Cố Hương - Tập Truyện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 25 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Miếng Xà Phòng

❊ ❊ ❊

Bà Tư Minh đang ngồi dựa lưng vào cửa sổ phía Bắc, cùng con Tú, đứa con gái lên tám tuổi của bà, dán những thoi vàng giấy, dưới ánh chiều tà. Bỗng nghe tiếng giày đế vải kéo nặng nề, chậm chạp. Bà ta biết là chồng đi vào, nhưng không ngoảnh lên nhìn, cứ chăm chú dán. Nhưng tiếng giày càng rõ, càng gần. Bà ta có cảm giác như chồng đã đứng cạnh mình, cho nên không thể không đưa mắt qua nhìn, thì thấy ông đã đứng đấy, nhún vai, khom lưng, đang ra sức lục lọi cái gì trong túi áo trong, dưới áo khoác ngoài.

Mãi hồi lâu, ông ta mới còng quèo rút tay ra được, trong tay có một cái bao hình chữ nhật, nho nhỏ, màu xanh hoa quỳ, đưa cho vợ. Bà ta vừa cầm lấy thì nghe một mùi thơm, không rõ mùi gì, giống mùi ô liu nhưng cũng không phải mùi ô liu. Trên cái giấy bọc xanh hoa quỳ, còn có một cái dấu ấn bằng kim nhũ sáng chói và nhiều đường vẽ lăn tăn. Con Tú chạy lại, định giật lấy xem, bà vội ẩy con ra. Bà ta vừa nhìn, vừa nói:

- Đi phố về à?

Ông chồng nhìn cái bao giấy vợ cầm trong tay, nói:

- Ừ, ừ...

Thế là cái bao giấy màu xanh hoa quỳ được bóc ra. Phía trong còn một lớp giấy bóng mỏng dính, cũng màu xanh hoa quỳ. Bóc cái giấy bóc thì thấy chính cái vật trơn và cứng, cũng màu xanh hoa quỳ trên mặt có những đường vẽ lăn tăn. Lớp giấy bọc ngoài nguyên chỉ là màu nhờ nhờ thôi. Cái mùi thơm không rõ là mùi gì, giống mùi ôliu, nhưng cũng không phải là mùi ô liu, nghe càng ngát.

Bà ta nâng niu cái vật màu xanh hoa quỳ đó như nâng niu đứa trẻ, đưa lên mũi ngửi, rồi nói:

- Hì hì! Đây mới là thứ xà phòng tốt đây!

- Ừ ừ. Từ nay về sau thì mình dùng thứ này thôi.

Bà Tư thấy chồng miệng thì nói, con mắt thì nhìn chằm chằm vào cổ mình, nên từ hai gò má trở xuống, bà ta cứ nghe nóng phừng phừng. Đôi lúc bà ta có đưa tay sờ vào cổ thì thấy đầu ngón tay hơi nham nháp, nhất là phía sau vành tai. Bà ta biết đó là cáu ghét tích lũy lâu ngày, nhưng lâu nay vẫn không để ý. Bây giờ, thấy chồng chú ý nhìn, mà tay mình đang cầm miếng xà phòng ngoại, màu xanh hoa quỳ có mùi thơm là lạ như vậy, thì mặt bà ta không thể không nóng phừng phừng được. Rồi dần dần cứ lan mãi ra, khoảnh khắc đã nóng nóng đến mang tai. Thế rồi bà ta quyết ý ăn cơm tối xong sẽ đem miếng xà phòng này ra dùng và kỳ rửa thật sạch. Bà ta nói một mình:

- Có những chỗ chỉ dùng xà phòng thường thì không sao sạch được.

- Mẹ! Cho con cái này nhé!

Con Tú đưa tay giật lấy tờ giấy bao màu xanh hoa quỳ, nói. Con Chiêu, con gái út của bà, đang chơi ngoài sân cũng chạy vào. Bà Tư vội ẩy cả hai đứa ra lấy tờ giấy bóng bọc lại, rồi lại bỏ vào tờ giấy bao màu xanh hoa quỳ như cũ, với tay lên để trên cái tầng cao nhất bàn rửa mặt, nhìn một lần nữa, rồi quay lại ngồi dán vàng giấy.

- Trình!

Ông Tư như sực nhớ điều gì, bỗng gọi to, giọng kéo dài, rồi ngồi xuống cái ghế có lưng dựa cao, đối diện vợ.

- Trình đâu?

Bà ta cũng gọi giúp chồng, rồi dừmg lại, lắng nghe, Không có tiếng trả lời. Thấy chồng ngẩng đầu lên đợi, vẻ sốt ruột, bà ta bất giác áy náy trong lòng, liền giáng sức gọi, gọi the thé:

- Thằng Thuyên[1]đâu nhỉ?

Lần gọi này có hiệu nghiệm. Bỗng có tiếng giầy da lộp cộp đi gần lại. Một lát, Thuyên đã đứng trước mặt mẹ. Nó chỉ mặc chiếc áo cộc, mồ hôi nhầy nhụa trên khuôn mặt tròn tròn, beo béo. Bà ta mắng con:

- Làm gì mà bố mày gọi cũng không nghe?

- Con vừa luyện bài bát quái quyền.

Nó liền quay sang phía ông bố, đứng thẳng, nhìn bố, có ý hỏi ông ta có việc gì.

- Trình! Tao hỏi màyƯa tú phulà cái gì?

- Thưa,Ưa tú phu[2]... là một người đàn bà độc ác, phải không ạ?

Sự giận dữ bỗng hiện rõ trên nét mặt ông Tư.

- Nói tầm bậy! Tao mà lại là "đàn bà" à?

Trình hoảng lên, lùi hai bước, đứng càng thẳng. Tuy có khi nhìn thấy bố đi đứng có vẻ như vai ông già trên sân khấu, nhưng chưa bao giờ nó cho bố nó là một người đàn bà cả. Nó biết là nó trả lời sai rồi.

-Ưa tú phulà "một người đàn bà độc ác", tao lại không biết mà còn hỏi mày hay sao? Đó không phải là tiếng Trung Quốc mà là tiếng ngoại quốc, mày nghe ra chưa. Nghĩa là gì, mày có biết không, hử?

Trình càng lúng túng tợn.

- Thưa con... con không biết ạ!

- Hừ! Té ra bỏ tiền cho mày ăn học, thật là vô ích. Chỉ có chừng ấy mà cũng không biết. Thế mà nhà trường mày cứ khoe là "Khẩu nhĩ tịnh trọng" dạy tiếng ngoại quốc, chú trọng cả nghe và nói! Rút cục chẳng được cái gì cả. Cái thằng nói cái tiếng ngoại quốc đó cũng chỉ độ mười bốn, mười lăm tuổi là cùng, còn nhỏ hơn mày nữa, ấy thế mà đã xì xồ xì xào nói được. Còn mày thì đến nghĩa là gì cũng không biết. Không biết xấu hổ mà còn mở miệng nói "con không biết"! Đi lấy tự điển tra cho tao!

Trình vâng một tiếng trong cổ họng, lùi ra, vẻ cung kính.

Một lát, ông Tư lại nói giọng cảm kích:

- Quả thật, bọn học sinh bây giờ không ra cái thể thống gì cả. Kể ra, thời Quang Tự, mình cũng hết sức đề xướng việc mở trường học, nào có ngờ đâu, trường học lại tệ hại đến nước ấy. Nào là giải phóng, tự do gì gì ấy nhưng chẳng có một chút thực học nào, chỉ được cái làm những chuyện tầm bậy. Cái thằng Trình này, mình mất cho nó bao nhiêu tiền ăn học có phải ít đâu, nhưng vô ích thôi - khó khăn lắm mới xin được vào trườngTrung Tây Chiết Trung,dạy Anh văn thì chuyên môn khoe là "khẩu nhĩ tịnh trọng". Mình có cho là tốt nữa không nào? Hừ, học một năm rồi mà chỉ có mỗi chữưa tú phucũng không biết. Có lẽ cũng lại là cái lối học vẹt thôi. Hừ! Nhà trường, nhà bè! Đào tạo ra được cái gì? Tôi nói thật, nên đem mà đóng cửa quách lại!

Bà Tư vẫn ngồi dán vàng giấy, tán thành ý kiến của chồng:

- Phải đấy. Đóng cửa quách lại mà hơn đấy!

- Con Tú, con Chiêu rồi cũng bất tất phải cho đi học. Trước kia, cụ Cửu, cụ ấy nói: "Con gái, học hành cái gì?". Cụ ta phản đối cho con gái đi học thì mình công kích cụ ta. Nhưng bây giờ, nhìn lại mới thấy những người có tuổi tác họ nói phải. Mình nghĩ mà xem. Con gái mà cứ lũ lượt đi ngoài đường phố như thế kia, trông đã chướng mắt rồi, chúng nó lại còn đòi cắt tóc ngắn đi nữa cơ! Tôi chúa ghét bọn nữ sinh cắt tóc ngắn. Nói thực, lính tráng, thổ phỉ, thế mà còn tha thứ được, chứ bọn này mới thật là bọn làm loạn thiên hạ. Phải trừng trị nghiêm khắc mới được ...

- Phải đấy. Con trai cạo trọc đi như sư phụ còn chưa đủ sao mà con gái cũng lại muốn làm như vãi bà nốt!

- Trình!

Trình hai tay cầm một cuốn sách nhỏ mà dày, gáy vàng, bước nhanh đi vào, đưa cho bố, chỉ vào một chỗ nói:

- Có chữ này âm hơi giống. Chữ này...

Ông Tư cầm lấy xem, biết là tự điển, nhưng chữ in nhỏ quá, lại in ngang. Ông ta chau mày, giơ ra trước cửa sổ, nheo mắt lại, cố đọc cho ra hàng chữ con chỉ cho.

- Tên Cộng tế giảng xã thành lập vào thế kỷ 18... Ơ, không phải. Chữ này đọc thế nào? - Ông ta đưa tay chỉ vào tiếng Anh in ở trước, hỏi.

- Odd fellows.

Ông ta bỗng lại nổi giận:

- Không phải, không phải, không phải chữ này. Tao nói cho mày nghe. Tiếng kia là một tiếng đểu, một tiếng chửi. Nó chửi tao như thế đấy. Có hiểu không? Tra đi!

Trình liếc nhìn bố mấy cái, đứng im.

Bà Tư thấy con lúng túng, thương hại, nói đỡ cho con mà cũng có ý không bằng lòng con.

- Thằng này ngu ngốc thế nào ấy!... Nhưng mà ông cũng phải nói rõ cho nó biết, rồi bảo nó tra kỹ xem.

Ông Tư thở dài một cái, quay lại nhìn vợ nói:

- Nguyên là khi tôi ra phố, đến hiệu Quảng Nhuận Tường mua xà phòng, thì có ba thằng học sinh cũng đang đứng mua cái gì ở đấy. Còn tôi? Có lẽ chúng nó thấy tôi cũng hơi lôi thôi, lấy sáu bảy miếng xem, miếng nào cũng hơn bốn hào, không mua. Xem miếng một hào thì tồi quá, không thơm tí nào cả. Tôi nghĩ bụng: Thôi cứ lấy loại vừa vừa là hơn cả, nên chọn miếng màu xanh đó, hai hào tư. Anh bán hàng là một anh chỉ biết tiền, con mắt cứ xếch ngược lên, nhọn cái mõm chó ra. Đáng ghét là mấy thằng học sinh ranh con cũng lại xì xồ xì xào nói tiếng ngoại quốc, vẻ thích chí lắm, rồi cười với nhau. Sau tôi đòi mở ra xem rồi mới trả tiền. Giấy tây bọc lại như thế, biết xấu tốt thế nào! Không ngờ cái anh bán hàng hám lợi đó, không những không chịu cho mở, mà lại còn ngang ngược nói những câu chó đểu. Rồi bọn ranh con kia cũng cười hùa theo. Cái tiếng đó là một thắng oắt con nói, vừa nói vừa nhìn tôi. Rồi chúng nó cười phá lên. Rõ ràng là quả là một tiếng đểu - ông Tư ngoảnh lại phía thằng Trình nói tiếp - Mày cứ tra chỗ tiếng đểu cho tao.

Trình "vâng" một tiếng trong cổ họng, rồi lễ phép lui ra.

- Chúng nó còn bô bô những là "tân văn hóa, tân văn hóa". "Hóa" đến như thế rồi, chưa đủ hay sao?

Ông ta đưa mắt lên nhìn xà nhà, nói một mình:

- Học sinh không có đạo đức, người ngoài xã hội cũng không có đạo đức nốt. Không tìm cách cứu vãn, thì Trung Quốc đến diệt vong mất. Mình nghĩ xem, thế này có đáng buồn hay không?...

Bà Tư không tỏ vẻ ngạc nhiên gì cả, thuận miệng hỏi:

- Thế nào, chuyện gì thế?

Ông ta quay lại nhìn vợ, nghiêm trang nói:

- Chuyện một người con gái hiếu thảo. Giữa đường phố có hai người ăn xin, một người con gái, trạc mười tám mười chín - cái tuổi đó mà đi ăn xin thì thật không hợp chút nào cả, nhưng nó vẫn đi ăn xin - và một bà già sáu bảy mươi, đầu bạc trắng, mắt mù, ngồi trước thềm một phố bán vải. Người ta nói người con gái ấy hiếu thảo lắm, mà bà già kia là bà nội nó đấy. Ai cho cái gì là nó lại đưa cho bà nó tất, còn nó thì nó nhịn đói, Nhưng chẳng biết có ai bố thí gì cho một người con gái hiếu thảo như thế không?

Ông ta nhìn chằm chặp vào mặt vợ như để thử xem vợ trả lời ra sao.

Bà vợ không trả lời, cũng lại nhìn chằm chặp vào mặt ông chồng, như chỉ chờ ông ta nói thôi. Cuối cùng, ông ta tự trả lời lấy:

- Hừ! Chẳng ai bố thí gì cho cả. Tôi đứng xem rất lâu, chỉ thấy có một người cho một đồng trinh, còn thì toàn là người đứng vây xung quanh xem cho vui mà thôi. Lại có hai thằng đểu giả, ăn nói bừa bãi. "Phát à? Cậu đừng chê con bé bẩn thỉu, cậu cứ đi mua cho nó hai miếng xà phòng rồi tắm rửa kỳ cọ cho nó thật sạch sẽ, thế là mê đấy nhé!" Hừ, mình xem, chẳng ra cái thớ gì cả!

Bà Tư cúi đầu xuống, một hồi lâu mới uể oải hỏi:

- Hừ! Thế ông có cho nó tiền không?

- Tôi à? Không. Cho một hai đồng trinh thì ngượng tay lắm. Nó không phải là một kẻ ăn xin tầm thường như người khác. Phải...

- Ờ.

Bà vợ không chờ chồng nói hết câu, thong thả đứng dậy đi xuống bếp. Trời đã xẩm tối. Đã đến giờ ăn cơm.

Ông Tư cũng đứng dậy đi ra sân. Ngoài còn sáng hơn trong nhà. Trình đứng ở một góc tường đang tập bài bát quái quyền. Đấy là nó làm theo lời ông bố dạy, lợi dụng lúc trời nhá nhem tối mà tập cho khỏi phí thì giờ. Nó tuân theo lời ông bố như thế đã hơn nửa năm nay. Ông Tư gật gù có vẻ khen ngợi, rồi chắp tay sau đít đi đi lại lại giữa cái sân trống. Một lát, cái chậu cảnh duy nhất, trồng cây vạn niên thanh, lá to tướng, đã mờ đi trong bóng tối. Một vài ngôi sao lấp lánh trong đám mây trắng lưa thưa như một miếng giẻ rách. Trời đã tối hẳn. Lúc đó ông Tư bỗng hăng hái lên, hình như ông ta định làm việc gì to tát lắm; tuyên chiến với bọn học sinh hư hỏng kia và với cái xã hội đồi bại xung quanh. Ý chí ông mạnh mẽ dần; ông càng bước những bước dài tiếng giày đế vải nghe càng kêu làm cho mấy con gà mái và mấy chú gà con đã ngủ trong chuồng sợ, tục tục, chiếp chiếp vang lên.

Nhà trên đã có ánh đèn. Đó là tín hiệu gọi mọi người về ăn cơm tối. Cả gia đình xúm xít lại quanh cái bàn đặt chính giữa nhà. Đèn để ở phía cuối bàn. Một mình ông Tư ngồi ở đầu bàn, mặt cũng tròn tròn béo béo như thằng Trình, chỉ có thêm hai chòm râu. Qua làn hơi nghi ngút bốc lên từ những bát canh, đĩa thức ăn nóng hổi, trông ông như vị thần tài trong đền Thành hoàng. Phía tay trái là bà Tư và con Chiêu, phía tay phải là thằng Trình và con Tú. Tiếng đũa bát chạm vào nhau nghe như mưa rào. Không ai chuyện trò gì, nhưng bữa ăn cũng rất ồn ào.

Con Chiêu làm đổ bát cơm. Canh và thức ăn vương vãi cả bàn. Ông Tư trợn tròn hai mắt ti hí của ông nhìn trừng trừng, làm cho con bé mếu máo sắp khóc. Bấy giờ ông mới thôi, không nhìn nữa. Ông ta đưa đũa ra định gắp cái cọng rau non mà ông đã chú ý từ nãy. Nhưng không thấy đâu nữa. Ông liếc sang trái, sang phải, phát hiện ra thằng Trình vừa gắp lên và đang há to miệng và cơm. Thế là ông đành phải uể oải gắp một cọng rau vàng úa.

Ông ta nhìn vào mặt con nói:

- Trình? Chữ ấy tra ra chưa?

- Chữ nào ạ? Thưa chưa ạ.

- Hừ, mày xem - Kiến thức cũng không có, đạo lý cũng chẳng biết. Chỉ được cái ăn là giỏi! Ra xem cái cô con gái hiếu thảo kia mà bắt chước người ta. Đi ăn xin mà còn biết hiếu thảo với bà, chịu nhịn đói để bà ăn. Còn như bọn học sinh chúng mày thì biết được đâu như thế! Không kiêng nể ai hết. Sau này thì rồi cũng như thằng đểu giả kia mà thôi!...

- Con nghi một chữ, nhưng không biết có đúng không. Con chắc là chúng nó nóiold fool.[3]

- Ư, ừ: phải đấy! Chữ ấy đấy! Chúng nó nói giống như thế đấy! ôn-phun. Nghĩa là gì? Mày cùng cánh với chúng nó, thế nào mày chả biết!

- Nghĩa... nghĩa là gì con cũng không rõ lắm.

- Nói láo! Mày dối tao! Chúng mày đều hỏng tuốt!

Bà Tư bỗng nói:

- Trời đánh còn tránh bữa ăn. Hôm nay làm sao mà ông lại cứ gắt gỏng ầm nhà lên thế. Đang bữa ăn mà cũng đánh chó mắng mèo. Chúng nó còn trẻ con, biết gì cơ chứ!

- Sao?

Ông Tư định gắt với vợ, nhưng ngoảnh lại, thấy đôi má hót của bà vợ phùng ra, mặt lại tái đi, hai con mắt xếch ánh lên rất dễ sợ, thì liền đổi giọng:

- Tôi có gắt gỏng gì đâu. Chỉlà muốn bày dạy cho con biết điều hơn một chút.

Nhưng bà vợ càng phẫn nộ:

- Nó hiểu làm sao được những điều trong bụng ông. Nếu nó biết điều thì nó đã thắp đuốc đi mà tìm đứa con gái hiếu thảo kia đến đây rồi. Ông đã mua cho nó một miếng xà phòng rồi kia kìa, chỉ mua thêm một miếng nữa là đủ thôi!

- Tầm bậy nào! Đó là thằng đểu giả kia nó nói như thế chứ!

- Biết đâu đấy! Chỉ cần mua thêm một miếng nữa, rồi tắm rửa kỳ cọ cho nó, rước nó về mà thờ, thì thiên hạ mới đứng ngồi yên ổn với ông được.

- Ăn nói gì lạ thế! Có dính dáng gì với nhau? Tôi thấy mình không có xà phòng thì...

- Sao lại không dính dáng gì tới nhau? Ông đã thành tâm mua cho nó thì đi mà tắm rửa kỳ cọ cho nó. Tôi không xứng đáng, mà tôi cũng không thiết, tôi cũng không cần phải dùng nhờ của nó.

- Ăn nói gì lạ lùng thế nhỉ! Đàn bà có khác...

Ông Tư lắp bắp, mặt đổ mồ hôi hột y như mặt thằng Trình khi tập môn bát quái quyền, nhưng có lẽ phần lớn là vì cơn nóng quá đó thôi!

- Đàn bà chúng tôi thì thế nào? Đàn bà chúng tôi thế mà còn hơn đàn ông nhà ông nhiều đâý! Bọn đàn ông nhà ông hết chửi bọn nữ sinh mười tám mười chín, thì lại sang đứa ăn mày mười tám mười chín, chửi hay khen, không phải là bụng dạ các ông có tốt gì. Tắm rửa kỳ cọ cho sạch... Nói thế mà không biết dơ!

- Không phải là tôi đã nói rồi sao? Đó là cái thằng đểu giả ấy nó...

- Ông Tư có nhà không nhỉ?

Có tiếng gọi oang oang ở ngoài tối đưa vào.

- Ông Thống phải không đấy hả? Tôi ra bây giờ.

Ông Tư biết là ông Hà Đạo Thống, người nổi tiếng vì có cái giọng oang oang. Rồi như người được ân xá, ông ta vui vẻ nói to:

- Trình? Con ra thắp đèn rọi cho bác Thống đi vào phòng sách nghe!

Trình thắp đèn đưa ông Thống sang cái phòng xép ở mé tây. Theo sau là ông Bốc Vi Viên.

Ông Tư miệng còn nhai cơm, chạy ra chắp tay vái, nói:

- Xin thất lễ với hai bác! Mời hai bác dùng với tôi bữa cơm xoàng. Thế nào?

Ông Viên bước lên cũng chắpp tay vái, nói:

- Chúng tôi vô phép rồi ạ! Đang đêm hôm, chúng tôi lại tìm bác để bàn về cái đề bài văn đưa ra cho độc giả họa lại nhân dịp Di phong văn xã họp lần thứ 18 ấy mà. Mai có phải là "phùng thất"[4]không nhỉ?

Ông Tư hốt hoảng nói:

- Ơ! Nay là mười sáu à?

Ông Thống nói to:

- Bác xem, có hồ đồ không?

- Thế thì phải gửi đến tòa báo ngay đêm nay, và bảo họ ngày mai nhất định phải đăng cho chúng mình.

- Đề bài văn tôi đã thảo ra đây rồi. Bác xem thế nào có dùng được không?

Ông Thống nói, rồi lấy tờ giấy gói trong khăn tay ra đưa cho ông Tư.

Ông Tư đi đến trước đèn, mở to ra, đọc từng chữ:

"Làm một bài văn trân trọng đề nghị cùng toàn thể quốc dân đồng bào trong toàn quốc yêu cầu ông Đại Tổng thống đặc biệt ra lệnh bắt phải tôn trọng thánh kinh và lập đền thờ bà Mạnh mẫu để cứu vãn nền phong hóa suy đồi và bảo tồn quốc túy".

- Hay đấy! Hay đấy! Nhưng mà số chữ có nhiều quá không?

Ông Thống nói to:

- Không hề gì. Tôi tính rồi. Không phải trả thêm tiền quảng cáo đâu. Còn đề bài thơ thì thế nào?

Ông Tư bỗng có vẻ cung kính lắm:

- Đề bài thơ à? Tôi đã có sẵn đây rồi:Hiếu nữ hànhĐây là chuyện có thực. Phải biểu dương người con gái đó. Hôm nay, tôi ra phố gặp...

Ông Viên vội xua tay, cắt lời:

- A, a. Không được đâu... Tôi cũng có thấy. Nó là một kẻ "hành khất". Tôi không hiểu nó nói gì, mà tôi nói nó cũng không hiểu. Chẳng biết người ở đâu. Ai cũng khen là hiếu thảo, nhưng tôi hỏi có biết làm thơ không, thì nó lắc đầu. Giá mà biết làm thơ thì hay lắm đấy nhé!

- Nhưng mà trung hiếu là những đức tính lớn, không biết làm thơ cũng có thể bỏ qua đi cho.

Ông Viên xòe bàn tay ra, tiến về phía ông Tư, vừa xua vừa đẩy, cướp lời nói:

- Thế, không được. Và ai cũng biết là không được. Có biết làm thơ mới thú chứ!

Ông Tư đẩy ông ta ra.

- Chúng ta sẽ dùng cái đề này, thêm ít lời giải thích, rồi đem đăng báo. Một là để biểu dương cô ta, hai là có thể nhân đó mà châm biếm thời thế. Thời thế bây giờ không ra cái trò trống gì nữa. Tôi đứng ngoài xem xét một hồi lâu, vẫn không thấy ai cho một đồng trinh nào cả. Há đó chẳng phải toàn là những người không có tâm can gì cả hay sao?

Ông Viên lại bước tới:

- Ai chà! Ông Tư! Thật là ông đứng trước nhà sư mà lại chửi thằng trọc. Thì chính tôi cũng có tiền đâu! Quả thực lúc đó tôi không mang tiền theo trong người.

- Ông Viên, ông không nên nghĩ xa như thế - Ông Tư lại ẩy ông ta ra. - Tất nhiên là tôi không nói ông. Ông khác. Ông hãy nghe tôi nói đã: Bao nhiêu người đứng vây quanh hai bà cháu cô ta không ra vẻ kính nể gì cả, chỉ đến xem cho vui mắt. Lại còn có hai thằng đểu, ăn nói bừa bãi, không chút dè dặt. Một thằng nói trắng trợn như thế này: "Phát này, cậu đi mua hai miếng xà phòng, tắm rửa kỳ cọ cho con bé thì trông mê đấy nhé!" Ông nghĩ...

- Ha, ha, ha! Hai miếng xà phòng! - Ông Thống bỗng cười to lên và nói oang oang điếc cả tai. - Cậu mua... Ha, ha, ha!

Ông Tư giật mình hoảng hốt nói:

- Ông Thống! Ông đừng nói to lên như thế chứ!

- Tắm rửa kỳ cọ - ha ha! ...

Ông Tư sa sầm nét mặt.

- Ông Thống! Chúng ta nói chuyện đứng đắn một tị. Sao ông cứ đùa mãi thế, đùa đến người ta phải nhức óc lên với ông. Ông nghe đây này! Chúng ta sẽ lấy hai cái đề này, gửi ngay đến tòa báo, bảo với họ ngày mai đăng cho kịp. Việc này lại phải phiền đến hai ông.

Ông Viên nhận lời ngay:

- Được, được, cái đó tất nhiên.

- Ha, ha!... Tắm rửa sạch!... Hi! Hi!

Ông Tư bực dọc kêu lên:

- Ông Thống!

Ông Thống thấy ông Tư gắt, không cười nữa. Bọn họ thảo xong lời giải thích đề thơ. Ông Viên chép lại trên giấy viết thư, rồi cũng ông Thống đi đến tòa báo. Ông Tư cầm đèn, tiễn ra đến cổng. Trở lại nhà trên, ông cảm thấy không yên trong lòng, ông ta do dự một tí, nhưng rồi cũng bước vào. Vào nhà liền thấy cái bao đựng xà phòng hình chữ nhật, nho nhỏ, màu xanh hoa quỳ, quẳng trên chiếc bàn vuông giữa nhà, cái dấu ấn bằng nhũ kim giữa cái bao long lanh dưới ánh đèn, xung quanh còn có những đường vẽ li ti.

Con Tú và con Chiêu ngồi chơi dưới đất phía cuối bàn, Thằng Trình ngồi tra tự điển phía tay phải bàn. Sau cùng, ông ta thấy bà Tư ngồi trên chiếc ghế có cái lưng dựa cao cao, trong bóng tối, xa ánh đèn. Giơ đèn ra xem thấy mặt bà ta cứ thừ ra không ra giận mà cũng không ra vui, đôi mắt cũng không nhìn vào cái gì cả.

... Tắm rửa kỳ cọ! Thật là không biết xấu!

Ông Tư nghe con Tú nhắc lại khe khẽ câu nói đó, quay đầu lại không thấy nó làm gì cả, chỉ thấy con Chiêu đang đan hai ngón tay bé tí tẹo của nó gãi gãi vào mặt.

Ông ta xấu hổ quá, liền tắt đèn bước ra sân. Ông ta đi đi lại lại, không chú ý, làm cho con gà mẹ và bầy gà con lại tục tục, chiếp chiếp inh lên. Ông ta bước đi rón rén, đi xa xa. Một hồi lâu, chiếc đèn ở nhà trên đã đưa vào phòng ngủ. Ông ta nhìn thấy ánh trăng như một tấm lụa trắng rộng, phẳng lì. Mặt trăng như một cái mâm ngọc hiện ra giữa đám mây trắng tròn vành vạnh.

Ông ta cảm thấy buồn buồn, tựa hồ giống như người con gái hiếu thảo kia, lẻ loi, đơn chiếc, không biết bày tỏ nỗi lòng với ai. Đêm ấy, mãi khuya ông ta mới đi ngủ.

Nhưng sáng sớm hôm sau, miếng xà phòng đã được đưa ra dùng. Hôm đó, ông ta dậy muộn hơn ngày thường, thấy bà vợ đang cúi đầu xuống bàn rửa mặt, cọ xát vào cổ, bọt xà phòng phồng lên như bọt con cua đồng, và sau mang tai thì dồn cục lại một cục to tướng, khác xa một trời một vực so với bột xà phòng thường dùng trước kia chỉ có một lớp mỏng dính. Từ đó, người bà Tư lúc nào cũng có một mùi thơm không rõ mùi gì, giống như mùi ô liu mà cũng không phải là mùi ô liu. Gần nửa năm nay, cái mùi thơm đó bỗng mới đổi sang mùi thơm khác ai ngửi cũng nói là hơi giống mùi đàn hương.

Ngày 22 tháng 3 năm 1924.

❀ ❀ ❀

[1] Một tên khác của Trình.

[2] Ưa tú phu nguyên văn là ác độc phụ. Tiếng phiên âm tiếng Anh, nên chúng tôi viết theo phiên âm Bắc Kinh.

[3] Tiếng Anh nghĩa là ông già lẩm cẩm.

[4] Phùng thất tức ngày 7, 17, 27 trong một tháng.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.