- À! Chú Mộc! Năm mới chúc chú làm ăn phát tài!
- Anh Bát Tam, chào anh, chúc anh năm mới!
- Hi! Hi! Năm mới! Cô Ái cũng có đấy à?
- A! Ông Mộc!
Ông Trang Mộc Tam với người con gái của ông - cô Ái - từ đầu cầu Mộc Liên vừa bước xuống thuyền, thì trong thuyền đã nhao nhao lên chào hỏi. Một vài người còn chắp tay vái. Đồng thời, người ta cũng dồn nhau lại để trống một chỗ đủ cho bốn người ngồi. Ông Mộc vừa chào vừa ngồi xuống, rồi đặt cái ống điều dựa vào mạn thuyền. Cô Ái ngồi cạnh bố, phía tay trái, duỗi đôi chân vòng kiềng ra trước mặt Bát Tam thành một chữ "bát".
Một ông mặt như vỏ cua hỏi:
- Ông Mộc lên tỉnh phải không đấy?
Ông Mộc hơi có vẻ buồn rầu, nhưng vì mặt ông như màu đường đen, lại vốn đã nhăn nheo cho nên không thấy rõ sắc mặt ông có biến đổi.
- Không phải lên tỉnh mà sang bên Bàng Trang một tí.
Cả thuyền im lặng. Mọi người nhìn bố con ông.
Một lúc lâu, Bát Tam hỏi:
- Chắc cũng lại là vì chuyện cô Ái chứ gì?
- Vâng. Vẫn là chuyện nó. Thật là phiền chết người đi được! Kéo dằng dai ba năm trời, đánh nhau bao nhiêu bận rồi lại làm lành với nhau bao nhiêu bận, vẫn không xong...
- Lần này chắc là sang cụ Úy phải không?
- Vâng. Lại sang đấy. Cụ ta đứng ra xử hòa cho chúng nó hai ba lần rồi nhưng tôi vẫn không chịu. Cũng chẳng sao. Lần này năm mới, nhà cụ họp đông đủ mặt bà con. Có ông lớn Thất trên tỉnh cũng về.
Bát Tam trợn tròn con mắt nói:
- Ông lớn Thất ấy à? Ông lớn cũng đứng ra xử hòa à? Thế thì... Kỳ thực, năm ngoái, chúng tôi sang đập ông táo của nhà họ, kể ra cũng hả cơn giận! Huống chi cô Ái mà về bên đó thì thật cũng vô duyên lắm!
Anh ta đưa mắt nhìn xuống.
Cô Ái, vẻ giận dữ, ngửng đầu lên nói:
- Anh Tam ạ! Tôi cũng không muốn về bên đó làm gì. Tôi tức lắm, anh nghĩ xem, thằng chó ấy nó mê một con đàn bà góa, thế là nó bỏ tôi. Tưởng dễ lắm đấy! Rồi thằng bố nó cũng chỉ biết về hùa với thằng con, cũng ghét tôi. Dễ thật! Còn ông lớn Thất? Lẽ nào ông ta chơi thân với ông huyện thì không kể gì lẽ phải nữa hay sao? Chắc ông ta không thể như cụ Úy, chỉ nói: "Thôi, về đi thôi mà!" Tôi sẽ nói cho ông ta biết những nỗi đau khổ tôi phải chịu bao nhiêu năm trời nay để xem ông ta nói ai phải, ai trái.
Bát Tam bị thuyết phục, không nói được gì nữa.
Chỉ nghe tiếng nước róc rách vỗ mạn thuyền. Trong thuyền rất im lặng. Ông Mộc giơ tay với lấy cái ống điếu, hút một mồi thuốc.
Một người beo béo, ngồi cạnh Bát Tam, ở phía trước, móc trong túi áo ra một cái bật lửa, bật lên, châm vào đóm, đặt lên đầu nõ điếu cho ông ta hút.
Ông Mộc gật đầu nói:
- Không dám! Không dám!
Người béo nói, vẻ lễ phép:
- Chúng tôi tuy mới gặp ông lần đầu nhưng cũng đã được nghe tiếng từ lâu rồi. Phải, mười tám thôn miền duyên hải này, ai mà lại không biết? Thằng con nhà Thi mê con mụ đàn bà góa, chúng tôi lạ gì! Năm ngoái ông đem sáu người sang dỡ ông táo nhà hắn ai cũng cho là đáng lắm! Ông bây giờ đã có tuổi, đi vào chỗ quyền cao chức trọng dễ dàng lắm, sợ đếch gì chúng nó!
Cô Ái vui vẻ nói:
- Tuy không biết chú là ai nhưng nghe chú nói phải lắm.
Người béo vội nói:
- Tôi là Uông Đắc Quý.
- Gạt tôi ra là không được. Ông lớn Thất cũng thế mà ông lớn Bát cũng thế thôi. Tôi phải làm cho nhà chúng nó vong gia bại sản đi mới chịu. Cụ Úy chẳng đã khuyên nhỏ tôi ba bốn lần rồi đó ư! Và thầy nghe chúng nó nói xin đền tiền thì mắt cũng mờ hẳn đi!...
Ông Mộc mắng khẽ con gái:
- Con mẹ mày!
Người mặt vỏ cua nói:
- Nhưng tôi nghe nói cuối năm vừa rồi nhà Thi có mang một mâm rượu sang biếu cụ Úy đấy!
Quý nói:
- Cũng không ngại. Rượu không thể làm mờ mắt người ta được. Rượu mà có thể làm mờ mắt người ta được thì đem lễ vật hậu hơn nữa, sẽ ra thế nào? Các cụ là người biết chữ biết nghĩa, các cụ chỉ bày lẽ phải cho người ta thôi chứ! Ví dụ, ai bị kẻ khác làm nhục, thế là các cụ đứng ra bênh vực, chứ kể gì được uống rượu hay không được uống rượu! Cuối năm vừa rồi, bên thôn chúng tôi có cụ Vinh vừa ở Bắc Kinh về, cụ ta là người đi nhiều, biết nhiều, chứ không phải như bọn nhà quê chúng ta. Cụ ta nói, trên ấy, người bậc nhất là bà cụ Quang, lại cứ...
- Khách bến Uông Gia Hối thì lên này!
Người lái thuyền gọi to, chiếc thuyền sắp đỗ lại.
- Có tôi, có tôi.
Người béo liền cầm ống điếu, từ trong khoang thuyền nhảy ra, theo đà chiếc thuyền bước lên bờ.
- Chào các ông các bà nhé!
Lão ta còn ngoảnh đầu lại trong thuyền, gật đầu chào.
Chiếc thuyền lại tiếp tục đi trong im lặng. Tiếng nước vỗ mạn thuyền nghe càng rõ. Bát Tam bắt đầu ngủ gật, há hốc miệng trước cặp giò vòng kiềng. Hai bà cụ ở phía mũi ngồi niệm Phật, khe khẽ, lần tràng hạt, hết nhìn cô Ái lại nhìn nhau, bĩu môi, gật đầu.
Cô Ái giương mắt nhìn mui thuyền, đang nghĩ cách rồi đây làm thế nào cho chúng nó khuynh gia bại sản; thằng bố cũng như thằng con, đồ chó chết ấy, sẽ không còn đường làm ăn nữa. Cụ Úy thì cô không coi vào đâu. Cô đã gặp cụ ta hai lần rồi nhưng chẳng qua chỉ là một anh lùn tịt mà thôi. Cái thứ người như cụ ta thì trong làng mình hiếm gì! Không phải là không ai có bộ mặt da đồng điếu như cụ ta!
Mồi thuốc trong ống điếu ông Mộc đã tàn; lửa gặp nước trong điếu kêu xè xè nhưng ông ta vẫn rít. Ông ta biết qua Uông Gia Hối là bến Bàng Trang, mà cái lầu Khôi tinh các của làng đó đã thấp thoáng đàng xa rồi! Làng Bàng Trang thì ông ta đã đến đấy nhiều lần rồi, không có gì đáng kể. Và cụ Úy cũng thế. Ông ta còn nhớ cảnh đứa con gái của ông ta trở về nhà khóc như ri, nhà thông gia và cả thằng rể nữa, đáng ghét quá, và ông ta đã làm cho chúng nó bẽ mặt. Nghĩ đến đó, ông ta liền thấy chuyện cũ hiện lên trước mắt. Khi nghĩ đến việc trừng trị nhà thông gia, trước nay ông ta vẫn mỉm cười lãnh đạm. Nhưng lần này thì không thế. Bỗng chẳng biết thế nào mà hình ảnh cụ lớn Thất to béo lại lù lù hiện lên, làm cho đầu óc ông ta trở thành lộn xộn.
Chiếc thuyền vẫn tiếp tục tiến lên trong im lặng. Chỉ có tiếng niệm Phật là nghe to dần, còn ngoài ra cái gì cũng có vẻ trầm tư như ông Mộc và cô Ái.
- Chú Mộc à? Chú sửa soạn mà lên đi thôi. Đến Bàng Trang rồi đấy!
Tiếng người lái thuyền làm cho hai cha con ông sực tỉnh. Trước mặt đã là lầu Khôi tinh các rồi!
Ông Mộc lên bờ, cô Ái theo sau. Qua lầu Khôi tinh các, hai cha con đi thẳng đến nhà cụ Úy. Đi về hướng nam, qua ba mươi nhà, lại vào một con đường rẽ là đến. Đằng xa đã trông thấy một dãy bốn chiếc thuyền mui đen đỗ trước cổng nhà.
Hai bố con bước qua cái cổng sơn hắc ín liền được cho vào. Cái bác phu thuyền và một bọn thầy tớ ngồi chật hai cái bàn sau cái cổng. Cô Ái không dám nhìn, chỉ liếc qua nhưng không thấy bóng thằng bố và thằng con chó đểu ấy đâu cả.
Khi người hầu mang bát thang cao lên, cô Ái càng thấy lúng túng, không yên tâm. Chính cô cũng không hiểu sao mà lại thế. Cô nghĩ bụng: "Lẽ nào chơi với ông huyện rồi thì không kể gì lẽ phải nữa. Những người biết chữ biết nghĩa thì phải biết điều chứ! Mình sẽ nói rõ cho cụ lớn Thất biết đầu đuôi ngành ngọn, từ cái hồi mình bắt đầu đi làm dâu khi mười lăm tuổi..."
Cô ta uống xong bát thang, biết là đã đến lúc. Quả nhiên một lát, cô ta đứng dậy đi theo một người thầy tớ, rồi cùng bố, đi qua nhà lớn, lại rẽ quặt sang và bước vào phòng khách.
Trong phòng khách, đồ đạc bày biện rất nhiều, cô ta không kịp nhìn kỹ. Khách khứa cũng đông, ai nấy mặc áo khoác ngoài bằng đoạn màu xanh, màu đỏ sáng chói. Trong đám đó, liếc qua thấy một người, chắc là cụ lớn Thất, ông ta cũng lùn nhưng còn cao hơn cụ Úy nhiều. Trên khuôn mặt tròn xoe, to tướng, thấy hai con mắt nhỏ ti hí và một bộ râu đen ngòm. Đầu trọc lóc, nhưng da đầu và da mặt đỏ hồng hồng và bóng loáng. Cô Ái rất lấy làm lạ, nhưng cô ta liền bụng bảo dạ: "Chắc là ông ta tô mỡ lợn mới bóng thế!"
Cụ lớn Thất cầm một cái gì như một cục đá vụn, đưa sát vào cạnh mũi hai cái, nói:
- Đây là cái "tỉ tắc" đây, tức là hòn ngọc cổ nhân nhét vào đít người chết khi khâm liệm. Chỉ hiềm điều là "tân khanh". Nhưng bán cũng có tiền. Ít nhất là cũng thuộc về đời Hán... Ngài xem, cái tỉ này là "thủy ngân tẩm"[1]đây.
Tức thì bốn năm cái đầu chụm lại quanh cái "thủy ngân tẩm". Một trong những cái đầu đó là đầu cụ Úy, lại còn mấy cậu con quan khác nữa, nhưng cô Ái bị cái oai phong của họ áp đảo, giống như một con rận gầy bị ép dẹp xuống nên lúc đầu cô ta không nhìn thấy gì cả.
Nghe đoạn sau câu nói trên, cô ta không hiểu. Cô ta không có ý mà cũng không dám tìm hiểu xem "thủy ngâm tẩm" là cái gì. Nên nhân cơ hội, cô ta liếc nhìn xung quanh thì thấy phía sau cô ta, bố con thằng chó đểu đang ngồi dựa vào tường cạnh cửa ra vào. Tuy chỉ liếc nhìn qua nhưng cô ta cũng thấy so với nửa năm trước khi cô ta ngẫu nhiên gặp mặt thì bây giờ có già đi.
Sau đó, những người tụ tập quanh cái "thủy ngân tẩm" cũng tản ra. Cụ Úy cầm lấy cái "tỉ tắc", ngồi xuống, lấy đầu ngón tay xát, xát, rồi ngoảnh lại nói với ông Mộc:
- Chỉ có hai bố con ông thôi à?
- Vâng ạ!
- Con trai ông, không thằng nào đến à?
- Chúng nó bận lắm ạ!
- Thật ra thì đầu năm mới, đáng lý ra cũng không phải để cho hai bố con ông phải đi lại mệt nhọc làm gì, nhưng là vì câu chuyện đó... Theo tôi thì bố con ông làm rắc rối như thế cũng đủ rồi! Không phải là đã hơn hai năm rồi đó sao? Theo tôi thì nên làm lành với nhau đi, không nên thù oán nhau... Còn cô Ái thì chồng ăn ở không phải, bố mẹ chồng cũng không ưa... Thôi thì lần trước tôi đã nói... bỏ nhau đi là hơn! Tôi không có uy quyền gì nên nói các người không thông. Bây giờ có cụ Thất đây là người chỉ nói điều phải, chắc các người cũng biết. Bây giờ ý cụ Thất cũng như thế: cũng giống ý tôi. Nhưng mà cụ Thất còn nói hai bên cũng nên chịu thiệt đi ít nhiều, bắt nhà Thi bỏ ra mười đồng nữa, vị chi là chín mươi đồng...
- Chín mươi đồng! Các người có kiện đến ông giời nữa thì cũng không thể được hơn thế đâu! Chỉ có cụ Thất thì mới nói được như thế.
Cụ lớn Thất giương cặp mắt ti hí nhìn ông Mộc, gật đầu.
Cô Ái thấy tình hình nguy kịch. Cô ta rất lấy làm lạ rằng bình thời, dân miền duyên hải này, ai cũng có vẻ sợ ông bố mình, thế mà tại sao đến đây, bố mình lại không mở miệng nói được câu gì. Cô ta cho rằng bất tất phải đến thế? Sau khi nghe cụ lớn Thất nghị luận một tràng, tuy không hiểu lắm, nhưng không biết thế nào cô ta cũng cảm thấy cụ ta là người hòa nhã, dễ gần, chứ không đến nỗi sợ như cô ta nghĩ lúc đầu.
Cô mạnh dạn nói:
- Cụ lớn là người có chữ nghĩa, rất sáng suốt, không như người nhà quê chúng cháu. Cháu oan ức lắm không biết kêu ai, nên cháu muốn trình bày cụ rõ đầu đuôi. Từ khi cháu về làm dâu, thật là vào luồn ra cúi, lễ phép đủ điều. Thế mà họ cứ bới lông tìm vết, hành hạ cháu, người nào cũng dữ như quỷ sứ. Năm ấy, cáo nó bắt mất con gà sống to, có phải là tại cháu không đóng chuồng gà đâu! Đó là tại con chó ăn vụng cám trong chuồng gà rồi nó bẩy cửa chuồng ra như thế chứ! Thế mà cái thằng chó đểu không kể trắng đen, cứ nhè cháu mà tát lấy tát để.
Cụ lớn Thất liền nhìn cô ta.
- Cháu biết duyên cớ vì sao mà hắn lại đối xử với cháu như thế. Cụ là đèn giời, chắc cũng không tránh khỏi mắt cụ. Những người có chữ nghĩa thì chẳng gì qua mắt được. Hắn phải cái bùa con đĩ Lạm, nên muốn rẫy cháu ra. Cháu về làm dâu nhà hắn có cưới xin hẳn hoi, kiệu hoa đến rước, chứ có phải... Đã dễ mà rẫy ra được? Cháu nhất định làm cho chúng nó biết tay, có phải đến cửa quan, cháu cũng cứ đến, huyện không xong thì lên phủ...
Cụ Úy ngửng đầu lên nói:
- Những chuyện đó thì cụ lớn Thất đều rõ cả rồi. Cô Ái này, nếu cô không nghĩ lại thì không có lợi đâu. Trước sau cô vẫn cứ thế. Cô xem đấy, bố cô còn biết điều ít nhiều. Cô với mấy người anh em cô thật không giống bố được chút nào. Kiện đến phủ, nhưng lẽ nào quan Phủ lại không hỏi ý kiến đến cụ lớn Thất đây hay sao? Đến lúc đó thì "việc công cứ thẳng cánh thi hành", tức là... cô sẽ...
- Thế thì cháu sẽ liều mạng, cùng khuynh gia bại sản luôn thể.
Lúc bấy giờ cụ lớn Thất mới thong thả nói:
- Không phải là chuyện liều mạng. Cô còn ít tuổi. Con người ta phải cho hòa khí một tí. Hòa khí kinh tài. Có phải thế không? Tôi đã bảo chúng nó phải bỏ thêm vào mười đồng nữa. Như thế đã " tử tế lắm" rồi! Bằng không, bên nhà chồng người ta bảo "cút" thì cô cũng phải cút thôi. Đừng nói lên phủ, dù cô có lên đến Thượng Hải, Bắc Kinh, hay là kiện ra ngoại quốc cũng thế thôi! Cô không tin thì cô hỏi cậu này vừa học trường Tây ở Bắc Kinh về đây này!
Cụ ta ngoảnh lại phía một cậu ấm cằm nhọn hoắt, hỏi:
- Có phải thế không, cậu?
Cậu ấm cằm nhọn hoắt vội ngồi thẳng lên, rất lễ phép nói khẽ:
- Đúng như thế đấy ạ!
Cô Ái thấy mình lẻ loi quá. Bố thì không dám nói năng gì cả. Anh em không dám đến. Cụ Úy thì trước sau vẫn bênh vực chúng nó, cụ lớn Thất cũng không tin cậy được, đến cậu ấm cằm nhọn hoắt rụt rè như con rận gầy cũng chỉ là "nói hùa theo". Đầu óc rối bời nhưng cô vẫn quyết tranh đấu lần cuối cùng nữa.
- Tại sao, đến cụ mà - trông mắt cô ta có vẻ nghi ngờ, thất vọng - Phải... cháu biết chúng cháu quê mùa, chẳng biết gì cả. Cháu chỉ oán bố cháu không biết nhân tình thế cố, cứ mê mẩn đi, cứ chịu theo cha con thằng chó đểu ấy bảo gì nghe nấy. Chúng nó vội vội vàng vàng như đi báo tang ấy, luồn lọt chỗ này chỗ khác, nịnh hót người này người khác...
Thằng chó đểu đứng im lặng sau lưng cô Ái bỗng lên tiếng:
- Bẩm, cụ lớn xem. Trước mặt các cụ mà nó vẫn cứ thế. Nó ở trong nhà thì nó làm cho chẳng ai đứng ngồi yên được với nó. Nó gọi bố cháu là "thằng chó già", gọi con là "chó đểu", là đứa "con hoang"...
Cô Ái quay mặt lại nói to:
- Cái con Lạm nó gọi mày bằng đứa "con hoang" đấy chứ?
Rồi quay lại cụ lớn Thất:
- Trước mặt mọi người, cháu xin nói thêm cho rõ. Nó cũng có phải là vừa đâu. Mở miệng là mắng "con đĩ", "con giời đánh". Từ khi nó mê cái con đĩ kia thì đến tổ tiên nhà cháu, nó cũng chửi thậm tệ. Xin cụ xét cho, cái đó...
Cô ta rùng mình một cái, vội dừng lại, không nói được nữa, vì cô ta thấy con mắt cụ lớn Thất trợn tròn, cái mặt đầy đặn của cụ ngửng lên, rồi từ cái miệng che lấp dưới chòm râu dài và nhỏ phát ra một mệnh lệnh kéo dài:
- Bay! Đâu...!
Cô ta thấy quả tim dừng lại rồi bỗng lại đập mạnh. Hình như hỏng cả rồi, cục thế đã thay đổi rồi. Cô ta có cảm giác như người sẩy chân rơi xuống nước. Nhưng lại biết quả thực là mình sai.
Một người đàn ông mặc áo dài xanh, ngoài khoác áo chẽn đen liền đi tới, đứng trước cụ lớn Thất, hai tay buông thõng xuống, giống như một cái que gỗ.
Cả phòng khách lặng ngắt như tờ. Cụ lớn Thất nhếch miệng một cái, không ai nghe rõ là cụ nói gì. Nhưng người đàn ông đó thì đã nghe ra, và cái mệnh lệnh của cụ lớn như đã thâm nhập vào cốt tủy y, y khom lưng xuống hai cái, sợ hãi trả lời:
- Bẩm vâng!
Y lùi lại mấy bước mới quay lại ra đi.
Cô Ái biết là có chuyện gì sắp xẩy ra. Chuyện đó cô không ngờ trước được nên cũng không biết mà đề phòng. Bây giờ cô ta mới biết là cụ lớn Thất thật quả là uy nghiêm. Trước đây cô ta lầm cho nên ăn nói không giữ gìn, quá thô lỗ, cô ta rất lấy làm hối hận, bất giác nói:
- Cháu vẫn đến đây là để nghe lời cụ dạy.
Cả phòng khách lặng ngắt như tờ. Cô ta nói rất khẽ, nhưng cụ Úy nghe rõ như tiếng sấm. Cụ ta giật mình một cái. Cụ ta khen:
- Có thế chứ! Cụ lớn Thất thật là công bằng. Mà cô Ái cũng là người biết điều.
Rồi quay lại nói với ông Mộc:
- Ông Mộc này, tất nhiên là ông không có điều gì phải nói nữa chứ! Con gái ông đã bằng lòng rồi đấy. Tôi chắc là ông có mang tờ khai giá thú đến đây chứ? Tôi đã bảo với ông rồi kia mà! Thế thì cả hai bên đều ra đây.
Cô Ái thấy bố móc trong túi ra một cái gì. Cái người đàn ông thẳng như que gỗ cũng vừa vào, cầm một vật gì bẹp bẹp như sơn đen, hình con rùa,[2] đưa cho cụ lớn Thất. Cô Ái lại sợ xẩy ra chuyện không hay, vội vàng nhìn bố, thấy bố đã mở cái bao tải xanh ở bàn nước, lấy bạc ra.
Cụ lớn Thất cũng cầm cái hộp hình con rùa rút ra, đổ ra một thứ gì ở lòng bàn tay. Người đàn ông như que gỗ cầm lấy cái vật bẹp, đi ra. Cụ ta liền lấy một đầu ngón tay xoa vào lòng bàn tay, đưa lên lỗ mũi, như thế hai lần. Lỗ mũi và nhân trung liền vàng khè. Cụ ta nhăn mũi lại muốn hắt xì hơi.
Ông Mộc đang đếm bạc. Cụ Úy lấy ở chỗ bạc chưa đếm một ít tờ đưa cho thằng chó đểu già, rồi cầm hai tờ giá thú thay đổi nhau, đẩy ra hai bên, miệng nói:
- Các người hãy giữ lấy. Ông Mộc này! Đếm cho kỹ. Tiền bạc chứ không phải là chuyện đùa.
- Hắt xì...!
Cô Ái biết là cụ lớn hắt xì hơi nhưng bất giác quay lại nhìn thì thấy cụ há hốc miệng, đang nhăn mũi lại, hai ngón tay đang mân mê cái gì, tức là cái mà người xưa nhét vào đít người chết lúc nhập liệm, và đang xát vào hai bên mũi.
Mãi hồi lâu, ông Mộc mới đếm bạc xong. Hai bên rút tờ khai giá thú về. Lưng ai cũng như thẳng ra. Những bộ mặt trước co rúm lại bây giờ cũng nở nang ra. Cả phòng khách trong chốc lát trở nên hòa khí.
- Được rồi, thế là êm!
Cụ Úy thấy hai bên đều có ý muốn rút lui, liền thở dài, nói:
- Ờ, thế thì còn gì nữa không? Năm mới chúc cho may mắn nhé! Cũng là dàn xếp xong được một chuyện. Các người định về phải không? Hẵng khoan đã! Lại đằng nhà tôi uống chén rượu năm mới đã! Mấy khi.
Cô Ái nói:
- Chúng cháu không dám, xin cụ để dành đấy sang năm lại xin đến uống.
- Xin cám ơn cụ. Chúng cháu không dám ạ!
Ông Mộc, cha con thằng chó đểu vừa nói vừa lễ phép đi ra.
Cụ Úy còn nhìn theo cô Ái đi sau cùng, nói:
- Ờ. Sao? Không uống một chén đã rồi lại về?
- Vâng, xin cụ, cháu không dám. Cám ơn cụ.
Ngày 6 tháng 11 năm 1925
❀ ❀ ❀
[1] Thời trước ở Trung Quốc người ta lấy ngọc nhét vào miệng, mắt, hậu môn người chết, cho rằng làm như thế thì tử thi lâu rữa. Những vật đó về sau đào lên. Đào lên lâu thì gọi là "cựu khanh", mới đào thì gọi là "tân khanh". Khi nhập quan người ta lại lấy thủy ngân tẩm vào tử thi. Những cái có vết thủy ngân gọi là thủy ngân tẩm.
[2] Một cái lọ thuốc ngửi mũi.