Khi ba người lên đường và bỏ lại đằng sau những căn nhà tồi tàn của xóm Vidaôrenđa, vị khách quý là một chàng thanh niên đẹp trai lên tiếng:
- Bác Xôlôn này...
- Licuôcgô chứ ạ, người hầu của cậu đây.
- Vâng, vâng, bác Licuôcgô[1]. Tôi biết rõ bác là nhà lập pháp rất uyên bác thời cổ đại. Xin lỗi bác về sự nhầm lẫn. Thôi, ta nói vào việc nhé. Xin bác cho tôi biết cô hiện nay thế nào?
- Vẫn luôn luôn phúc hậu - Lão thợ cày trả lời, và thúc ngựa tiến lên mấy bước. - Hình như năm tháng chẳng ảnh hưởng gì đến bà Perfêcta cả. Đúng như người ta nói “người tốt thì trời cho sống lâu”. Bà thiên thần toàn thiện ấy sẽ thọ nghìn tuổi. Nếu những lời người ta ca tụng, cầu chúc cho bà trên đất này làm bằng lông vũ thì không cần có cánh bà cùng có thể bay lên đến trời.
- Thế còn cô em họ Rôxariô của tôi thì sao?
- Đúng là “mẹ nào con ấy” - Lão Licuôcgô đáp - Tôi chẳng phải nhiều lời, chỉ cần nói cô Rôxariô là hình ảnh sống của bà mẹ là đủ. Cậu Hôxê ạ, nếu đúng như người ta nói là cậu đến đây để đính hôn với cô ấy thì cậu thật là tốt số đấy. Còn cô ấy, cũng không có điều gì phải than phiền về cậu cả. Thật là “môn đăng hộ đối”[2].
- Thế còn ông Cagiêtanô?
- Vẫn vùi đầu vào sách vở. Ngài có một thư viện lớn hơn cả thư viện của nhà thờ. Ngài còn đào bới đất để tìm kiếm những hòn đá có những nét như bọ chó bám vào mà người ta bảo là chữ viết của người Môrô thời xưa.
- Chừng nào thì ta đến Orbahôxa?
- Khoảng chín giờ, nếu trời phù hộ. Bà chủ sẽ vui lòng lắm khi nhìn thấy cậu cháu trai… Cô Rôxariô đã bỏ cả ngày hôm qua, để xếp đặt, trang hoàng căn phòng mà cậu sẽ đến ở... Vì chưa được gặp cậu lần nào, nên cô ấy cứ nghĩ là cậu sẽ thế này hoặc thế kia. Thôi, bây giờ đến lúc chấm dứt thời kỳ thư đi thư lại, và bắt đầu nói với nhau bằng lời! Cô em họ được gặp cậu anh họ, và tất cả sẽ tốt đẹp huy hoàng. Đúng như người ta nói “Trời sẽ sáng và chúng ta sẽ khá hơn”.
- Cô tôi và cô em tôi nữa đều chưa biết tôi - Hôxê cười nói - mà đã trù tính thế, này thế nọ thì thật là không thận trọng.
- Đúng vậy, chính vì thế mà người ta nói “ông nói gà, bà nói vịt”[3] - Bác thợ cày nói - Nhưng “trông mặt mà bắt hình dong”[4], cậu vớ được của quý đấy! Cô ấy cũng chộp được một chàng điển trai...
Hôxê không nghe thấy những lời cuối cùng của lão Licuôcgô. Anh đăm chiêu suy nghĩ. Ba người đến một chỗ đường quanh thì lão Licuôcgô lại hối ngựa quay ngoặt lại. Lão nói:
- Phải vượt sông bằng lối kia thôi. Cầu bị hỏng rồi, ta chỉ có thể lội qua sông ở quãng Đồi Hoa Huệ[5] kia.
- Đồi Hoa Huệ à? - Đã thoát ra khỏi sự suy nghĩ lo âu, - Hôxê nói - Ở những nơi xấu xí thế này, mà sao có nhiều tên gọi hay ho như thế. Từ khi tôi đặt chân trên đất này, tôi cứ ngạc nhiên hoài về sự giễu cợt nực cười trong những tên gọi. Một nơi hoang vu quang cảnh tiêu điều xám xịt lại có tên là “Thung lũng Xanh Tươi”[6]. Một xóm nghèo khổ xác xơ trên một cánh đồng khô cằn thì lại có cái tên ngạo mạn
bậy bạ “xóm Giàu” [7]. Cái nơi đầy sỏi đá và bụi bặm mà cỏ dại cũng không sống nổi, lại mang tên là “Thung lũng Đầy Hoa” [8], Trước mặt chúng ta kia là “Đồi Hoa Huệ” ư? Nhưng hoa huệ đâu, hả ông tướng nhà trời? Tôi chẳng nhìn thấy gì ngoài đá và cỏ úa. Đáng lẽ phải gọi đây là “Đồi Hoang Phế” [9] thì mới đúng. Chỉ trừ có Vidaôrenđa “Xóm nghèo nàn ghê tởm” là nhận cái tên gọi đúng với thực chất của nó, còn tất cả ở đây đều là trò cười... Lời nói hoa mỹ, nhưng thực chất lại tồi tàn khốn khổ. Những người mù sẽ là những người sung sướng ở xứ sở này, vì tai nghe thì thật là thiên đường, nhưng mắt thấy lại là địa ngục…
Lão Licuôcgô không chú ý nghe, hoặc là không hiểu ý nghĩa những câu nói của Hôxê. Khi họ lội qua sông, nước vẩn đục chảy xiết như chạy trốn khỏi đôi bờ, lão thợ cày giơ tay chỉ về phía khu đất bên tay trái, một khu đất rộng bát ngát trơ trụi, và nói:
- Kia là trang trại Alaunđôx de Buxtamantê[10].
- Đất của nhà tôi đấy! - Hôxê thốt lên vui sướng và đưa mắt nhìn những cánh đồng ảm đạm được chiếu sáng bởi những tia nắng đầu tiên của ban mai. - Đây là lần đầu tôi nhìn thấy tài sản hương hỏa của mẹ tôi để lại. Bà mẹ tội nghiệp của tôi thường ca ngợi rất nhiều cái xứ sở này, và đã từng kể cho tôi nghe rất nhiều điều kỳ lạ về nó, và thuở nhỏ tôi cứ nghĩ là nếu được ở đây thì thật là thỏa chí tang bồng. Nào là hoa, quả, nào là đồi núi, sông hồ, những con suối đầy thơ mộng, những đồng cỏ chăn nuôi, và những cuộc săn bắn muông thú. Mọi thứ đều có ở trong trang trại Alamiđôx đê Buxtamantê, ở trong mảnh đất thần thánh này, mảnh đất tốt đẹp hơn bất cứ nơi nào khác. Quỷ quái thật! Người xứ này sống với tưởng tượng. Trong thời kỳ thơ ấu, khi tôi sống với những ấn tượng và niềm vui thích của bà mẹ đáng kính của tôi. Nếu người ta đưa tôi về đây, có lẽ tôi cũng thấy hài lòng ưa thích những quả đồi trơ trụi, những cảnh đồng khô cằn bụi bặm hoặc bùn lầy nước đọng, những ngôi nhà cũ kỹ, những guồng nước long lở mà gầu guồng thì chảy tong tỏng chỉ đủ nước tưới cho nửa tá cây cải bắp... đó là sự hoang tàn thảm hại và sự biếng nhác trì trệ mà tôi đang nhìn thấy đấy.
- Đây là khu đất tốt nhất của cả vùng này đấy cậu ạ. Nhất là trồng kê thì thật không đâu bằng.
- Thế thì quý hóa thật. Nhưng từ khi tôi thừa hưởng khu đất trứ danh này, nó chẳng sản sinh ra cho tôi được một đồng xu nhỏ nào cả.
Lão Licuôcgô gãi gãi tai, và buông một tiếng thở dài.
- Nhưng tôi nghe nói - Hôxê lại tiếp - một số người quanh đây đã đặt cày của họ vào những vạt đất lớn thuộc sở hữu của tôi, rồi họ lấn chiếm dần dần. Ở đây chẳng có mốc, chẳng có cọc, cũng chẳng có sở hữu thực sự nào cả, bác Licuôcgô ạ.
Lão thợ cày yên lặng, dường như tâm trí lão còn đang nghiền ngẫm những điều gì sâu sắc, nên một lát sau lão mới diễn giải được:
- Lão Paxô Largô [11] mà chúng tôi thường gọi là “nhà triết học”, vì lão rất ranh mãnh, tinh khôn, đã vượt qua cả chỗ đền thờ mà đặt cày của lão vào đây. Lão cứ gặm dần gặm dần, thế mà đã nuốt được sáu phanêga [12] rồi đấy.
- Thật là một thứ triết học không thể so sánh được. - Hôxê cười nói - tôi đánh cuộc là không phải chỉ có một mình lão là nhà triết học duy nhất đâu...
- Ngạn ngữ có câu: “Người nào biết việc người ấy”, và nếu “chuồng bồ câu không thiếu mồi thì không thiếu chim câu!”. Nhưng thưa cậu, đối với cậu thì có thể nói là “dưới mắt của chủ nhân, con bò nào cũng béo tốt cả”. Bây giờ cậu về đây thì cậu sẽ phục hồi được trang trại của mình thôi.
- Có thể là không dễ dàng đâu, bác Licuôcgô ạ. - Hôxê trả lời đúng lúc ba người đi vào một con đường nhỏ, hai bên có những ruộng lúa mì rất tốt, đã chín vàng, trông thật vui mắt - A, cánh đồng này có vẻ được chăm sóc tốt hơn cả. Tôi nhận thấy không phải tất cả đều là ảm đạm, nghèo khổ ở trang trại “Rừng Bạch Dương” này.
Lão thợ cày xịu mặt, nhưng giả bộ thờ ơ, coi thường cánh đồng vừa được Hôxê khen, rồi nói giọng rất khiêm tốn:
- Thưa cậu, chỗ này là của tôi đấy ạ.
- Chết nỗi, xin lỗi bác - Hôxê sốt sắng nói ngay - tôi cũng đã định đưa liềm của mình vào đất đai của bác rồi đấy. Vậy ra cái triết học ở đây là một bệnh hay lây.
Họ đi xuống một khe cạn nguyên là một con suối nông và nước hầu như không chảy. Sau khi qua khe cạn, họ lại đi vào một vùng đầy sỏi đá và chẳng có một dấu vết cây cỏ nào.
- Khu đất này quá xấu - Hôxê vừa nói vừa quay đầu nhìn người đưa đường lúc đó đã tụt lại phía sau một quãng ngắn - chắc chắn là bác khó mà thu hoạch được gì ở cái đất này, bởi vì chỉ toàn bùn lầy và sỏi cát.
Lão Licuôcgô đáp, giọng từ tốn:
- Đây là... khu đất của cậu đấy ạ.
- Tôi thấy ở đây tất cả những gì tồi tàn, xấu xí đều là của tôi - Hôxê xác nhận, rồi cười một cách hồn nhiên vui vẻ. Trong khi nói những chuyện đó, họ lại đi ra đường lớn. Ánh sáng ban ngày rực rỡ lùa vào các cửa sổ, cửa tò vò và tràn ngập các cánh đồng. Bầu trời mênh mông không một gợn mây dường như càng to rộng hơn và càng xa thăm thẳm. Vùng đất cằn cỗi trơ trụi không có cây cối, chỗ mang màu rơm rạ, chỗ có màu đất thó, chia ra thành từng mảnh tam giác hoặc tứ giác màu vàng hoặc đen xạm, màu nâu hoặc phớt xanh, giống như một cái áo rách bẩn loang lổ phơi dưới nắng. Trên mảnh đất hoang vu này đã xảy ra bao nhiêu cuộc xung đột ác liệt giữa những người theo đạo Cơ đốc và đạo Hồi. Đó là những chiến trường nổi tiếng, đúng thế, nhưng những trận giao chiến năm xưa ấy cũng làm cho nó trở thành khủng khiếp.
- Chắc là hôm nay nắng như thiêu đấy, phải không bác Licuôcgô - Hôxê nói và nới lỏng cái áo choàng trên người - cánh đồng ảm đạm quá! Khắp cả một vùng bát ngát không có lấy một bóng cây. Ở đây, tất cả mọi thứ đều như trái ngược đến nực cười. Tại sao không có một cây bạch dương nào mà lại mang tên là “Rừng Bạch Dương”?
Lão Licuôcgô không trả lời, bởi vì lão đang chú ý lắng nghe những tiếng động xa xa mà họ chợt nghe thấy. Với bộ dạng lo ngại, lão dừng ngựa lại, nhìn soi mói suốt con đường và những quả đồi xa tít.
- Có chuyện gì thế? - Hôxê cũng ghìm ngựa lại và hỏi.
- Cậu Hôxê, cậu có mang theo vũ khí không đấy?
- Một khẩu súng lục... À tôi hiểu rồi. Có trộm cướp phải không?
- Có thể. - Lão Licuôcgô lo lắng trả lời. - Hình như có tiếng súng.
- Ta đến đó xem sao... Nào, đi lên - Hôxê vừa nói vừa thúc ngựa tiến lên - bọn chúng chẳng đáng sợ lắm đâu.
- Yên đã, cậu Hôxê! - Lão Licuôcgô kêu lên, ngăn anh. - Bọn ấy còn hung ác hơn cả quỷ Xa tăng đấy. Hôm nọ, chúng đã giết chết hai người trên đường đi ra ga xe lửa đấy... Chớ có đùa. Thằng Gaxparôn lực lưỡng, thằng Pêpitô hung hăng, thằng Mêrenghê ngọt ngào và thằng Aorca Xuêgrax treo cổ, những ngày vừa qua tôi không thấy mặt bọn chúng. Ta hãy lùi lại chỗ lội qua sông lúc nãy.
- Không, cứ tiến lên đi, bác Licuôcgô.
- Nên lùi lại, cậu Hôxê ạ. - Lão thợ cày đáp lại bằng một giọng rầu rĩ - cậu không biết bọn chúng là hạng người thế nào đâu. Chính là những tên đã cướp cái bình đựng thánh thể, mũ miện Đức Bà và hai cây nến của nhà thờ Carmen hồi tháng trước đấy. Cách đây hai năm, cũng chính bọn chúng đã chặn cướp chuyến tàu hỏa đi Mađrít đấy.
Nghe những chuyện ấy, Hôxê cũng thấy nao núng và e ngại phần nào…
- Cậu có trông thấy dãy núi cao chênh vênh xa xa kia không? Bọn chúng ẩn nấp trong những hang hốc ở vùng đó. Chúng gọi nơi ấy là Trạm trú chân của các hiệp sĩ đấy.
- “Các hiệp sĩ!”
- Thưa cậu, vâng ạ. Khi lính bảo an không canh phòng cẩn mật, bọn chúng xuống tận đường cái, và cướp đoạt tất cả những gì chúng có thể cướp được.
Cậu không nhìn thấy cây thánh giá ở bên kia quãng đường quẹo à? Đấy là cái bia đặt ra để tưởng niệm vong linh ông trưởng xóm Vidaôrenđa bị chúng giết trong cuộc bầu cử đấy.
- Có, tôi có trông thấy cây thánh giá.
- Ở đấy có một ngôi nhà cũ. Bọn chúng ẩn nấp trong ngôi nhà ấy để chờ những người qua lại. Chúng tôi gọi nơi đó là Nhà lạc thú.
- “Nhà lạc thú”?
- Nếu tất cả những người đi qua đấy bị cướp, giết mà sống lại được thì có thể tập hợp thành một đạo quân.
Trong khi nói chuyện, họ lại nghe thấy những tiếng súng nổ gần hơn, và mọi người càng thấy hồi hộp, lo lắng hơn.
Riêng chú nhỏ thì lại có vẻ vui thích phởn phơ. Chú xin lão Licuôcgô cho phép chú đi lên trước xem cuộc đụng độ vừa xảy ra gần đâu đây. Thấy vẻ cả quyết của chú nhỏ, Hôxê cảm thấy ngượng, vì đã tỏ ra sợ sệt hoặc ít ra là đã e dè bọn kẻ cướp. Anh vừa quát lên vừa thúc giục con ngựa non:
- Vậy thì tất cả chúng ta cùng đi! Có thể chúng ta sẽ cứu giúp được những người đi đường không may kia trong cơn ngặt nghèo này, và chúng ta sẽ gây khó dễ cho các nhà hiệp sĩ kia.
Lão Licuôcgô ra sức thuyết phục Hôxê hãy từ bỏ những dự định táo bạo đáng sợ cũng như cái ý đồ hào hiệp nhưng vô ích của anh, bởi vì dù sao những người bị cướp cũng đã bị cướp hết cả rồi, có thể đã chết cả rồi, như vậy thì chẳng cần ai cứu giúp nữa. Mặc dù những lời can ngăn chín chắn, chàng trẻ tuổi vẫn khăng khăng không nghe. Lão già phản đối kịch liệt. Sự tranh chấp chỉ chấm dứt, khi xuất hiện hai ba người phu vận chuyển đẩy một chiếc xe hai bánh có mui từ phía trước đi lại. Chắc không có gì nguy hiểm lắm, vì họ vừa đi vừa hát. Đúng thế, vì theo họ nói thì những tiếng súng kia không phải là do bọn phỉ bắn, mà do lính bảo an bắn chặn đường tẩu thoát của nửa tá phỉ mà họ đã trói và giải về trại giam.
- À, à, tôi hiểu rồi - lão Licuôcgô chỉ một làn khói nhẹ bốc lên phía bên phải đường cái. Người ta ướp cá ở chỗ ấy đấy. Chuyện này xảy ra, ngày có, ngày không.
Hôxê chẳng hiểu gì cả.
- Tôi đoan chắc với cậu Hôxê - lão nhấn mạnh - đây là một việc rất tốt, bởi vì chẳng có gì làm cho bọn phỉ khốn kiếp ấy tỉnh ngộ đâu. Quan tòa chỉ làm cho chúng choáng váng chút xíu, rồi lại tha thôi. Nếu có phải tù sáu năm thì chúng vượt ngục hoặc được ân xá, rồi lại trở về cái Trạm trú chân của các hiệp sĩ. Đúng ra là phải như thế này: bắn tuốt, khi giải chúng về trại giam, đến một nơi nào thuận tiện... “A đồ chó đẻ, mày định chạy trốn à, đoàng đoàng!”... Thế là xong. Rồi thì nêu bằng chứng, khám nghiệm tử thi, lập biên bản... Tất cả chỉ trong một phút. Đúng như người ta nói “vỏ quít dày, móng tay nhọn” [13].
- Vậy thì chúng ta đi thôi, và phải rảo cẳng lên, vì đường thì xa mà chẳng có cây cối gì cả.
Khi đến gần “Nhà lạc thú” họ nhìn thấy ở cạnh đường có một toán lính bảo an, những người lính vừa thi hành bản án lạ lùng mà độc giả đã biết. Chú thiếu niên rất buồn bực, vì người ta không cho phép chú đến gần để nhìn cho rõ những cái xác còn đang thoi thóp bọn thổ phỉ, mà chỉ trông thấy một đống lù lù ghê tởm ở xa xa. Ba người vẫn tiếp tục đi. Nhưng chưa đầy hai chục bước, họ chợt nghe có tiếng vó ngựa khua ở đằng sau. Ngựa chạy rất nhanh, nên chỉ trong chốc lát đã đuổi kịp ba người, Hôxê quay lại, thấy một người đàn ông, nói đúng hơn một thằng nhân mã [14] nửa người nửa ngựa, bởi vì không thể có một sự kết hợp nào hoàn hảo hơn giữa con ngựa và thằng cưỡi ngựa. Nó có một thân hình cứng rắn đỏ như máu. Cặp mắt ốc nhồi long sòng sọc. Cái đầu bướng bỉnh, hung ác. Hàng ria đen sì. Diện mạo và điệu bộ cục súc, gày gò. Toàn thân nó toát ra những nét mạnh mẽ, hùng dũng. Nó cưỡi một con ngựa rất đẹp, ức nở căng giống như những con ngựa trong các bức họa trang trí ở đền Partênôn thờ nữ thần Atênêa Partenôx. Con ngựa đeo bên hông một chiếc va ly da khá to, trên nắp có một dòng chữ đậm nét: Bưu điện.
- Ô la, chào ông Cabaducô - Lão Licuôcgô hướng về người cưỡi ngựa, và lên tiếng chào khi hắn tới gần - Tại sao chúng tôi lại đi trước ông? Nhưng rồi ông sẽ đến nơi trước chúng tôi thôi, vì ông cưỡi con ngựa kia.
- Ta hãy nghỉ chân đi đã - Cabađucô [15] nói và chăm chú quan sát Hôxê, khi ngựa của hắn vượt qua ba người - Thế là chúng ta có bạn đường rồi...
- Cậu đây là - Lão Licuôcgô nói - cháu ruột của bà Perfêcta đấy.
- A!... đã nhiều năm nay, thưa cậu, cậu chủ của tôi…
Đôi bên chào hỏi nhau, Hôxê nhận thấy Cabadurô càng làm ra vẻ lịch thiệp với thái độ tự đắc, kiêu kỳ, trịch thượng thì lại cùng phơi bày ra cái cung cách của một kẻ thấp hèn cố tình làm ra vẻ ta đây là người có tài trí lớn hoặc có địa vị cao trong vùng. Khi thằng “người-ngựa” kiêu căng ấy vượt lên trước và dừng lại một lát nói chuyện với hai người lính bảo an lúc đó cũng vừa ra đến đường cái. Hôxê lên tiếng hỏi lão đưa đường:
- Thằng cha quỷ quái ấy là ai thế?
- Còn ai vào đây nữa? Ông Cabađucô đấy?
- Thế Cabađucô là ai?
- Thế này nhé... Nhưng, chả lẽ cậu chưa nghe thấy tên ông ấy hay sao? - Lão nhà quê ngạc nhiên về sự dốt nát của cháu bà Perfêcta - ông ấy là một người rất can đảm, một kỵ sĩ lão luyện cừ khôi, một người sành ngựa nhất vùng này đấy. Những người ở Orbahôxa chúng tôi rất quý mến ông ta, bởi vì ông ta... nói đúng sự thật... tốt như phúc lành của chúa... Người ta coi ông ta như một tù trưởng đáng sợ. Ngay quan tỉnh trưởng cũng phải ngả mũ chào ông ta đấy.
- Chắc là khi có bầu cử...
- Chính phủ Mađrít gửi công văn cho ông ấy cũng phải thưa bẩm rất trân trọng đấy... Ông xông vào giáo mác như một dũng tướng, và ông sử dụng tất cả các loại vũ khí thành thạo như ta sử dụng những ngón tay của mình vậy. Khi vây bắt khủng bố, cũng chẳng có ai làm gì nổi ông, và đêm nào cũng có tiếng súng nổ ở ngoài cổng thành. Bộ hạ của ông đều đáng mặt anh chị cả... Ông bênh vực người nghèo khổ, và nếu có kẻ nào ở nơi khác dám có ý định “đụng đến lông chân” của một người dân xứ Orbahôxa này thì biết tay ông ngay. Hầu như không bao giờ lính tráng ở Mađrít lảng vảng tới vùng này. Nếu chúng đến đây thì ngày nào cũng có máu chảy, bởi vì trong bất kỳ trường hợp nào ông Cabaducô cũng không để cho chúng yên. Hiện nay, hình như ông sống trong cảnh nghèo đói, và đã tự nguyện ra làm nhân viên bưu điện. Nhưng ông đang châm lửa vào tòa Thị chính với ý đồ gây ra chuyện bắt bớ khủng bố, giết hại nhau lần nữa... Tôi không hiểu tại sao cậu lại không nghe ở Mađrít người ta nhắc đến tên ông, bởi vì ông là con một ông Cabaducô nổi tiếng đã từng tham gia bạo loạn, ông Cabaducô ấy cũng là con một ông Cabaducô khác, và cũng đã từng tham gia bạo loạn ở nơi xa hơn... Và giờ đây, người ta bảo lại sắp có loạn, bởi vì mọi thứ đều lộn xộn, rối ren. Chúng tôi đang lo ông Cabaducô của chúng tôi lại tham gia vào vụ này, và bằng cách ấy nối tiếp những chiến công của ông cha, những người mà vì vinh quang của chúng tôi đã sinh ra ở thị xã này.
Ngạc nhiên trước sự tồn tại hiển nhiên của loại hiệp sĩ lang thang trên những nẻo đường mà anh đã qua, nhưng anh không còn dịp để hỏi thêm những câu khác, vì Cabaducô đã quay trở lại, nét mặt hầm hầm tức tối hắn nói:
- Tụi lính bảo an đã giết ba người. Tôi đã bảo thằng chỉ huy của chúng nó là hãy coi chừng. Mai mốt ngài tỉnh trưởng và tôi sẽ nói chuyện...
- Ông đi đến X. ạ...?
- Không, ông tỉnh trưởng sẽ đến đây, bác Licuôcgô ạ, bác phải biết rằng họ sẽ điều vài trung đoàn về đóng ở vùng Orbahôxa này đấy....
- Đúng thế - Hôxê tươi cười nói - ở Madrit tôi đã được nghe nói đến mối lo có một vài nhóm định nổi loạn ở vùng này... Tốt hơn cả là đề phòng trước.
- Ở Mađrít, người ta chẳng biết cái gì ngoài bọn loạn óc - thằng người-ngựa thốt lên một cách giận dữ, sùi cả bọt mép - Ở Mađrít chẳng có gì ngoài lũ trộm cướp... Họ điều quân lính đến đây để làm gì chúng tôi? Để quyên góp, bòn rút thêm thuế má, vơ vét những trái anh đào chứ gì? Vì cuộc sống của... Nếu không có loạn thì cũng phải làm cho nó nổ ra. Còn cậu... - hắn nói tiếp, mắt nhìn chòng chọc vào chàng trai với cái vẻ ngu ngốc, láo xược của một thằng côn đồ gan dạ. - Thế ra cậu là cháu ruột bà Perfêcta đấy à?
- Vâng ạ. Có điều gì thế, thưa ông?
- Tôi là bạn của bà ấy, và tôi quý bà như quý con ngươi của mắt mình. Cậu đến Orbahôxa, vậy thì chúng ta sẽ gặp nhau tại đấy.
Và không nói thêm một lời, hắn thúc gót vào sườn ngựa làm cho nó chạy lồng lên. Hắn biến đi trong đám bụi mù mịt.
Suốt nửa giờ đi đường Hôxê tỏ ra không muốn trao đổi chuyện trò gì nữa. Lão Licuôcgô cũng thế. Bỗng trước mắt họ hiện ra những ngôi nhà cũ kỹ chen chúc nhau trên một quả đồi. Mấy cái tháp canh màu đen của một thành lũy đổ nát nổi lên trên đỉnh đồi. Cả khu nhà lộn xộn với những bức tường đất nằm méo mó xiêu vẹo, dường như chỉ còn lại cái nền nhà dưới chân mấy mảng tường thành cắm mảnh chai vỡ nhọn sắc. Hàng ngàn ngôi nhà nhỏ tồi tàn phô bày cái bề ngoài khốn khổ bằng gạch mộc, giống như những bộ mặt thiếu máu và đói khát nghển ra để cầu xin bố thí. Một con sông nông choèn bao quanh thị xã như một cái thắt lưng bằng sắt tây. Dân cư hẳn phải cảm thấy mát mẻ khi đi qua mấy vườn cây, vì đó là cái màu xanh duy nhất làm cho vui mắt. Người ra vào thị xã thường cưỡi ngựa, hoặc đi bộ. Hoạt động của con người tuy bé nhỏ, cũng cho thấy phần nào cái bề ngoài sống động của một đô thị mà về mặt kiến trúc, đã bày ra những quang cảnh đổ nát tiêu vong nhiều hơn là sinh khí của cuộc sống và của sự tiến bộ. Đám ăn mày nhơ nhớp đông vô kể, lê lết từ bên này đường sang bên kia đường, kêu xin khách qua lại bố thí. Cảnh tượng thật là thảm hại. Không thấy thực tại nào phù hợp hơn để có thể chứng minh về một thành phố không phải chỉ bị chôn vùi mà còn bị thối rữa. Khi đoàn người tới gần, mấy cái chuông lạc điệu khua vang, như để chứng tỏ bằng âm thanh rằng cái thây ma này vẫn còn linh hồn.
Người ta gọi nó là Orbahôxa, cái đô thị không phải ở vùng đất nóng bỏng của người Calđêa[16], cũng không phải ở vùng của người Côpla [17], mà ở ngay trong nước Tây Ban Nha, với số dân bảy nghìn ba trăm hai bốn người, cũng có tòa thị chính, có tòa giám mục, có tòa án, có chủng viện, có trại chăn nuôi ngựa giống, có trường trung học, và có những cơ quan đặc quyền khác.
- Chuông nguyện sáng trong nhà thờ đấy - Lão Licuôcgô nói - chúng ta đã đến nơi sớm hơn tôi tưởng.
- Quang cảnh quê hương của bác - Hôxê vừa nhìn bao quát cảnh vật trước mắt vừa nói - Thật không còn gì chán ngán hơn nữa. Thành phố lịch sử Orbahôxa này mà tên gọi chắc chắn là biến âm của tiếng Urbs auguxta [18], trông như một đống phân khổng lồ.
- Bởi vì từ đây ta không thể nhìn thấy gì hơn là những vùng ngoại ô - Lão Licuôcgô bực mình, nói khi cậu vào phố Real và phố Cônđextablê, cậu sẽ thấy những nhà đẹp chẳng kém gì nhà thờ.
- Tôi không có ý nói xấu Orbahôxa, khi tôi chưa biết gì về nó. Điều tôi vừa nói không phải là tỏ ý coi khinh nó, dù nó nghèo nàn khốn khổ, hoặc nó lộng lẫy kiêu căng cũng vậy thôi, thị xã này đối với tôi bao giờ cũng rất đáng quý, không phải chỉ vì nó là quê hương của mẹ tôi, mà còn vì ở đó có những người tôi rất yêu mến, tuy chưa biết mặt. Thôi, chúng ta vào thành phố Orbahôxa uy nghiêm đi thôi.
Đi theo một con đường lát gạch, họ lên tới những khu phố đầu tiên, và đến sát thảm cỏ của những vườn cây to.
- Cậu có nhìn thấy tòa nhà to lớn sang trọng ở tận cuối khu vườn rộng này mà chúng ta đang đi bên ngoài tường bao của nó không? - Lão Licuôcgô hỏi, tay chỉ bức tường cao chạy dài chứng tỏ đây là một khu nhà duy nhất còn có cái bề ngoài đẹp mắt của một gia đình khá giả, sung túc.
- Tôi thấy rồi... Đó là nhà của cô tôi đấy ư?
- Đúng, đúng đấy. Nhưng ta chỉ trông thấy mặt sau của khu nhà thôi. Mặt tiền nhìn ra phố Côndextablê có năm ban công bằng sắt giống như năm cái pháo đài. Khu vườn cây rất đẹp bên kia thảm cỏ cũng là vườn của nhà ta đấy, và nếu cậu đứng rướn người trên bàn đạp thì cậu sẽ nhìn thấy tất cả đấy.
- Vậy là chúng ta đã tới nơi rồi. Không thể vào nhà từ lối này được ư?
- Trước đây có một cái cửa ngách, nhưng bà chủ đã sai lấp đi rồi.
Hôxê đứng trên bàn đạp, cố rướn cổ lên, ngó qua bức tường bao quanh.
- Tôi đã nhìn thấy toàn bộ khu vườn, ở đằng kia dưới những cây to kia, có một người đàn bà... một cô bé... một thiếu nữ sang trọng...
- Cô Rôxariô đấy - Lão Licuôcgô cũng đứng thẳng người lên để nhìn vào. - Ơ này, cô Rôxariô - Lão hét lên và giơ tay phải làm những cử chỉ đầy ý nghĩa - Chúng tôi đã về đến đây rồi... Tôi đã đưa ông anh họ của cô về đấy...
- Cô ấy đã nhìn thấy chúng ta rồi - Hôxê nói và cố hết sức vươn cao người lên - Nhưng nếu tôi không nhầm, bên cạnh cô ấy có một thầy tu... một linh mục.
- Cha giải tội đấy - Lão Licuôcgô thản nhiên trả lời.
- Cô em tôi đã nhìn thấy chúng ta... Cô ấy bỏ ông linh mục ở lại một mình, và chạy vào nhà... Một cô gái đẹp...
- Như một thiên thần [19].
- Má cô ấy ửng đỏ, đẹp hơn sắc đỏ của quả anh đào. Ta đi thôi, đi đi thôi, bác Licuôcgô.
❀ ❀ ❀
[1] * Nguyên văn: Mẹ đọc trong tim con như đọc trong sách.
[2] * Basilisco : Một con vật thần thoại có khả năng giết kẻ địch bằng mắt nhìn.
[3] * Duro: xem chú thích ở chương XXII.
[4] * Nguyên văn: Mất cái đinh chốt.
[5] * Có ý ngầm: Không chịu trách nhiệm trong việc này.
[6] * Bismark (1815 - 1822) tể tướng nước Phổ, một trong những người sáng lập nước Đức thống nhất.
[7] * Vallarica.
[8] * Valle de Elores.
[9] * Cerillo de la Desolación.
[10] * Ala millos de Buslamante: rừng Bạch dương.
[11] * Paso Largo: Bước chân dài.
[12] * Fanega : Đơn vị đo lường Tây Ban Nha bằng 61,596a.
[13] * Nguyên văn: Con cáo ranh mãnh nhưng người săn cáo còn tinh khôn hơn.
[14] * Centaduro: nhân vật thần thoại nửa người nửa ngựa.
[15] * Caballuco: người ngựa.
[16] * Hiện nay là vùng Babilônia.
[17] * Một chủng tộc người Ai cập còn giữ nhiều tính chất của những cư dân thuở xưa.
[18] * Nguyên văn: như một mặt trời.
[19] * Nguyên văn: như một mặt trời.