. Tôi cúi xuống nhìn vào đống bùn, chỗ mà cái gối kê đầu trước kia phải đặt đấy. Cũng không có. Thật chẳng còn gì nữa.

Tôi bỗng thấy mắt anh bạn tôi hơi đỏ lên, nhưng biết ngay là vì hơi men. Anh ta không gắp thức nhắm mấy, chỉ uống liên tiếp, uống một hơi hết hơn cân rượu, rồi tinh thần, cử chỉ xem hoạt bát lên, gần giống được như anh Lã Vĩ Phủ tôi biết ngày trước. Tôi gọi người hầu sáng lấy thêm hai cân rượu nữa, rồi quay lại, cầm chén trong tay, nhìn anh, im lặng nghe anh kể tiếp:

- Thật ra, như thề này thì bất tất phải dời làm gì? Đắp đất bằng lại, bán cái tiểu đi là xong chuyện. Đem bán tiểu là một việc hết sức kỳ, nhưng quý hồ giá thật rẻ thì cái cửa hàng bán cho tôi chắc cũng lấy lại thôi. Tối thiểu cũng vớt vát được ít tiền uống rượu. Nhưng tôi không làm thế, cứ trải chăn nệm ra, lấy bông bọc nắm bùn nơi em tôi đã nằm xuống, gói lại, bỏ vào chiếc tiểu mới, bảo khiêng về chỗ đặt ngôi mộ thầy tôi, chôn kề đấy. Vì còn phải xây lăng nữa, nên hôm qua còn bận hơn nửa ngày coi thợ làm. Nhưng thế này cũng cho là xong đi được một việc, có thể về nói dối nói dá với bà cụ, cho bà cụ yên lòng. Ơ! Ơ! Anh nhìn gì tôi mà nhìn như thế? Chắc anh lấy làm lạ, so với ngày trước, tôi thay đổi quá nhiều, có phải không? Đúng thế đấy. Tôi còn nhớ lúc chúng mình rủ nhau đến Thành hoàng nhổ râu các ông tướng ở đấy, rồi bàn hết ngày này đến ngày khác phương pháp cải cách nước Trung Quốc, hăng đến nỗi có thể đánh nhau được. Nhưng bây giờ thì tôi ra như thế này đấy. Cái gì cũng muốn qua loa xong chuyện thì thôi. Có lúc chính tôi cũng nghĩ rằng giá bạn bè ngày trước có gặp lại, e khi họ không nhận mình là bạn bè nữa cũng nên... Nhưng bây giờ thì tôi ra như thế này đây. - Anh ta lại móc ra một điếu thuốc nữa, ngậm vào miệng, châm hút. - Nhìn anh thấy hình như anh cũng còn mong đợi ở tôi ít nhiều thì phải. Bây giờ tất nhiên tôi mụ mẫm đi nhiều rồi, nhưng cũng có đôi điều còn nhận ra được. Lòng tin tưởng của anh làm cho tôi rất cảm kích, nhưng cũng làm cho tôi thấy áy náy. Tôi sợ rồi lại phụ lòng một người bạn cũ đến nay vẫn có ý tốt với mình...

Anh ta bỗng ngừng lại, rít mấy khói thuốc, mới lại thong thả nói:

- Chính ngày hôm nay, trước khi đến quánNhất Thạch Cưnày, tôi cũng vừa làm một chuyện hết sức chán ngắt, nhưng là chuyện tôi vui lòng làm. Trước kia, hồi còn ở đây, tôi có một ông láng giềng ở phía đông là lão Trường Phú, làm nghề chở thuyền. Ông ta có một người con gái tên là cái Thuận. Hồi đó, anh đến tôi chơi, có lẽ cũng có gặp, nhưng chắc không để ý, bởi vì nó còn bé tí tẹo. Sau này, lớn lên cũng chẳng lấy gì làm nhan sắc, có điều mặt trái xoan, hơi gầy, trông bình thường, nước da vàng vàng, chỉ được cặp mắt rất to, lông mi cũng rất dài, lòng trắng thì trong như nền trời một đêm quang tạnh, nhưng là trời quang tạnh ở miền Bắc khi không có nổi gió cơ, chứ ở đây thì làm gì trong được như thế! Con bé đảm lắm. Mẹ chết lúc mười tuổi, một mình săn sóc hai đứa em dại, một gái, một trai, lại phải hầu hạ ông bố nữa, nhưng rất chu đáo. Và cũng căn cơ, nên cảnh nhà dần khá lên. Láng giềng hàng xóm không ai là không tấm tắc khen, cả đến lão Trường Phú cũng thường phải nói lên những câu tỏ vẻ cảm động. Lần này, trước khi tôi lên đường về đây bà cụ nhà tôi sực chợt nhớ đến con bé; các bà được cái nhớ dai. Bà cụ nói là có một lần cái Thuận thấy một cái "nơ" nhung đỏ cài đầu, cũng muốn có một cái, nhưng không làm sao có được. Thế là khóc. Khóc non nửa đêm, ông bố đánh cho một trận, mắt sưng húp hai ba ngày. Thứ "nơ" nhung đó thì các tỉnh miền Bắc mới có, chứ ở thành S. tìm đâu ra; con bé muốn có thì có làm sao được! Nhân thể chuyến này tôi về Nam, bà cụ bảo tôi mua hai cái làm quà cho nó.

Việc này tôi thấy cũng chẳng phiền hà gì mà lại lấy làm thích nữa. Thật ra thì, vì cái Thuận mà có phải mệt nhọc tí chút, tôi cũng vui lòng. Năm trước, tôi về đón bà cụ lên; một hôm, lão Trường Phú có ở nhà, tôi sang thăm, rồi chẳng biết vì sao mà ngồi tán gẫu mãi. Lão ta mời tôi ăn điểm tâm, - ăn chè kiều mạch- và bảo cho tôi biết là nấu với đường trắng. Anh tính, làm nghề chở thuyền mà trong nhà có đường trắng ăn thì đủ biết trong nhà không phải là nghèo đâu nhé, cho nên lão ta mới ăn sang như vậy. Lão ta mời mãi; thành ra phải nhận lời, nhưng chỉ xin ăn một bát cơm thôi. Lão ta cũng là người thạo đời lắm, nên liền dặn cái Thuận: "Con à, các ông ấy người nho nhã, không ăn nhiều đâu. Con múc vào bát con, và cho thêm thật nhiều đường vào!". Nhưng đến khi nấu xong, bưng lên, tôi nhìn thấy mà thất kinh. Một bát to tướng, tôi ăn một ngày e không hết. Có điều so với bát của lão Trường Phú thì bát của tôi đúng là bát nhỏ. Bình sinh, tôi chưa hề ăn chè bột kiều mạch bao giờ, lần này ăn thử, quả không ngon, mặc dù ngọt lắm. Tôi thong thả ăn mấy miếng, định thôi, bỗng vô tình, nhìn thấy cái Thuận đứng xa xa ở góc nhà, thì tôi không có can đảm để bỏ bát đũa xuống được nữa. Xem điệu bộ con bé, thấy nó vừa sợ vừa mong, chắc sợ là sợ nấu không được khéo, và mong là mong tôi ăn thấy ngon. Tôi nghĩ bụng, giá mà mình bỏ lại già nửa bát bỏ đấy, chắc là nó buồn tủi lắm. Thế rồi tôi cương quyết há to cổ họng ra, đổ vào, ăn nhanh gần bằng lão Trường Phú. Do đó, tôi mới biết được cái khổ tâm phải ăn gượng. Nhớ lại, chỉ có hồi còn bé phải uống hết bát thuốc giun khuấy với đường mới khổ tâm như thế mà thôi! Nhưng tôi vẫn không oán thán chút nào, bởi vì cái nụ cười mà con bé cố giấu đi khi nó đến thu dọn mấy cái bát không, cũng đã thừa để bù đắp lại nỗi khổ tâm của tôi rồi. Cho nên mặc dù hôm đó, tôi no kềnh, không ngủ ngon giấc, lại nằm mơ toàn những điều quái gở, tôi vẫn cứ cầu mong cho con bé được hưởng hạnh phúc trọn đời, và mong mỏi thế giới sẽ biến đổi để con bé được sung sướng hơn. Nhưng những ý nghĩ đó chẳng qua là dấu vết của những mộng cũ của tôi ngày trước mà thôi, chứ ngay lúc đó, tôi đã cười mình khéo hão huyền, và rồi cũng quên bẵng đi mất.

Trước kia, tôi chưa biết chuyện cái Thuận vì cái "nơ" nhung mà bị đòn, nay nhân bà cụ nói cho biết, thì cũng chợt nhớ đến chuyện ăn bột kiều mạch, rồi đâm ra vồn vã đi tìm mua "nơ" cho được. Tìm tất cả các hiệu ở Thái Nguyên, không đâu có. Mãi về đến Tế Nam...

Ngoài cửa sổ, có tiếng ào ào. Tuyết đọng trên cành cây sơn trà cong oằn bỗng đổ xuống. Cành cây lại vươn thẳng lên để lộ những cụm lá đen thẵm, bóng loáng và những bông hoa màu đỏ chói. Nền trời màu chì càng sẫm lại. Chim kêu chíu chít. Có lẽ sắp tối rồi, mặt đất tuyết lại phủ dày, chúng kiếm không ra cái ăn, phải bay về tổ sớm hơn ngày thường. Anh ta nhìn ra cửa sổ một hồi, quay lại uống một chén rượu, lại rít mấy khói thuốc, rồi nói tiếp.

- Mãi về đến Tế Nam mới mua được "nơ" nhung. Cũng không rõ con bé bị đòn có phải vì thứ "nơ" nhung này hay không, dù sao đây cũng là "nơ" nhung. Và cũng không rõ con bé thích màu đậm hay màu nhạt nữa, tôi bèn mua một cái màu đỏ thắm và một cái màu hồng đem về đây.

Thế là trưa hôm nay, ăn cơm xong, tôi đến thăm lão Trường Phú. Chỉ vì chuyện ấy, tôi phải nấn ná lại một ngày. Nhà lão vẫn ở chỗ cũ, nhưng trông có vẻ tiêu điều. Tôi nghĩ bụng đó chỉ là cảm tưởng riêng của mình mà thôi. Đứa con trai và cái Chiêu, đứa con gái thứ hai của lão đứng ở cửa. Nhớn rồi. Cái Chiêu không giống con chị nó chút nào, xấu như ma lem, nhưng thấy tôi đi vào thì chạy trốn vào nhà mất. Tôi hỏi thằng bé, biết là lão Trường Phú đi vắng: "Chị nhớn em đâu?". Nó liền giương mắt nhìn tôi, vội hỏi tôi tìm có việc gì, lại có vẻ hằm hằm như muốn nhảy xổ tới, cắn một miếng. Tôi trả lời ấp úng rồi tháo lui, bởi vì bây giờ cái gì tôi cũng không muốn bỏ qua cho xong chuyện thì thôi.

Anh không biết chứ tôi ngại đến thăm hỏi nhà người ta lắm, ngại hơn dạo trước nữa, bởi vì mình biết rõ mình đáng ghét lắm, chính mình cũng không thương được mình nữa huống hồ ai. Đã biết là thế rồi thì đến làm gì cho người ta phải buồn trong lòng? Nhưng lần này bà cụ tôi đã dặn dò như thế, không lẽ không làm cho đến nơi đến chốn. Cho nên nghĩ lại, tôi lại đến cái cửa hàng bán củi ở xế cửa nhà lão Trường Phú. Bà cụ Phát, mẹ ông chủ hàng, vẫn còn sống, và còn nhận ra tôi, mời tôi vào ngồi chơi. Chào hỏi mấy câu xong, tôi nói rõ cho bà cụ biết tôi trở về đây và đến tìm lão Trường Phú để làm gì. Không ngờ, bà cụ thở dài, nói:

- Thương cho cái Thuận bạc phước không được cài cái "nơ" nhung ấy rồi!

Thế rồi bà cụ kể tường tận cho tôi nghe, nói rằng: "Từ mùa xuân năm ngoái, thấy con bé người cứ gầy héo đi, nước da cứ vàng ra, về sau bỗng thường thường ngồi đâu khóc đấy. Hỏi sao khóc, lại không nói. Có khi khóc suốt đêm, đến nỗi ông Phú cũng phải gắt lên, mắng là lớn rồi, chưa có chồng mà phát điên hay sao. Nhưng sang thu, con bé bị cảm, đầu thì cảm xoàng, sau phải nằm xuống và từ đấy, liệt giường liệt chiếu. Mãi đến mấy ngày trước khi tắt thở, con bé mới chịu nói với ông Phú rằng, lâu nay thỉnh thoảng khạc ra máu, đêm đổ mồ hôi trộm, y như mẹ nó ngày trước, nhưng cứ giấu đi, sợ ông ta lo. Có một đêm, lão Trường Canh, bác con bé, đến mượn tiền - lão này thường cũng đến đòi mượn tiền như thế nhiều lần rồi, - con bé không cho mượn. Thì lão cười lạt, nói: " Mày đừng có lên mặt, chắc gì thằng chồng mày đã được như tao!" Con bé từ dạo ấy buồn lắm, nhưng xấu hổ không dám hỏi ai, chỉ cứ nằm khóc. Ông Phú vội vàng đem chuyện thằng chồng chưa cưới nói cho con bé nghe, nào là có đức tính này, đức tính nọ... Nhưng muộn rồi! Vả lại con bé cũng không tin, lại nói: "Bây giờ con đã như thế này rồi, gì thì gì cũng không thích nữa".

Bà cụ còn nói: "Giá như thằng chồng con bé quả không bằng lão Canh, thì cũng tởm thật. Không bằng anh trộm gà thì còn ra cái quái gì? Nhưng khi anh ta đến đưa đám con bé, con mắt tôi có trông thấy, ăn mặc tươm tất lắm, trông con người cũng ra dáng đáo để. Nước mắt lưng tròng, anh ta còn kể nào là đi chống thuyền bao nhiêu năm nay, làm ăn cực khổ, thắt lưng buộc bụng, cốt dành dụm đồng tiền cưới vợ thì bỗng dưng vợ lăn đùng ra chết... Thì ra, anh ta cũng tốt đấy chứ, lão Canh toàn nói vu. Chỉ thương cho cái Thuận lại đi tìm những lời dèm pha của một thằng ăn trộm, để chết đi oan uổng cái đời. Nhưng điều đó cũng không thể trách ai được, trách là trách cái số con bé không ra gì".

Thế là thôi. Công việc của tôi thế cũng là cho xong đi. Nhưng hai cái "nơ" nhung mang theo thì đem làm gì đây? Được rồi! Thì tôi nhờ bà cụ đưa lại cho cái Chiêu vậy. Cái Chiêu này vừa thấy mặt tôi là chạy mất tang, có lẽ cho tôi là một con chó sói hay sao ấy, nên trong bụng tôi cũng không muốn cho. Nhưng rồi tôi vẫn cứ cho, và cứ về thưa với bà cụ rằng cái Thuận thấy cái "nơ" nhung mừng đáo để. Thế là được việc. Nhưng cái chuyện chán ngắt như thế thì kể gì? Chỉ cần qua loa cho xong thôi. Tết cũng ăn qua loa. Và cứ " Tử viết Thi vân" mà gõ đầu trẻ.

Tôi lấy làm ngạc nhiên, hỏi:

- Thế nào? Anh dạy "Tử viết Thi vân" à?

- Tất nhiên. Anh vẫn tưởng tôi dạy ABCD hay sao? Lúc đầu, tôi có hai đứa học trò, một đứa họcKinh thi, một đứa họcMạnh TửMới rồi, thêm một đứa nữa, con gái, họcNữ nhi kinh. Đến môn toán mà cũng không muốn dạy, mà bố mẹ chúng nó không muốn tôi dạy.

- Thật không ngờ anh mà lại đi dạy những sách ấy?

- Bố mẹ chúng nó muốn chúng nó học những thứ ấy. Tôi chỉ là người ngoài; dạy gì mà chẳng được. Những chuyện chán ngắt thế kể làm gì? Miễn thế nào xong thôi.

Anh ta mặt đỏ gay, hình như có ý say, và con mắt lại lờ đờ như trước. Tôi khẽ thở dài, một lúc lâu, không tìm ra câu gì để nói. Có tiếng bước chân lên thang gác sầm sập. Mấy ông khách kéo nhau lên. Người bước lên trước là một anh chàng lùn tịt, khuôn mặt tròn xoe và bều bệu, rồi đến một anh chàng cao lông ngông, cái mũi đỏ lòm trông rất chướng. Theo sau, còn có nhiều người nữa, bước dồn dập rung chuyển cả gian gác. Tôi đưa mắt nhìn Lã Vĩ Phủ. Anh ta cũng đưa mắt nhìn tôi. Tôi liền gọi anh hầu sáng đến tính tiền.

Tôi vừa sửa soạn đi ra, vừa hỏi:

- Anh dạy học như thế, đủ sống chứ?

- Vâng, mỗi tháng kiếm được hai chục đồng, cũng chẳng lấy gì làm đủ.

- Thế thì, anh có định sau này làm gì không?

- Sau này à? Chẳng biết nữa. Anh xem, những việc chúng ta dạo đó định làm, hỏi có việc nào được vừa ý? Tôi bây giờ không biết một cái gì hết, ngày mai đây làm gì cũng không biết, phút sắp đến cũng thế...

Anh hầu sáng đem đơn tính tiền lên đưa cho tôi. Anh bạn tôi cũng không còn khách khí như lúc mới vào nữa, Anh ta chỉ đưa mắt cho tôi một cái, rồi cứ hút thuốc, để mặc tôi trả tiền.

Chúng tôi cùng đi ra. Khách sạn của anh ta trọ và khách sạn của tôi trọ ở trái nẻo nhau, nên ra đến cửa là chia tay. Tôi đi về khách sạn một mình. Gió lạnh và tuyết cứ phả vào mặt, nhưng lại thấy trong lòng rất dễ chịu. Nhìn thấy trời đã nhá nhem tối rồi, và nhà cửa, đường phố đều như nằm trong một màng lưới tuyết dày đặc, trắng xóa và luôn luôn di động.

Ngày 6 tháng 12 năm 1924

❀ ❀ ❀

[1] Rượu Thiệu tức rượu sản xuất ở Thiệu Hưng. Thiệu Hưng tức là thành S. nói trên và là quê Lỗ Tấn.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.