Bà đã ở địa phận Manitoba được ba ngày, ba ngày ròng rã không tắm, còn đôi bốt của bà bắt đầu bị rỉ. Không phải rỉ nước vào trong mà là rỉ ra, để lại một vệt màu nâu nhạt phía sau lưng. Ban sáng chúng chỉ là một lớp mờ mờ những đốm nhỏ gần như không thể nhìn thấy bằng mắt, xác định bằng mùi thì dễ hơn một chút nhưng cũng đòi hỏi một khứu giác nhạy bén. Nhưng đến trưa chúng đã xuất hiện nhiều hơn, dù vẫn mỏng và nhỏ giọt. Những đốm màu kết hợp lại thành hai đường mảnh như tơ nhện kéo ra từ chân Etta. Và vào giữa trưa hai đường ấy đã loang ra thành hai dải băng dài màu đỏ tía như vết ván trượt trên tuyết. Cái mùi khi đó đã trở nên quá sức chịu đựng đối với những kẻ có khứu giác nhạy. Lúc sáu giờ tối, Etta thấy chân mình đau. Đây là một đôi bốt xịn, bà lẩm bẩm với bản thân, với Manitoba, Một đôi bốt rất xịn. Nhưng chân bà đau. Đôi bốt thì rỉ màu, và bà thì bắt đầu thấy chóng mặt. Chết tiệt, bà nói. Etta không tin là có bất cứ phần nào trên cơ thể bà bền hơn đôi bốt này. Nếu bốt hỏng được thì cái gì cũng hỏng được. Bà ngồi xuống, tháo dây buộc. Chiếc bốt tuột ra ngay, ướt nhẹp. Chân bà đỏ máu. Giống Thánh Francis, Etta nghĩ, nhưng bà không cầu nguyện đến ngài. Bà không cầu nguyện ai cả. Thay vào đó bà quấn chân mình lại bằng đôi vớ dự phòng, chùi tay sạch hết mức có thể trong tình trạng thiếu nước, rồi ăn một cái bánh nướng. Nửa trên ăn kèm một gói xốt rau, nửa dưới ăn với một gói đường. Bà tưởng tượng đến bơ và quế, đến những cái bánh nướng quế xoắn ốc dài và dày mà bà vẫn thường làm cho Otto vào Chủ nhật.
Và sau khi được giải thoát khỏi đôi bốt, chân Etta sưng to lên như để ngăn không phải chui vào đó nữa. Mà dù sao thì đôi bốt cũng hỏng mất rồi. Được thôi, Etta nghĩ. Ngày mai mình sẽ đến thị trấn và mua một đôi mới. Được thôi.
Đêm đó bà ngủ giữa một cánh đồng mù tạt và nằm mơ. Bà mơ thấy nước. Và những con thuyền và những chàng trai và những người đàn ông, hít vào nước, phun ra nước, và mọi thứ mới ồn ào và đầy màu sắc làm sao, nhưng trời tối dần và tối dần, và nơi này không dành cho phụ nữ, cúi xuống đi, cúi ngay xuống, thấp hơn nữa, thấp nữa, sâu hơn, sâu hơn, sâu hơn, rồi nước vỗ vào chân và mắt cá bà, ấm hơn bà nghĩ, nhịp nhàng, dịu dàng. Nhưng tôi không phải là phụ nữ, bà tự nhủ, tôi mạnh mẽ và sống dai.
Khi Etta tỉnh giấc vào sáng hôm sau, bà thấy một con sói cỏ đang mải mê liếm chân mình. Đôi vớ đã tuột ra và máu đã ngừng chảy. Xin chào, Etta nói, không ngồi dậy vì sợ làm kinh động nó. Mày đang giúp đỡ hay ăn thịt tao đó? Con sói cỏ nhìn bà. Đôi mắt màu hổ phách. Mắt của chó. Thế nào? Etta hỏi. Con sói cỏ lại tiếp tục liếm. Dù sao thì, Etta nói. Cảm ơn nhé.
Con sói cỏ ở cạnh bà khi bà đứng dậy đi tiểu và vệ sinh răng miệng, hàm răng còn nguyên từng chiếc một, bằng nước trong một cái chai. Rồi bà gói ghém đồ đạc. Nó lẽo đẽo theo khi bà bắt đầu bước đi một cách cẩn trọng và chậm chạp bằng chân trần. Nó đi sau bà như thế hàng giờ. Nó theo bà đến rìa một thị trấn, theo vào trong, đi dọc vỉa hè, di chuyển cẩn thận tránh những mảnh kính vỡ hay kẹo cao su, tiến về khu trung tâm, rồi vào một cửa hàng đồ thể thao.
Không được mang chó vào cửa hàng, người nhân viên đứng bên cạnh giá để những đôi giày trắng nói.
Có phải của tôi đâu, Etta đáp.
Nhưng nó vào theo bà mà.
Tôi biết. Nhưng nó không phải của tôi.
Thế thôi, anh ta nói.
Thế thôi, Etta đáp.
Người nhân viên hướng về phía con sói cỏ. Đi! Biến! Cút xéo!
Con sói cỏ ngồi yên. Nó hé môi trên, để lộ hàm răng vàng ệch.
Anh nhân viên lùi lại. Thưa bà, anh ta nói.
Nó không phải của tôi, Etta đáp.
Thế là con sói cỏ ngồi lại và nhìn Etta dạo hết dãy này đến dãy kia, ngắm nghía những đôi giày thể thao tuyệt một màu trắng, cho đến khi bà mua được một đôi. Bước đi bên trong chúng êm như bước trên đám rêu non. Con sói cỏ theo chân bà ra khỏi cửa hàng, đi dọc vỉa hè, và rời khỏi thị trấn trở lại vùng đồng cỏ.
Rồi, Etta nói, Tao không biết liệu mày muốn tao làm thú nuôi hay ăn thịt tao khi tao ngủ, nhưng vì giờ mày vẫn còn ở đây nên hai ta hãy chọn cho mày một cái tên vậy. Con sói cỏ ở cách sau bà hai bước chân. Bà có thể nghe tiếng dù không thấy được nó. Giờ mình sẽ gọi mày là James nhé, bà nói. Cả hai vẫn tiếp tục đi.
Đêm đó James không ăn thịt Etta, chỉ nằm ngủ ở cách xa chân bà một chút. Sáng hôm sau nó chén một con chuột chũi trong khi Etta ăn bánh quy phết mayonnaise. Cả hai bắt đầu lên đường sau khi xong bữa. Hướng đông, luôn là hướng đông. Đi nào James, Etta nói.
Rồi, rồi, đến đây, James đáp.
Mày sẽ cùng tao đi đến cuối cuộc hành trình chứ?
Để rồi xem.
Tối đó Otto ăn uống qua loa và đi ngủ. Bữa tối chỉ có bánh mì bơ đường. Chờ đợi và làm việc, ông tự nhủ trong lúc thay quần áo. Cổ họng ông ngứa ngáy muốn ho. Rau chân vịt và đám cỏ dại chung quanh mọc lên nhanh như thổi. Chờ đợi, và làm việc.
Nhưng sáng hôm sau ông không ra đồng hái rau. Buổi sáng ấy ông thức dậy sau một giấc ngủ đẫy đà không mộng mị và đứng ngẩn người trước chạn bếp. Ngũ cốc hình chữ cái. Ngũ cốc ngô. Ngũ cốc gạo. Chẳng còn gì đáng ăn trong này và cả trong tủ lạnh. Ông thèm đồ ăn thực thụ kìa. Trước đây ông vốn đã gầy, giờ nhìn ông càng giống cô hồn hơn. Da ông mỏng và nhạt dần đi. Mấy tấm thiếp ghi công thức nấu ăn của Etta vẫn nằm nguyên ngay hàng thẳng lối từ lúc ông xếp chúng ở phía bên nửa phần bàn ăn không được dùng đến, cạnh xấp thư. Những tấm thiếp bạc màu vì Etta đã không động đến chúng từ nhiều năm, lượng cân bằng giữa bột, bơ, đường đã ăn sâu vào trí óc và đôi tay bà. Otto cầm lên một tấm thiếp trong nhóm điểm tâm/bữa xế:
Bánh quế nướng
(từ dì Nondis)
Nguyên liệu:
1 thìa xúp men nở
1/4 cốc đường
11/2 cốc đường nâu
11/2 cốc sữa
2 thìa cà phê muối
1/2 mỡ trừu (tốt nhất là dùng bơ)
5-51/2 cốc bột đa dụng
1 quả trứng
1 thìa cà phê quế
Cách làm:
Kích hoạt men. Đun sữa và đổ vào một cái tô lớn. Bỏ đường, muối và mỡ trừu vào. Khuấy đều cho tan ra và làm nguội đến khi bằng nhiệt độ phòng. Cho men đã kích hoạt vào cùng với trứng gà. Khuấy đều lần nữa. Đổ 3 cốc bột và nhào, sau đó đổ tiếp 2(1/2) cốc còn lại đến khi đặc lại. Cho ra thớt và nhồi thành khối bột tròn mịn. Chờ bột nở. (Gấp đôi) (Ấn xẹp xuống)
Đập khối bột nở và ngắt nó thành hai khối cầu nhỏ hơn bằng nhau. Để đó trong 10 phút. Dùng chày cán hai khối bột thành hình vuông và phết lên đó thật nhiều bơ lỏng. Trộn đường nâu với quế và rải lên. Cuộn lại và miết kín mép. Cắt thành từng khoanh dày 1 inch và xếp chúng sát vào nhau lên mâm hoặc đĩa nướng (mâm thì bừa hơn), không nên để quá chật. Phết sữa lên trên (và thêm nhiều bơ/đường nâu nếu làm cho Otto). Chờ chúng nở ra. (Gấp đôi) Nướng ở 375°F (~190,5°C) trong khoảng 25 phút.
Trong ngăn kéo, bên cạnh chiếc hộp nâu ngày trước dùng để đựng mấy tấm thiếp ghi công thức nấu ăn là môt cái tạp dề được gấp gọn ghẽ. Otto lấy nó ra và giũ nó thẳng xuống. Mùi hương của Etta tỏa ra rồi nhanh chóng biến mất. Ông tròng cái tạp dề qua đầu và cột dây lại sau lưng, đoạn nhặt tấm thiếp công thức trên bàn lên và nheo mắt nhìn, đưa nó lại sát mặt với hy vọng nhìn thấy được thêm một số chỉ dẫn bí mật, cụ thể hơn trên đó. Vài dòng chữ viết tay be bé bên dưới chẳng hạn, có thể lắm chứ. Nhưng không. Chỉ có thêm:
Kích hoạt men.
Cùng phần còn lại của công thức. Được thôi, Otto nghĩ. Etta với mình nói cùng thứ tiếng mà, cái này hẳn là rõ ràng, đơn giản thôi chứ gì. Ông đặt tấm thiếp xuống bàn lại, mở cửa chạn để tìm men và lôi nó ra ngoài. Mày đây rồi, ông tự lẩm bẩm, Chính xác luôn.
Mẻ đầu tiên của Otto cứng còng, y như khô bò. Bột bánh không chịu nở ra mà nằm chèo queo trong tô. Ờ, Otto tự nói với mình và mớ công thức. Cần phải xem xét lại một chút. Được thôi. Ông ăn chúng kèm với kem và xốt táo để khiến chúng mềm ra hết mức có thể.
Trước mẻ thử thứ hai sau đó vài ngày, Otto xem lại một lượt những tấm thiếp đầy dầu mỡ được sắp xếp theo bảng chữ cái, đến tấm thiếp thứ hai kế cuối ông mới phát hiện ra:
Men nở, kích hoạt
(Dành cho loại men khô. Để chắc chắn men còn sống và đưa vào nhào bột.)
Cần:
Men khô
Nước ấm
Đường cát trắng
Cách làm:
Đổ men vào một ly nước ấm nhỏ.
Cho vào hai/ba nhúm đường.
Chờ 5-10 phút. Men sống = nổi bọt và hơi ấm, men chết = trơ.
Otto lôi men với đường ra và đun nước. Ông trộn chúng lại với nhau và chờ mười lăm phút. Chẳng có gì. Ông chờ thêm mười lăm phút nữa để chắc chắn. Cũng chẳng có gì. Và năm phút nữa. vẫn như cũ. Tốt thôi, Otto nói. Giờ biết rồi nhé. Chết = trơ. Ngày hôm đó thay vì nướng bánh, ông đến Co-op để mua một ít men nở mới, cùng một khúc bánh mì, phô mai và dưa chua cho bữa tối.
Mẻ hai-phẩy-năm khá khẩm hơn một chút. Men ngâm nước thành công và tỏa mùi, khối bột nở bung ra trong tô chờ ông ấn xuống. Nhào bột là công đoạn đã nhất, Otto nghĩ trong khi tay đang nhào nặn khối bột. Đấy chính là mối liên kết giữa người làm với bánh. Vừa dịu dàng vừa bạo lực cùng một lúc. Nhồi một cách nhẹ nhàng cẩn thận, đều đặn như hành quân. Một khi đã bắt đầu, mọi việc được tiến hành thật tự nhiên và thoải mái. Cứ thế, cứ thế.
Lần này được hơn, tuy nhiên vẫn còn khô lắm. Dù nóng hổi mới ra lò nhưng mấy cái bánh trông cứ như là để ba hôm rồi vậy. Ông đem cho chim ăn.
Cụ nhào bột trong bao lâu thế? Sheryl hỏi. Cô đang kiểm tra hạn sử dụng trên bao thuốc lá. Cô lôi tất cả chúng để lên bàn tính tiền trong Co-op, phân loại theo nhãn hiệu, như thế những bao thuốc được xếp lớp sẽ tạo thành các dải màu trông như cầu vồng trước mặt.
Tôi không chắc nữa, Otto đáp. Hình như là mười lăm, hai mươi phút gì đó?
Hai mươi á! Wesley thốt lên. Cậu đang đứng phía sau quầy bánh nướng quét vụn bánh.
Vấn đề của cụ là ở đó đấy, Sheryl nói. Khỏi thắc mắc. Cô giơ một tay lên, xòe ra năm ngón. Năm phút tối đa, cô nói.
Vậy thôi ư? Otto hỏi.
Tối đa! Wesley hô.
Mẻ thứ ba của Otto ra vừa mềm vừa nở vừa thơm. Ông chăm chú nhìn ánh cam nóng bỏng ánh lên bên trong qua lớp kính trên nắp lò nướng như đang xem một bộ phim vậy. Khi bánh nguội, ông băng qua bên kia đồng và gõ cửa nhà Russell. Chốc sau, có vài tiếng động, rồi Russell ra mở cửa.
Ồ, chào Otto. Người Russell choán hết cửa ra vào nên Otto không thể nhìn thấy gì bên trong.
Chào Russell, hôm nay trời nóng quá hả?
Khủng khiếp.
Có con hươu nào không?
Hôm nay thì không.
Có lẽ mai sẽ có.
Ừ. Ý tôi là thế mà.
Ừm... Tôi vừa làm bánh đó.
Russell không đáp, một khoảng lặng sau Otto tiếp tục:
Tôi vừa làm bánh. Tôi có mang cho ông mấy cái bánh quế nướng đây. Mới ra lò.
Russell đưa mắt xuống thứ trên tay Otto, được gói trong một cái khăn bông có hai màu trắng xanh. Ông lùi lại một chút. Chà, ông nói, Ông vào nhà chơi tí nhé. Đoạn dịch người sang một bên chừa một khoảng trống chỉ vừa đủ cho Otto đi qua.
Nhà bếp của Russeil rất bé, đầy những thùng thiếc đủ kiểu. Thùng chứa các bộ phận xe hơi, xe tải, máy kéo, thùng chứa sách về động vật, thùng chứa các thể loại đinh, ốc, vít. Russell dời một cái thùng chứa toàn lọ rỗng dọn đường đến lò nướng để hâm nóng số bánh. Hai người ngồi ăn bánh, không phết thêm bơ.
Ngon lắm, Russell nói. Cảm ơn vì đã mang qua nhé.
Ừ thì, tôi biết Etta lâu lâu cũng có mang bánh sang đây mà. Thành ra...
Ông làm ngon gần bằng bà ấy rồi.
Họ tiếp lục ăn trong im lặng, cả hai đều nhìn ra cửa sổ. Mặt trời đang lặn xuống tấm màn da cam rực lửa. Họ ăn xong và Russell đứng dậy tắt đèn bếp phía trên đầu.
Otto, ông nói, Tôi biết. Tôi biết Etta đi mất rồi.
Otto quay mặt khỏi cửa sổ. Ông biết à?
Bà ấy viết tôi một lá thư, nhiều tuần trước. Russell chỉ vào một cái bảng thông báo phía sau lưng Otto. Trên đó có ghim một lá thư đã hơi phai mực. Lá thư nói:
Russell thân,
Tôi phải đi xa một thời gian. Hãy chăm sóc Otto nhé.
Tôi biết đó là chuyên môn của ông mà.
Yêu (mến) ông,
Etta
Ngắn gọn như thế. Ngoài lá thư, trên tấm bảng còn ghim chiếc phong bì đã chứa nó, với tên và địa chỉ của Russell được chính tay Etta ghi, dấu bưu điện ở Strasbourg, hai mươi hai ngày trước.
Nhưng. Nhưng sao ông không nói gì với tôi, Russell. Ông cứ để tôi dối ông.
Tôi không muốn ông thấy ngại. Với lại tôi bực mình.
Vì tôi không nói cho ông?
Vì ông để bà ấy đi.
Ông còn bực không?
Russell nghĩ ngợi. Còn, ông đáp. Nhưng nguôi bớt rồi. Ông ốm quá Otto. Ông do dự một khắc và tiếp, Ông có định cho tôi biết bà ấy ở đâu không?
Otto không thể. Chính ông cũng không rõ. Với lại ông cũng không muốn biết, cũng như không muốn Russell biết nốt. Vậy nên thay vào đó, ông kể Russell nghe về lá thư đầu tiên, về việc Etta đi bộ, về biển.
Và nhỡ bà ấy quên? Russell hỏi. Tên mình, nhà mình, chồng mình? Quên ăn quên uống, quên mình đi đâu?
Không ai quên ăn quên uống hết đó, Otto đáp.
Thật chẳng khác gì lúc trước, Russell nói. Y hệt ngày xưa, chỉ hoán vị trí. Ông và bà ấy, đổi vai cho nhau. Còn tôi, tôi lúc nào cũng ở đây.
Hơn bảy mươi năm trước, vài tháng trước khi các ngân hàng sụp đổ và kéo theo bố của nó, Russell lên sáu. Để ăn mừng, bố Russell dắt nó xuống cửa hàng của gia đình ở trung tâm thành phố cho nó chọn lấy một thứ, bất kì thứ gì. Đây là hoạt động thường niên của hai bố con kể từ khi Russell lên hai. Vào năm hai tuổi, Russell chọn một cây kẹo chanh. Năm ba tuổi, một cuộn giấy nhôm lấp lánh đẹp đẽ. Năm bốn tuổi, nó chọn một cái xẻng to quá khổ nhưng được mẹ hứa hẹn là sẽ cho nó chơi khi lên tám. Năm năm tuổi, nó lại chọn một cây kẹo chanh. Lần này, năm sáu tuổi, Russell tìm thấy một quyển sách được nhét giữa đống công thức nấu ăn và báo cũ. Một cuốn sách bìa cứng nặng trịch, bên trên bìa có mấy con thú gồm: một sói, một chim, một hươu, và một rắn, quây quần bên nhau như bạn bè. Bìa được bọc vải. Russell ấn và rà ngón tay lên xuống trên các thớ vải. Cái này, nó nói.
Theo chân và săn tìm động vật ở miền Tây Canada ư? bố nó hỏi. Con chắc chứ?
Russell vuốt ngón tay lên hình sói, chim, hươu, và rắn. Vâng, nó đáp. Con chắc.
Tối đó nó ngồi trong lòng bố và cả hai cùng nhau xem sách. Trong đó hầu hết là chữ, nhưng chính giữa sách có một mục gồm những hình vẽ tay trắng đen miêu tả các loại vết chân động vật được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái của tên loài. Con thích mấy cái này, Russell nói, trỏ vào hình. Trông chúng giống như mặt con thỏ, nhưng mà thiếu miệng.
Vết chân hươu, bố nó nói. Cả họ nhà hươu đều có dấu chân giống nhau, đều là mặt thỏ. Thấy không? Ông chỉ cái danh sách: tuần lộc, nai sừng tấm, nai sừng tấm Bắc Mỹ, hoẵng, hươu đuôi trắng...
Nếu ta phát hiện dấu vết và đi theo chúng thì sẽ gặp một con ạ? Russell hỏi.
Con phải thật im lặng và nhẹ nhàng, với cả kiên nhẫn, thì mới may ra.
Ôi chao, Russell nói.
Mà giờ thì chẳng còn mấy con trong thành phố đâu, bố nghĩ thế, ông nói.
Nhưng có lẽ vẫn còn một hai con?
Có lẽ là một hai con.
Ôi chao, Russell nói. Ôi chao ôi chao ôi chao.
Otto dò dẫm từng bước trên đồng để về nhà tối đó. Trời tối quá nên không dễ gì xác định được đường băng qua đám lúa. Nó làm ông nhớ đến những lần say xỉn về nhà. Như hồi với Russell qua cánh đồng gia đình Vogel, hay hồi đi qua những ngôi làng tịch mịch đáng sợ ở Pháp với những con người gần như xa lạ, hay lần duy nhất đó với Owen. Sau này có Etta ông không còn uống nhiều nữa.
Otto leo thẳng lên giường, hôm nay thức khuya hơn thường lệ. Ông ngủ được khoảng ba giờ thì...
Otto!
Tiếng đạp cửa. Tiếng đạp cửa. Và tiếng la hét.
Otto!
Ông ngồi dậy. Xác định lại mình đang ở đâu và mấy giờ rồi. Trên giường, mới hơn ba giờ sáng.
Otto!
Là Russell. Russell đang gào. Còn đôi bốt ông thì đang ra sức đạp cửa. Ông ta xỉn rồi chắc? Vì cái chân tật của mình mà mỗi lần đạp ông phải tựa người vào khung cửa. Otto có thể nghe được tiếng cọt kẹt khi Russell tựa người. Cọt kẹt. Rầm rầm. Otto! Cọt kẹt. Rầm rầm. Otto kéo màn và mở cửa sổ cạnh giường. Cửa sổ nhìn ra phía trước cùng hướng với cửa chính. Ông ló đầu ra.
Russell. Trời đất ơi ba giờ sáng rồi.
Chúng ta phải đi thôi! Russell gào lên. Tôi không xỉn. Đừng có tưởng tôi xỉn, Otto. Tôi tới đây và giờ ta phải đi ngay! Ta phải đi tìm bà ấy. Otto. Otto! Ở ngoài đấy bà ấy sẽ chết mất! Có khi bà ấy chết hẳn rồi! Xỏ giày vào. Tôi đậu xe tải ngay đây. Chúng ta có thể đến được địa phận Manitoba vào sáng sớm.
Otto nghiêng người ra phía trước tựa vào khung cửa sổ gỗ. Những đốm sơn trắng nhỏ dính vào bụng ông. Ông để mình trần. Đất nước này to lắm đó, Russell, ông đáp.
Tôi biết, tôi biết mà Otto. Chính vì thế đó Otto. Chính vì thế đó!
Không, Otto đáp.
Otto! Russell gào lên.
Không, Otto nói.
Nhưng mà, chết tiệt, Otto!
Không, Otto nói. Không, tôi không đi đâu Russell.
Chồng con thế đấy, Russell chửi. Chồng con mẹ nó thế đấy. Ông đạp cửa lần nữa, mạnh hơn. Phản lực từ cánh cửa đẩy ông ngã ra sau về phía chiếc xe. Đã vậy tôi đi một mình. Đi bây giờ, một mình. Chồng con mẹ nó chứ. Ông quay lưng lại khỏi Otto.
Bà ấy không muốn thế đâu Russell, Otto nói, nhỏ nhẹ. Quá nhỏ để Russell người đang cà nhắc quay trở lại xe và bật đèn pha rọi hiên nhà Otto sáng rực như ban ngày, có thể nghe thấy.
Một đêm nọ, anh em nhà Vogel dán tai xuống tấm ván sàn mòn vẹt nghe lỏm bố mẹ chúng nói chuyện trong bếp ngay bên dưới. Chúng nghe được:
... em không thể đem liệng cái radio được! Nó đắt lắm.
Đắt khỉ, toàn đồ đầu thừa đuôi thẹo anh chắp lại thì có.
Ừ, nhưng bình thường thì trước giờ radio vẫn đắt chứ... Em biết là liệng nó đi thì cũng chả ngăn được gì mà.
Mấy đứa nhóc sẽ nghe được mất, rồi...
Trước sau gì chúng cũng nghe thấy thôi.
Có thể không.
Có đấy.
Có lẽ không quá sớm.
Giờ chúng nó không còn là nhóc nữa rồi. Một vài đứa, Amos, Walter, Otto... Em không thể ngăn chúng lớn lên.
Nhưng em có thể ngăn chúng ra đi.
Có thể.
Nhà Schiffs ở Kenaston chỉ có mỗi một đứa. Benedict ốm yếu. Mười sáu. Và nó đi rồi.
Chà, còn nhà mình thì có nhiều hơn một đứa...
...
Anh giỡn.
Em biết.
Em biết anh cũng không muốn chúng phải đi mà.
Vâng, em biết.
Có tiếng cốc chồng lên nhau.
Để dò thử xem có tìm được tí nhạc nào không...
Không có nhạc đâu, chỉ có tin tức.
Thử đã.
Có tiếng rè rè và giật giật từ các đài. Cuối cùng, một giai điệu nhẹ nhàng cất lên, với tiếng kèn clarinet, tiếng kèn săn đệm, đàn piano, cùng tiếng chân bước nhẹ nhàng, tất cả hòa vào nhau cùng một lúc.
Khi các anh chị em đã giải tán về giường, trên mặt mỗi người hằn đỏ vết vân gỗ của sàn nhà, thì Otto bất thần nhận ra tất cả là do cậu. Điều mẹ lo sợ chính là cậu, hay chính xác hơn là bản chất con người cậu. Cũng là lý do khiến cậu cảm thấy e sợ bản thân. Otto nhận ra rằng không bao lâu nữa cậu sẽ đi. Và, dù không nói cho ai nghe, kể cả Russell, cậu vừa thấy thật buồn nhưng cũng vừa thấy vô cùng phấn khích.
Hôm sau đến lượt Otto đi học, rảo bước cùng một đám anh chị em lê lết ngái ngủ cùng được miễn làm ngày hôm đó. Tuy nhiên khi cả bọn đến nơi, cổng trường đóng kín còn những học sinh khác đứng lố nhố trên mảnh sân bụi bặm bên ngoài. Cửa khóa rồi, một con nhỏ gầy nhom với bím tóc vàng ủng nói. Tụi này thử hết rồi nhưng không ai vào được cả.
Thầy Lancaster đâu? Walter hỏi. Cậu là đứa lớn nhất, cao tuổi nhất, to đầu nhất bọn. Con nhỏ mím môi nhún vai rồi lại chạy về phía bạn của mình.
Một đứa con gái khác từ một nhóm lớn và già hơn, người dành khá nhiều thời gian tán chuyện về Walter và ngắm cậu, la lớn từ bên kia sân, Bụi. Hẳn là do bụi đó Walter, rồi khạc, nhổ.
Không ai thật sự ngạc nhiên về sự ra đi của thầy Lancaster. Ba tuần qua ông phải dạy học trong im lặng. Trước đây ông luôn lên lớp với cửa sổ phòng học mở toang đón ánh sáng và không khí, ông đã để như thế cả sự nghiệp dạy học của mình ở trường Gopherlands. Thế tức là mỗi ngày trong suốt thời gian đó, cơn gió tây bắc thường thấy sẽ cuốn bay đám bụi trên những cánh đồng và vượt hàng dặm, hàng dặm trường tống thẳng vào miệng ông thầy vốn thường xuyên phải há ra để giảng bài. Thầy Lancaster là dân thành phố nên nào biết đến trò khạc nhổ kia. Mỗi tối ông nằm ngủ cuộn người bên lưng vợ và thở phì phì ra bụi như một con rồng, để rồi sáng thức giấc bà phải rũ tóc như rũ bụi khỏi giẻ lau bảng. Hơn mười năm giảng dạy ở Gopherlands, tiếng thầy Lancaster càng ngày càng bé đi cho đến một hôm thì tắt hẳn. Ông dùng cử chỉ và lấy phấn vẽ lên bảng để dạy thêm được một thời gian nữa đến khi bị hội đồng nhà trường phát hiện.
Đó là lý do giờ đây đám học sinh phải ngồi thành từng nhóm hoặc cụm nhỏ trên lớp cỏ khô, đưa lưng và cổ ra đội trời dưới ánh nắng gay gắt trong tình cảnh không có giáo viên, tự bày trò để giải trí bằng cách tán gẫu hay chơi trò chơi hay ngủ trong khoảng hơn một giờ đồng hồ, đến khi một người đàn ông mồ hôi nhễ nhại mặc bộ vest màu xanh lính thủy nặng nhọc bước về phía chúng từ phía mặt trời. Ờ, chào mấy đứa, xin lỗi, xin lỗi nhé, lão ta nói. Lão mở cửa để chúng vào trường bằng một chiếc chìa khóa trên một xâu chìa có hơn tá chìa. Nó mới thật ồn ào làm sao. Mời các bạn ngồi, xin đừng ồn nữa, lão nói. Lão viết lên bảng năm bài toán. Đây, lão nói, tôi sẽ giải thích mọi chuyện ngay lát nữa thôi. Nhưng mà đầu tiên thì mời các bạn giải! Giải đi. Lão bảo tụi học sinh ngồi cắm cúi im lặng làm toán trong khi lão điên cuồng mở và lục lọi ngăn kéo cùng giấy tờ trên bàn của thầy Lancaster, người vẫn đẫm mồ hôi.
Otto thấy toán khá đơn giản. Trước nay cậu đã quen đếm các anh chị em trong nhà rồi. Chia công việc, nhân khẩu phần ăn. Cậu đã xong và chẳng biết làm gì, vừa lúc Owen chuyển cho cậu một mẩu giấy gấp lại. Otto mở nó ra.
Tên cậu là gì?
Owen viết câu này sát tít trên rìa của mẩu giấy, chừa ra một khoảng trống lớn bên dưới. Otto viết tên họ của mình, gấp lại rồi trả mẩu giấy cho Owen. Owen mở ra, viết thêm dòng mới và lại chuyển cho Otto. Cứ như thế qua lại:
Tên cậu là gì?
OTTO VOGEL
Cậu khỏe không?
TAO KHẺO (khỏe)
Mình cũng thế. Lão này tởm quá. Như một con thú vậy.
CÓ LỄ LÀ CON CHÓ HAY NGỰA. (có lẽ)
Mình sợ lũ ngựa lắm.
TAO BIẾT.
Mình cùng về nhà với cậu sau giờ học hôm nay được không?
MÀY Ở PHÍ(a) TÂY. TỤI TAO Ở PHÍ(a) ĐÔNG, VẬY KÔN CÓ ĐƯỢC. (Không)
Mình thích đi bộ mà.
TAO VỚI RUSSEL TỤI TAO ĐI CHẬM LẮM. MÀY SẼ BỊ ĐỐUY
Owen lấy cây bút từ tay Otto và viết, ĐUỐI.
Trên bục giảng, lão vận vest đã tìm ra thứ mình cần và giờ đang hí hoáy ghi ghi chép chép vào mặt sau tờ bài làm của một học sinh nộp lên. Lão đứng lên sau khi viết xong. Các em! lão hô. Mấy đứa làm xong bài rồi chứ. Ta có tin buồn đây. Mấy đứa chắc cũng thấy là thầy Lancaster không có ở đây. Thầy ấy sẽ không đi dạy nữa. Như mấy đứa đã biết vì thầy ấy đã mất tiếng nên không còn phù hợp với vai trò là giáo viên nữa, và giờ thay vào đấy thầy sẽ phải ra chiến trường chiến đấu. Ta biết điều này gây khó khăn cho các cô cậu và ta rất xin lỗi. Giờ thì ta cần một người chân khỏe, có ai xung phong không?
Winnie, người có đôi chân cựa quậy liên tục dưới bàn và luôn cảm thấy tù túng khó chịu mỗi khi ngồi im một chỗ quá mười phút, giơ thẳng tay lên trời. Cô là người duy nhất xung phong. Vậy nên, lão vận vest từ hội đồng trường đưa cô một tờ thông báo và sai cô chạy tám kilômét vào thị trấn để chuyển nó cho trường trung cấp ở đó. Winnie biến mất ngoài cửa trước khi lão kịp chỉ cô hướng đi, dù sao cũng chỉ có một đường đến đấy.
Được nửa đường sau khoảng ba mươi phút, Winnie dừng lại nghỉ và ăn quả táo cầm ở tay trái nãy giờ. Tờ thông báo ở bên tay phải. Trong lúc ăn cô mở cái phong bì dán lỏng lẻo ra để xem thứ mình đang chuyển là gì. Thầy Lancaster đã kể cho chúng nghe chuyện về Hamlet, nên để an tâm cô nghĩ mình phải biết nội dung tờ thông báo. Những dòng chữ nguệch ngoạc viết bằng mực đen đậm nói rằng:
QUAN TRỌNG/KHẨN CẤP:
Trường trung học Gopherlands đang cần gấp:
Một giáo viên. (Cho mọi cấp lớp.)
Yêu cầu:
- Được đào tạo bài bản.
- Sẵn sàng dọn đến ở gần trường.
- Dạy trong phòng kín cửa. (Vài cửa sổ hướng đông hoặc nam thì không bắt buộc.)
Ứng cử viên xin liên hệ với WILLARD GODFREE, Quản lý Khu vực, càng sớm càng tốt.
Có thể gửi điện tín, thư tay, hoặc gặp mặt trực tiếp ở Văn phòng Sở Dân sự (143, đường Main) hoặc tại căn nhà thứ ba bên tay trái (cửa vàng) ngay đầu thị trấn. Xin đừng đến sau 9 giờ tối.
Sau khi đã chắc chắn về sự an toàn cho bản thân, Winnie gấp tờ thông báo lại và bỏ vào phong bì, sau đó dùng mấy ngón tay khi nãy cầm táo vẫn còn dinh dính dán mép lại. Cô di di chân trên đất để tạo thành một vết lõm rồi chôn lõi táo xuống, lấp đất lại bên trên, và chạy nốt đoạn đường bốn kilômét còn lại.
Đứa con gái mở cửa cho Winnie ở trường trạc tuổi cô nhưng trông tươm tất hơn và có mái tóc tết bím. Vâng? cô ta hỏi.
Có thông báo, Winnie nói và trao tờ thông báo cho cô ta bằng bàn tay phải đỡ nhớp nhúa hơn.
Cảm ơn, cô ta đáp. Một phụ nữ rất trẻ, cùng vài người khác ăn vận giống hệt cô gái trông cửa đi ngang, cố tỏ ra không chú ý.
Bạn có muốn... cô gái nói, nhưng Winnie làm như không nghe thấy và bắt đầu hành trình quay về trường, chạy trên con đường dẫn ra khỏi thị trấn. Cô cũng không chắc mình có muốn hay không.
Ngày tiếp theo Russell đi học, lớp được nghỉ. Thông báo gắn trên cửa:
Xin cáo lỗi...
Hôm nay lớp nghỉ. Vui lòng quay lại ngày mai.
Cảm ơn và xin lỗi.
Ngày hôm sau nữa là lượt của Otto, trường trở lại hoạt động. Đứng trước lớp là một cô gái chưa ai gặp bao giờ. Khi những chiếc bàn nhỏ xíu kia được lấp đầy với những thân người quá khổ, cô ấy bước đến cuối phòng và đóng chặt cửa lại. Otto quan sát bắp chân của cô khi cô quay trở lên bảng. Đôi bắp chân tuyệt vời. Cô ấy hẳn không thể quá chênh lệch tuổi tác với Otto được. Chắc chắn là trẻ hơn Amos hay Marie. Đến trước bục giảng cô quay lại vỗ hai tay vào nhau một hai lần và hắng giọng. Chà, cô nói, Chào cả lớp. Mình nghĩ rằng tất cả đã ổn định và bắt đầu học được rồi nhỉ. Mình sẽ hướng dẫn các bạn. Tên mình là Kinnick, Cô Etta Kinnick. Cô giáo mới của các bạn. Và cô cười.
•••
Lớp của Etta ở trường sư phạm có mười lăm nữ sinh. Tất cả đều mặc váy màu cam sẫm xếp li như váy của đàn ông Scotland. Họ được tự do chọn kiểu áo riêng miễn màu trắng và được là phẳng. Một vài cô gái sống ở ngay trong những căn phòng ký túc nằm phía trên giảng đường. Mỗi khi muộn giờ, Etta có thể nghe tiếng chân họ huỳnh huỵch trên đầu, lớn dần khi xuống cầu thang. Dù vậy Etta vẫn tiếp tục sống với bố mẹ ở nhà. Sớm tối chỉ mất hai mươi phút đi xe điện hoặc bốn lăm phút đi bộ thôi. Ở nhà thì đỡ tốn kém hơn, nhưng đó cũng không phải là lý do chính. Etta biết căn nhà sẽ trống trải và vắng lặng biết chừng nào nếu cả hai cô con gái đều đi mất.
Cô đang học năm cuối của chương trình hai năm thì một em khóa dưới gọi Caroline mở cửa cho một cô nhóc nông dân lem luốc thở hổn hển. Etta thấy cô bé khi đang di chuyển giữa các lớp học, cô ấy có vẻ hoang mang.
Chiều hôm đó, ở lớp Nguyên lý Kỷ luật Cơ bản, giảng viên của họ đọc to một bản thông báo từ trường Gopherlands cho tất cả mười lăm em năm hai. Tiếng bút chì sột soạt ghi chép lại thông tin cùng tiếng thở gấp gáp vang lên rào rào châm vào tai Etta như kim chích. Bao nhiêu năm rồi khu này không hề có công việc nào. Một lượng lớn sinh viên phải chịu cảnh tốt nghiệp, lập gia đình, có một đến ba đứa con, ở nhà làm bánh và hát ru con đến cuối đời. Sau khi đọc thông báo, vị giảng viên đặt tờ giấy trên cạnh bàn ông để sinh viên có thể lên xác minh sau giờ học nếu muốn, và quay trở lại với bài giảng về Sticks and Stones[1]. Trong đầu, Etta đếm đến một trăm và đếm ngược lại. Khi trở về đến không, cô giơ tay dù không có câu hỏi nào được đưa ra. Vị giảng viên nhìn thấy cánh tay cô ngay khi dứt lời và ngẩng đầu lên khỏi cuốn sổ. Có chuyện gì, trò Kinnick? ông nói. Cả lớp đồng loạt hướng ánh nhìn vào cô.
Em có thể xin phép vào nhà vệ sinh được không? Etta hỏi, giọng rụt rè do dự.
Ừ, ừ. Dĩ nhiên.
Các học sinh khác, giờ đã hết hứng thú, quay lại nhìn bảng, nhìn sách, nghĩ ngợi.
Ngay khi cánh cửa phòng học khép lại, Etta vùng chạy, ra khỏi trường, dọc theo đường Creek Lane đến Victoria. Tiếp tục từ Victoria đến Main, và theo đường Main đếm số nhà: 121, 123, 125, 127, 127A, 129, 131, 133, 135, 137, 139, 141, và cuối cùng, 143. Cô lấy lại hơi thở. Gài lại mái tóc. Cô ước chi mình đã mang theo mũ. Cô đếm đến ba và bước vào Văn phòng Sở Dân sự.
Tôi đến đây để đăng ký công việc ở Gopherlands. Tay cô đan chặt với nhau ở sau lưng, run rẩy. Trong khi mặt cô điềm tĩnh, có phần lạnh lùng, chững chạc.
Ồ, ồ, được, tuyệt lắm. Cô ở trường trung cấp phải không?
Vâng.
Cô đủ tuổi chứ?
Vâng. Dù Etta chẳng biết bao nhiêu tuổi thì mới đủ. Cô cảm thấy mình đủ.
Cô có thể dạy trong tình trạng đóng kín cửa chứ?
Vâng.
Được rồi, thế thì tốt lắm. Tốt. Giờ cô phải ký vào mấy tờ giấy này. Cô có một ngày để thu gom hành lý và chuyển đến ở trong nhà giáo viên. Ngày mốt cô bắt đầu dạy.
Chỉ như thế, Etta ký vào giấy, bắt tay Willard Godfree, và bước ra khỏi văn phòng, xuống đường Main. Sau đó cô chớp mắt một, hai cái và ù về trường.
Sau buổi học, từng cô gái trong số mười bốn người còn lại đến số 143 đường Main và đều nhìn thấy tờ thông báo trên cửa:
Cảm ơn các cô giáo, nhưng:
Vị trí đã có người đăng ký.
Rất tiếc.
W.G.
Một vài cô quá khích còn đến tận căn nhà số ba bên trái trên đường vào thị trấn, nhưng tại đó trên cánh cửa vàng đính một tờ giấy với nội dung y hệt:
Cảm ơn các cô giáo, nhưng:
Vị trí đã có người đăng ký.
Rất tiếc.
W.G.
❀ ❀ ❀
[1] Sticks and stones may break my bones, but names can never hurt me. - Câu thành ngữ cho trẻ em, đại ý là gậy gộc có thế gây đau đớn, nhưng lời nói thì không.