Một buổi chiều mùa xuân u ám. Thế mà không khí trong cái quán trà độc nhất của cái thôn Cát Quang này lại có vẻ ồn ào khác ngày thường. Ai cũng còn nghe như phảng phất bên tai cái câu nói giọng trầm trầm khe khẽ đó:
- Thổi cho tắt quách đi thôi!
Nhưng tất nhiên, không phải ai trong thôn này cũng đều nghĩ như thế cả. Dân ở đây ít đi ra ngoài, động có muốn đi đâu thì giở hoàng lịch[1]ra xem, xem trong đó người ta có ghi câu "bất nghi xuất hành" không cái đã. Nếu không ghi, mới đi, và đi cũng phải đi theo cái hướng "hỉ thần", để gặp được "cát lợi". Mấy người bạt tử, không kiêng kỵ gì cả, đang ngồi trong quán chẳng qua là mấy anh thanh niên tự cho là khoáng đạt, nhưng theo ý những người thường chỉ co ro trong xó bếp thì bọn họ chỉ là những đứa con hư hỏng.
Bây giờ cũng không phải là không có chuyện gì mà quán trà lại ồn ào lên như thế.
Một anh mặt lưỡi cày, bưng chén trà lên, hỏi:
- Vẫn cứ thế a?
Anh đầu vuông nói:
- Nghe nói vẫn cứ thế, vẫn cứ luôn miệng nói: "Thổi cho tắt quách đi. Thổi cho tắt quách đi!" Con mắt thì lại càng sáng quắc lên. Ghê quá! Thật là thôn ta mắc một cái vạ. Anh không nên xem thường. Chúng ta phải tìm cách khử nó đi.
- Khử đi thì khó khăn gì. Chẳng qua hắn ta chỉ là... Thật không ra người nữa! Hồi xây đền, cha ông hắn ta cũng có quyên góp nhiều, thế mà bây giờ hắn ta lại đòi thổi tắt cây trường minh đăng đi! Không phải là một đứa con bất hiếu là gì? Chúng ta cứ trói giải lên trình huyện, bảo hắn ta là một thằng ngỗ nghịch...
Anh trán rộng nắm tay lại, đập bàn, nói giọng khẳng khái. Cái nắp chén trà, đặt không ngay ngắn, rơi một cái bịch xuống bàn.
Anh đầu vuông nói:
- Không xong. Bảo là ngỗ nghịch trói giải lên huyện thì phải là cha hay là cậu hắn mới được...
Anh trán rộng liền xìu đi:
- Tiếc là bây giờ hắn ta chỉ còn mỗi ông bác...
Anh đầu vuông bỗng hỏi to:
- Anh trán rộng! Canh bạc hôm qua có khá không đấy?
Anh trán rộng gương cặp mắt nhìn anh đầu vuông một chặp, chưa trả lời thì Trang Thất Quang mặt béo đã rán cổ lên nói:
- Thổi tắt cây đèn đi thì cái thôn Cát Quang nhà ta còn có phải là thôn Cát Quang nữa đâu? Như thế không phải là sẽ đi đời a? Các ông già bà lão chẳng nói là gì: Cây đèn ấy là do Lương Võ Đế thắp lên đấy, cứ thế truyền lại đời nay, chưa bao giờ tắt. Cái hồi loạn Trường Mao[2]cũng không tắt. Anh nhìn xem. Chặc! Không phải là cái ngọn đèn nó cứ xanh lè lè đi đó a? Ai đi qua cũng muốn nhìn một tý và tấm tắc khen. Chặc! đẹp thật! Bây giờ nó phá hoẵng đi như thế là nghĩa thế nào?
Anh đầu vuông nói có vẻ khinh bỉ:
- Không phải là hắn ta điên a? Anh còn không biết sao?
Trang Thất Quang đổ mồ hôi hột:
- Hừ!... Thì anh biết!
Thím Năm Khôi, chủ nhân cái quán trà này đồng thời cũng là người hầu hạ trong quán, nãy giờ chỉ đứng nghe, thấy mấy người kia nói không ăn nhập với việc bà ta đang chú ý, liền vội nói xen vào để lái sang câu chuyện chính:
- Tôi cho rằng cứ dùng cái mưu ngày trước mà lừa hắn ta thì mới được!
Trang Thất Quang ngạc nhiên hỏi:
- Cái mưu nào ngày trước?
- Chẳng phải là trước kia hắn ta cũng đã phát điên một lần rồi à? Y như bây giờ. Hồi đó, ông bố hắn hãy còn sống, lập mưu lừa hắn, mới trị bệnh khỏi đấy chứ!
Trang Thất Quang càng ngạc nhiên hỏi:
- Lừa thế nào? Sao tôi lại không biết nhỉ?
- Anh làm thế nào mà biết được! Hồi đó các anh còn bé tý tẹo, chỉ biết ngậm vú mẹ, chứ biết gì? Còn tôi, thì lúc bấy giờ đã nhớn. Hai bàn tay hồi ấy còn cứ là trắng nà trắng nõn...
Anh đầu vuông nói:
- Thì bây giờ vẫn còn là trắng nà trắng nõn đấy chứ!
- Đồ phải gió! - Thím Năm trợn mắt cười - Đừng có nói lếu láo! Nói chuyện cho đứng đắn. Hồi đó hắn cũng còn trẻ. Ông bố hắn cũng hơi có máu điên. Nghe nói: Một hôm ông nội hắn dẫn hắn vào đền, bắt lạy thần thổ địa, thần ôn dịch, ông Vương Linh Quan.[3] Hắn sợ quá, nhất định không chịu lạy, bỏ chạy, từ đó sinh ra dở người. Về sau thì cứ như bây giờ, hễ gặp ai cũng bàn thổi tắt cây trường minh đăng ở chính điện. Hắn nói: Tắt đi thì sẽ không có hoàng trùng, tật bệnh nữa, ra vẻ là một chuyện đứng đắn lắm. Có lẽ là bị ma ám nên mới sợ đường ngay lẽ thẳng chứ? Còn như chúng ta ai mà sợ thổ thần? Trà đã nguội chưa? Cho thêm vào ít nước sôi! Được rồi! Sau hắn cứ xông vào đền cho được, đòi thổi cho tắt đi. Ông bố hắn thương con quá, không chịu bắt bỏ vào trong phòng mà nhốt lại. A, sau không phải là toàn thôn người ta điên tiết lên, người ta đến làm rầy rà với ông bố hắn. Nhưng không có cách gì. May mà ông nhà tôi[4] hồi đó còn sống, nghĩ ra được một cách: lấy một cái chăn bông dày, che kín cây trường minh đăng lại, tối om om, rồi bảo hắn vào xem, nói là đã thổi tắt đi rồi.
Anh mặt lưỡi cày thở dài, phục lăn, nói:
- Hì hì! May mà có ông nhà bà nghĩ ra được cách đó nhỉ!
- Việc gì mà phải làm như thế! - Anh trán rộng giận dữ nói - Cái thứ người như thế, cứ đánh cho chết đi là xong chuyện. Hừ!
Thím Năm thất kinh nhìn anh trán rộng, khua tay liên tiếp, nói:
- Làm thế nào được? Ông nội hắn ta ngày trước cũng ra cầm triện[5]rồi đấy nhé!
Bọn "trán rộng" nhìn nhau, cảm thấy ngoài cách hay ho của "ông nhà tôi " ra, quả thật không còn thể nghĩ ra cách nào nữa.
Thím Năm lại đưa sống tay chùi nước miếng ở mép, nói càng nhanh:
- Rồi sau thì lành đấy! Lành hẳn. Từ đó hắn cũng không vào đền nữa, mà cũng không nhắc đến chuyện đó nữa. Như thế bao nhiêu năm. Không hiểu thế nào mà lần này, sau cái hôm tế thần xong được mấy ngày, lại phát điên lại. Ừ, y như trước kia. Lúc quá trưa, hắn đi ngang qua đây, nhất định là lại đến đằng đền thôi! Các anh đến bàn với cụ Tứ xem, lập mưu lừa hắn là hay hơn cả. Cây đèn đó chẳng phải là vua Lương Ngũ Đế[6]thắp lên là gì! Không phải người ta nói rằng nó mà tắt đi một cái thì chỗ này sẽ sụt xuống thành biển, mà chúng ta thì thành cá[7]hết. Các anh đi đến ngay đằng nhà cụ Tứ mà bàn thử xem, bằng không thì...
Anh đầu vuông nói:
- Chúng ta hẵng đến đằng đền xem sao đã.
Rồi hiên ngang ra đi.
Anh trán rộng và Trang Thất Quang cũng đi theo. Anh mặt lưỡi cày đi sau cùng, gần đến cửa thì quay lại, nói:
- Lần này cho tôi chịu đã nhé!... Con mẹ nó!
Thím Năm ừ ừ, rồi đi về phía bức tường phía Đông lấy một hòn than, vẽ lên tường một cái hình tam giác nhỏ và gạch một dãy gạch ngắn ngắn, nho nhỏ ở phía dưới và vẽ thêm hai đường dài nữa.[8]
Khi bọn này di gần đến đền thì quả nhiên thấy có mấy người đã đứng đấy rồi, hắn ta là một, và hai người khác đứng xem, cùng ba đứa trẻ con.
Nhưng cửa đền vẫn đóng chặt.
Anh trán rộng mừng rỡ nói:
- May, cửa đền còn đóng!
Bọn họ đến, thì mấy đứa trẻ con hình như mạnh dạn hơn, sấn lên, vây xung quanh người điên. Hắn ta nãy giờ đứng ngoảnh mặt vào cửa đền, bỗng quay lại nhìn bọn họ.
Trông hắn ta vẫn như mọi hôm: mặt vuông vàng khè, cái áo dài xanh rách tươm, chỉ có hai con mắt to mà dài, dưới cặp lông mày rậm, ánh lên hơi khang khác, nhìn ai cứ nhìn chằm chặp, không chớp, mà lại có vẻ đau xót, giận dữ nghi ngờ, sợ hãi. Trên mớ tóc cắt ngắn, thấy có hai lá lúa, chắc là bọn trẻ con nghịch ngợm lén bỏ lên lúc nào, bởi vì thấy chúng nó cứ nhìn lên đầu hắn ta, rụt cổ lại rồi thè lưỡi ra rất nhanh mà cười.
Bọn họ đứng lại, nhìn nhau. Cuối cùng, anh mặt cày sấn lại, hỏi:
- Ông làm gì thế?
Hắn trả lời khe khẽ, giọng ôn hòa:
- Tôi đứng gọi lão đen mở cửa vì phải tắt cây đèn ấy đi. Anh xem: Cái ông mặt xanh ba đầu sáu tay, cái ông ba mắt, cái ông mũ cao, cái ông nửa đầu, cái ông đầu trâu răng lợn... phải thổi tắt đi! Thổi tắt đi sẽ không còn hoàng trùng nữa, không còn dịch miệng lợn nữa.
Anh trán rộng cười khinh bỉ, bước tới:
- Hì hì, chỉ động ngộ động dại. Ông mà thổi tắt đi thì hoàng trùng lại càng nhiều, và không khéo ông lại mắc bệnh dịch miệng lợn cho mà xem!
Trang Thất Quang cũng cười hùa theo:
- Hì! Hì!
Một đứa bé ở trần giơ cái cây sậy cầm chơi ở tay, nhằm vào người hắn ta như để bắn, rồi hé cái miệng nho nhỏ như một bông hoa anh đào, nói:
- Pằng!
Anh trán rộng nói to:
- Ông nên về nhà đi ông ạ! Ông không về thì ông bác ông sẽ ra đánh cho ông gãy xương. Còn đèn thì để đấy, tôi thổi giùm ông. Vài hôm nữa ông lại đây sẽ thấy.
Hai con mắt hắn ta chớp chớp, nhìn xoáy vào mắt anh trán rộng, làm cho anh ta phải nhìn tránh đi chỗ khác. Hắn ta mỉm cười, có vẻ mỉa mai:
- Anh thổi à?
Và quả quyết nói tiếp:
- Không thể được. Không cần các anh thổi tắt. Để tôi thổi lấy cho tắt ngay bây giờ.
Anh trán rộng xìu đi và người nhũn ra như sau khi tỉnh rượu. Anh đầu vuông đã lại bước lên, thong thả nói:
- Ông xưa nay vẫn là người biết điều cơ mà, sao bây giờ lại quẫn đi như thế này! Để tôi nói cho ông vỡ nhẽ, chắc ông sẽ hiểu ra. Giá thử ông thổi tắt cây đèn đó đi thì những ông tướng kia vẫn còn kia mà! Đừng có dại dột! Thôi đi về mà đánh một giấc cho khỏe!
Hắn ta bỗng cười gằn lên, nhưng nghiêm sắc mặt lại ngay, nói giọng trầm trầm:
- Tôi biết. Dù có thổi tắt đèn đi, những cái kia vẫn còn. Bây giờ chỉ có cách là thổi tắt đèn đi đã. Làm như thế trước dễ hơn. Tôi phải thổi cho tắt đi. Và tôi phải tự thổi lấy.
Vừa nói, hắn ta vừa quay lại, ra sức đẩy mạnh cánh cửa đền. Anh trán rộng nổi nóng:
- Ô hay! Ông không phải là người thôn này hay sau? Ông nhất định muốn cho người tất cả thôn này biến thành cá cả hay sao? Thôi, về đi thôi! Ông có đẩy cũng không mở được. Và ông cũng không có cách nào mở ra được đâu! Và thổi cũng không tắt cơ mà! Ông về nhà đi là hơn.
- Tôi không về. Tôi phải thổi cho tắt đi!
- Không được. Ông không có cách nào mở được cửa đâu mà!
- ...
- Ông không có cách nào mở được cửa đâu mà!
Hắn ta quay lại nhìn bọn họ, nói trầm tĩnh:
- Thế thì sẽ liều cách khác.
- Ừ... Để xem ông làm thế nào?
- ...
- Để xem ông làm thế nào?
- Tôi cho một mồi lửa!
Anh trán rộng nghĩ là tai mình nghe không rõ:
- Sao?
- Cho một mồi lửa.
Im lặng như sau khi đánh một tiếng khánh trong trẻo, chỉ còn lại cái dư âm ngân vang. Xung quanh, cảnh sống như ngưng đọng lại trong cái không khí âm trầm đó. Nhưng một lát, có mấy người thì thầm với nhau; một lát nữa, họ lùi ra. Hai ba người đứng xa xa nhìn. Bỗng có tiếng Trang Thất Quang đứng đằng sau bức tường ở cổng sau đền gọi to:
- Lão đen à? Nguy to rồi! Ông đóng cửa đền cho thật chặt nhé! Ông có nghe rõ không? Đóng cho thật chặt vào! Chúng tôi đi tìm cách đối phó rồi sẽ trở lại ngay!
Nhưng hắn ta hình như không để ý đến cái gì khác, chỉ chớp chớp mắt, điên cuồng, vội vàng tìm trên đất, tìm trên không, tìm trong người hắn ta, hình như tìm lửa.
Anh đầu vuông và anh trán rộng đến nhà này rồi lại đến nhà kia như con thoi; cả thôn Cát Quang bỗng náo động lên. Trong tai, trong óc người nào người nấy còn vang lên câu nói hãi hùng: "Cho một mồi lửa!" Tất nhiên trong tai trong óc của số người xưa nay chỉ cúm rúm ở nhà, thì không có gì vang lên cả. Nhưng mà không khí toàn thôn thì vẫn cứ căng thẳng. Phàm những ai cảm thấy câu chuyện này nghiêm trọng, thì không thể nào yên tâm được. Hình như họ sắp phải biến thành cá, và từ đây thiên hạ sẽ bị tiêu diệt. Đành rằng họ cũng biết lờ mờ rằng chẳng qua chỉ cái thôn Cát Quang bị tiêu diệt mà thôi, nhưng họ cũng cảm thấy thôn Cát Quang tức là cả thiên hạ rồi!
Không bao lâu, phòng khách cụ Tứ trở thành nơi người tụ tập lại để bàn về câu chuyện này. Ngồi phía trên là cụ Quách, tuổi cao, đức trọng. Mặt cụ ta đã nhăn nheo như một quả chanh héo. Cụ ta cứ đưa tay vuốt mãi chòm râu bạc ở má, như muốn cầm nhổ đi. Rồi cụ bỏ tay ra, nói thong thả:
- Lúc sáng, ông Phú ở xóm Tây trúng phong. Người con ông ta nói là bị động thổ thần. Như thế này thì rồi đây, vạn nhất xảy ra điều gì, thí dụ là, chó nhà ai giở quẻ, thì họ không khỏi đến nhà cụ đây, phải, đến nhà cụ đây mè nheo. Phiền lắm!
Cụ Tứ cũng vuốt bộ râu cá trê hoa râm trên mép, nhưng vẫn bình thản, như không để tâm gì đến chuyện đó, nói:
- Đúng thế đấy. Đó là bố nó báo đấy! Lúc chú ấy còn sống, không phải là chú ấy cũng chẳng tin gì thần phật cả? Hồi đó, tôi với chú ấy cứ rầy rà với nhau mãi, nhưng không làm sao cho chú ấy thay đổi được. Bây giờ bảo tôi còn có cách gì?
- Theo tôi thì chỉ còn một cách. Phải, còn có một cách. Ngày mai cụ bắt hắn ta trói lại đưa lên thành, bỏ vào cái đền Thành hoàng ở đấy, giam một đêm, phải, giam một đêm đuổi cái con ma ám vào người anh ta.
Anh đầu vuông và anh trán rộng lấy tư cách là người có công bảo vệ cho toàn thôn, không những được vào lần đầu tiên trong cái phòng khách này của cụ Tứ, mà ngày thường thì không dễ gì vào chiêm ngưỡng được, họ lại còn được ngồi vắt mảy dưới cụ Quách và trên cụ Tứ nữa, rồi lại còn được uống trà. Họ theo cụ Quách vào đây, và kể xong đầu đuôi câu chuyện, thì chỉ ngồi uống trà, uống hết trà cũng cứ ngồi im; không nói gì nữa. Nhưng lúc này, anh trán rộng bỗng lại trình bày ý của y:
- Bẩm, làm như thế sợ chậm quá. Hiện có hai người đang theo riết ông ta ngoài ấy. Cần nhất là phải có cái nhìn gấp gáp ngay bây giờ đây. Nếu quả thật mà ông ta châm lửa vào thì...
Cụ Quách nhảy nhót lên, cằm run run.
Anh đầu vuông cướp lời:
- Nếu quả thật châm lửa vào thì...
Anh trán rộng nói to:
- Thì... hỏng hết!
Một đứa ở gái, tóc vàng khè, đi lên pha trà. Anh trán rộng không nói nữa, liền rót uống. Anh ta rùng mình một cái, bỏ chén xuống, thè lưỡi ra liếm mép, mở nắp chén, thổi phù phù...
Cụ Tứ giơ tay đập khe khẽ xuống bàn một cái, nói:
- Thật là làm liên lụy đến người ta! Thứ người gì mà lại như thế! Đáng kiếp! Hì!...
Anh trán rộng ngửng đầu lên:
- Vâng, đúng thế đấy ạ! Đáng kiếp lắm! Năm ngoái bên thôn Liên Các, họ cũng đánh chết một người như thế đấy ạ! Người ta bàn định với nhau là sẽ hùa vào đánh một lúc. Thế là họ cùng đánh một lúc, không thể biết ai là người đánh trước, cho nên sau chẳng việc gì hết!
Anh đầu vuông nói:
- Nhưng đó lại là một chuyện. Bây giờ họ đang theo riết ông ta ngoài ấy. Ta phải tìm ngay cách gì đây mà đối phó... Con cho rằng...
Cụ Quách và cụ Tứ nghiêm nghị nhìn vào mặt y.
- Con cho rằng không gì bằng hãy tạm nhốt ông ta lại cái đã.
Cụ Tứ khe khẽ gật đầu:
- Cũng là một cách hay đấy!
Anh trán rộng nói:
- Hay đấy!
Cụ Quách nói:
- Ừ... cũng là một cách... hay đấy. Bây giờ chúng ta... bắt hắn... về nhà cụ đây... Rồi cụ đây... tìm ngay... một cái phòng nào... Phải còn chuẩn bị... khóa lại...
Cụ Tứ ngẩng mặt lên, suy nghĩ một lúc rồi nói:
- Phòng à?... Nhà này chẳng có gian phòng nào như thế cả... Vả lại biết khi nào nó mới khỏi?
Cụ Quách nói:
- Thì cứ dùng... cái gian phòng của hắn ta.
Cụ Tứ bỗng nghiêm nghị nói có vẻ bi ai, giọng hơi run run:
- Nhưng thằng Lục Thuận nhà tôi sang thu này lại cưới vợ mới chết chứ!... Cụ xem! Nó tuổi nhiều như thế, mà cứ điên hoài, không chịu lấy vợ lấy con cho. Chú ấy đã qua đời rồi, tuy cũng không được an phận cho lắm, nhưng mà hương khói thì không thể nào để cho tắt đi được.
Cả ba người cùng nói một lúc:
- Cái đó tất nhiên!
- Thằng Lục Thuận sinh con đẻ cái ra thì đứa con thứ hai, tôi có thể để cho nó thừa tự. Nhưng mà... không phải con nó đẻ ra... có thể nào thừa tự mà không được cái gì cả hay sao?
Cả ba người cùng nói một lúc:
- Cái đó không thể được!
- Cái gian phòng nát ấy không liên quan gì đến tôi cả. Thằng Lục Thuận cũng không hề để ý đến. Nhưng mà con rứt ruột đẻ ra, bắt đi thừa tự người khác thì rằng mẹ nó không thể để cho dễ dàng như thế được.
Cả ba người cùng nói một lúc:
- Tất nhiên là như thế!
Cụ Tứ trầm ngâm. Ba người kia nhìn nhau.
Trầm ngâm một hồi cụ Tứ mới thong thả nói:
- Tôi ngày ngày mong sao cho nó lành đi. Nhưng nó vẫn không lành cho. Cũng không phải là bệnh không lành, mà chính nó lại không muốn lành bệnh. Không biết làm thế nào, thì phải làm như anh kia nói, là đem nhốt lại, khỏi hại đến người khác. Có làm cho chú ấy xấu mặt thì có lẽ nó mới lành được, và như thế mới phải với chú ấy.
Anh trán rộng cảm động nói:
- Vâng, tất nhiên là như thế. Nhưng mà, gian phòng...
Cụ Tứ hết sức thong thả hỏi:
- Ở đằng đền có cái phòng nào không nhỉ?
Anh trán rộng sực nhớ ra nói:
- Bẩm có, có đấy ạ! Ở cửa đi vào, về phía tây, có một gian phòng bỏ trống, lại chỉ có một cái cửa sổ vuông nho nhỏ, có song gỗ chắn ngang, không thể nào bẻ gẫy được. Rất tốt.
Cụ Quách và anh đầu vuông bỗng mừng rỡ. Anh trán rộng thở dài một cái, nhọn miệng uống trà.
Chưa chập tối, thiên hạ đã thái bình. Có lẽ họ đã lãng quên đi rồi cũng nên. Không những mặt ai cũng không còn thấy vẻ lo lắng nữa, mà đến vẻ vui mừng lúc trước cũng biến đâu mất. Trước đền, tất nhiên dấu chân người ta cũng nhiều hơn bình thường. Nhưng rồi không bao lâu nữa cũng lại thưa thớt dần. Bởi vì cửa đền đóng lại mấy ngày, bọn trẻ con không vào chơi được nữa. Chúng nó cảm thấy bây giờ có vào sân đền chơi được mới thú, cho nên ăn cơm chiều xong, có mấy đứa chạy đến đấy chơi, ra câu đố cho nhau đoán.
Đứa lớn nói:
- Mày đoán thế! Tao nói lại một lần nữa:
Mái chèo đỏ thắm
Mui thuyền trắng phau
Chèo sang cho mau
Nhảy lên nằm nghỉ
Nghỉ được một tí
Lại tìm cái ăn
Ăn xong thì hát...
Một em gái nói:
- Thế là cái gì? Cái gì mà lại "mái chèo đỏ thắm!"
- Tao đoán ra rồi. Đó là...
Cu Sẹo nói:
- Hượm! Để tao đoán: Chiếc đò ngang phải không?
Một em ở trần cũng nói:
- Đò ngang đúng rồi!
Em lớn nhất nói:
- Ha! Đò ngang à? Đò ngang thì chống bằng sào chứ? Với lại đò ngang mà biết hát à? Chúng bay đoán sai cả. Tao nói nhá!
Cu Sẹo nói:
- Hẵng thong thả.
- Hừ! Mày đoán không ra đâu. Để tao nói cho mà nghe. Đó là con ngỗng.
Em gái nói:
- Ừ, con ngỗng. Con ngỗng mới có cái chèo đỏ thắm chứ!
Em ở trần hỏi:
- Thế sao lại nói "mui trắng"?
- Tao châm lửa đốt sạch!
Bầy trẻ thất kinh, sực nhớ ra. Chúng nó nhìn sang gian phòng phía Tây, thấy ông điên, một tay cầm lấy chắn song gỗ ở cửa, một tay bóc lớp vỏ ở ngoài, hai con mắt ông ta chớp chớp, sáng loáng.
Im lặng một lúc. Cu Sẹo bỗng thét lên ù té chạy. Mấy đứa kia vừa cười vừa thét, cũng chạy nốt. Em ở trần còn giơ cái ống sậy lên về phía sau, nhằm vào người ông điên, rồi cái miệng chúm chím như một bông hoa anh đào, vừa thở hổn hển, vừa hô lên một tiếng giòn tan:
- Pằng!
Sau đó im lặng hẳn. Trời cũng tối dần. Ngọn lửa xanh lè của cây trường minh đăng càng sáng, chiếu khắp điện thần, long ngai, chiếu cả ra sân, chiếu đến cái cửa sổ song gỗ tối om.
Bọn trẻ chạy ra khỏi đền thì đứng dừng lại, tay cầm tay, thong thả về nhà. Chúng nó vừa cười khì khì, vừa đồng thanh hát cái câu đó lúc nãy theo dịp điệu chúng nó đặt ra:
Mui thuyền trắng phau
Đến nơi thì nghỉ
Thổi tắt đi thôi
Để tôi thổi tắt
Hát một câu tuồng
Ta châm lửa đốt!
Ha! Ha! Ha!
Lửa, lửa, lửa.
Ăn chút điểm tâm.
Hát một câu tuồng.
...........................
Ngày 1 tháng 3 năm 1925
❀ ❀ ❀
[1] Lịch Trung Quốc ngày trước in trên giấy màu vàng nên gọi là hoàng lịch. Trong lịch thường có ghi những câu như "kỵ xuất hành", "nghi tế tự", chỉ rõ ngày nào không nên xuất hành, ngày nào nên cũng tế.
[2] Loạn Trường Mao chỉ cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên quốc.
[3] Vương Linh Quan theo truyền thuyết là một vị thiên tướng, được phong là thần trấn Sơn Môn.
[4] Chỉ chồng bà chủ quán
[5] Ý nói làm quan.
[6] Đáng lẽ phải nói là Lương Võ Đế. Thím Năm dốt nên nói lạc ra là Lương Ngũ Đế.
[7] Nguyên văn là "nê thu"(Misgurus anguillican datus), một loại cá mình dài như lươn, thường ở dưới bùn.
[8] Một cách ghi sổ nợ của thím Năm Khôi.