James rất thích hát hò, cậu chàng hát luôn mồm. Giọng ca của sói cỏ tựa như tiếng sáo dọc, không hẳn là khó nghe. Đôi khi Etta hát cùng nó, đôi khi chỉ lắng nghe. Cậu chàng thường hát những bài ca về cao bồi. Thỉnh thoảng lại thay đổi bằng thánh ca hay mấy bài trên radio mà nó học được từ lũ chó, nhưng chủ yếu vẫn là nhạc cao bồi:
Ơi đừng chôn tôi trên thảo nguyên cô độc
Nơi sói cỏ tru và gió thổi tự do
Trong một nấm mồ nằm ba tấc dưới cỏ...
Ơi đừng chôn tôi trên thảo nguyên cô độc
Etta ngâm nga theo bài hát, cả hai bước những bước đi ngắn như kiểu bước chân trong những buổi chiều muộn, mệt mỏi nhưng không lạc lối. Ngày dài ra và nắng nóng gay gắt hơn, mặt trời mọc trước năm rưỡi sáng và bám trụ đến hơn chín giờ tối. Etta đá văng một hòn đá. Ngày càng xuất hiện nhiều đá hơn. Cả hai đang tiến về Ontario, James đánh hơi được mỗi lẫn nó ngắt nhịp để thở. Lần tiếp theo khi đang lấy hơi ngay chữ Ơi! thì nó bị Etta xen ngang.
Mày có nghĩ là Amos sẽ không vui nếu tận sáng mai mình mới đến không? bà hỏi và đột ngột dừng lại, Tao mệt lắm rồi.
James đang chạy lon ton trước Etta bèn chậm nhịp chân lại để cả hai có thể đi ngang hàng nhau. Chắc là không đâu, nó đáp. Dừng lại nghỉ thôi, mai ta tiếp tục.
Sau khi Etta đã say giấc, trước khi cuộn tròn người lại ngủ theo, James chúi mõm vào túi của bà và lôi ra một tờ giấy, cẩn thận không để lại dấu răng quá sâu. Tờ giấy ghi:
Mình:
Etta Gloria Kinnick ở trang trại Deerdale. Tháng Tám này 83 tuổi.
Gia quyến:
Marta Groria Kinnick. Mẹ. Nội trợ. (Đã mất)
Raymond Peter Kinnick. Bố. Biên tập viên. (Đã mất)
Alma Gabrielle Kinnick. Chị gái. Ma-xơ. (Đã mất)
James Peter Kinnick. Cháu trai. Em bé. (Chưa từng sống)
Otto Vogel. Chồng. Lính/Nông dân. (Còn sống)
James tìm cách dúi tờ giấy xuống dưới cánh tay Etta để bà có thể nhìn thấy khi cả hai thức dậy vào khoảng năm rưỡi sáng hôm sau.
•••
Bốn tháng trước, Otto choàng tỉnh vì mơ thấy mình bị ngộp nước. Ông ngồi dậy và gạt tấm chăn qua một bên như gạt những con sóng. Trời vẫn còn tối và lạnh lẽo. Ông chậm rãi khoác áo choàng và lê bước vào nhà bếp. Chiếc áo khiến ông thấy ấm hơn dù nó quá dài với hai cánh tay và cả người ông, trông như một cái váy cưới. Ông lấy vài cái bánh quy gừng ra khỏi một cái lọ để trong tủ lạnh và ngồi xuống bên chiếc bàn đỏ rực lấp lánh ánh sao, cố gắng thoát khỏi cảm giác chết đuối trong giấc ngủ. Đại dương mênh mông và bầu trời chuyển động.
Otto tỉnh giấc khi Etta rời khỏi giường, vắng bà, cái lạnh ùa đến gần như ngay lập tức khi ông hít không khí vào. Ông nhắm mắt lắng nghe tiếng bà khi bà tìm cách choàng chiếc áo khoác của ông vào và ra khỏi phòng đóng cửa lại. Ông nằm nghe ngóng tiếng nước chảy trong nhà tắm và đợi bà quay lại. Ông đếm đến hai trăm năm mươi, lắng nghe, và lặp lại từ đầu. Đoạn ông cũng ngồi dậy.
Etta đang khoác chiếc áo choàng của ông ngồi bên bàn ăn. Etta à, Otto gọi, Etta.
Etta nào cơ? Etta đáp. Bà hạ cái bánh quy đang đưa lên miệng xuống. Bà nhìn chằm chằm vào chồng mình như một bóng ma, như một tấm gương.
Vậy ta nên làm gì đây? Otto hỏi vào bữa sáng hôm sau, gồm bánh quế nướng và cam.
Có lẽ em nên ra đi, Etta đáp. Đến một nơi dành cho những người không nhớ mình là ai.
Nhưng anh nhớ, Otto nói. Anh nhớ còn em quên, vậy ta có thể cân bằng nhau.
Có lẽ em nên đi thật, Etta lặp lại. Tóc bà trắng và rối. Lọn tóc lòa xòa trước miệng bà khiến Otto nhớ đến bọn ngỗng con. Đám lông tơ phất phơ ngày trước.
Em có thể làm hại ai đó, bà tiếp. Chiếc bánh quế nướng trên đĩa của bà cuộn lại từ ngoài vào trong, tạo thành một hình xoắn ốc hoàn hảo. Không thể chê vào đâu được.
Không đâu.
Anh chắc thế à?
Anh chắc.
Hai người ngồi ăn trong một lúc, và Etta nói, Hôm nay anh tính làm gì?
Đến nhà Palmer, chắc vậy. Giúp bên đó một chút.
Đội nón vào. Nắng đấy.
Nhớ rồi. Còn em?
Etta đặt tay trái của mình lên bàn, duỗi thẳng các ngón. Dưa chua, bà nói, Cà rốt với gừng và dưa leo.
Mùa đông còn lâu lắm mới đến mà.
Không lâu đến thế đâu.
Có lẽ là không lâu đến thế thật.
Russell cắm cúi lái xe. Con đường tối tăm và tĩnh lặng. Trước khi đến Hồ Last Mountain ông chỉ nhìn thấy ba chiếc xe khác và không nhận ra chiếc nào trong số chúng. Kính cửa sổ được hạ xuống đưa gió lùa vào trong xe khiến ông cảm thấy tỉnh táo và đầy sinh lực. Nụ cười thường trực trên môi. Ngay sau bình minh ông đã tiến vào địa phận tỉnh Manitoba, nơi xa nhất ở miền đông ông từng đặt chân đến.
Khi Russell đang trên đường, Otto cố gắng ngủ lại nhưng bất lực. Ông đành xuống bếp và nhắm mắt lấy ngón tay chỉ đại vào một tấm thiếp hướng dẫn nấu ăn.
Bánh mè vuông
(hay bánh hôn nhân)
Ông chuẩn bị bột, đường, và bơ.
•••
Ngày thứ hai sau lần ra mắt của Etta Kinnick ở trường Gopherlands. Otto đến đón Russell sau giờ học. Cậu đã xong việc nhỏ thuốc cho lũ bò. Nếu không có thuốc bụi sẽ làm mắt chúng khô lại và mi mắt dính chặt vào nhau gây mù. Khi cậu nhỏ thuốc vào chúng khóc, những giọt nước mắt màu nâu đầy biết ơn. Chúng cứ khóc và khóc, đôi khi kéo dài hàng giờ. Vẫn còn một lúc lâu nữa Otto mới phải quan sát việc nấu bữa tối nên cậu có thời gian đi bộ cùng Russell. Cậu tựa người vào bức tường gỗ bên hông trường và chờ đợi cùng với những con chó khác từ các trang trại lân cận trông ngóng chủ của mình. Cậu gãi đầu một con chó lai lông vàng to lớn. Trời nóng khiến lưỡi chúng thè ra lủng lẳng bên ngoài cái mõm khô khan. Cả bọn người và thú cùng lắng nghe tiếng sột soạt và tiếng thu dọn đồ đạc của học sinh vào cuối buổi.
Đứa đầu tiên ra khỏi trường là Owen. Nó lách qua lũ chó để đến với Otto. Chào Otto, nó nói. Hôm nay không gặp.
Russell ngay sau lưng. Otto! nó gọi. Cô giáo mới! Cô giáo mới... Đi nào, về nhà thôi. Tao muốn nói chuyện với mày liền, ra xa khỏi đây một chút. Nó đặt tay lên vai Otto và đẩy cậu đi.
Được rồi, được rồi. Otto đáp. Đi thôi. Và sau ba bước chân cậu ngoái đầu lại phía trường học, Chào Owen. Hẹn mai gặp lại.
Otto ơi cô ấy thật hết sảy, Russell nói. Hai đứa đã cách trường được vài trăm mét, vừa đủ xa. Tại sao mày không kể tao là cô ấy thật hết sảy chứ?
Tao có kể là mình có cô giáo mới mà. Có kể là cô ấy được mà.
Được với hết sảy không giống nhau.
Có lẽ là không giống nhau thật.
Tao hỏi nhiều lắm, cô ấy sẽ nhớ mặt tao nè Otto. Tao sẽ đọc hết những cuốn sách tao tìm được. Tao sẽ là đứa học trò giỏi nhất của cô... Otto ơi, mày không nghĩ cô ấy thật hết sảy sao?
Otto nhún vai. Cậu thật sự không chắc lắm. Cô Kinnick có vẻ là một cô giáo tốt. Và cô có bắp chân đẹp nữa. Nhưng cô vẫn là giáo viên. Giáo viên của chúng.
Tao nghĩ cô ấy thật hết sảy, Otto, Russell nói. Chỉ thế thôi, hết sảy.
Im đi Russell, Otto nói. Nhưng cậu thấy mừng. Russell không phải người hay hớn hở lắm, thấy nó vui vẻ thật tốt.
Không phải là Otto chẳng biết gì về phụ nữ hoặc không hứng thú với họ. Cậu biết và cậu có thích, nhiều là đằng khác. Những khi đang cố dỗ giấc ngủ vào buổi tối, đầu óc và cơ thể cậu luôn quanh quẩn với những hình ảnh mờ căm trên mấy tấm bưu thiếp, cô hàng xóm cưỡi ngựa không mang yên, và những người phụ nữ mướt mát mồ hôi xuyên qua lớp vải cotton họ mặc trên phố trong ngày nắng nóng, hòa chung với chúng là tiếng còi, tiếng bước chân mạnh mẽ, và tiếng la hét phát ra từ radio của nhị vị phụ huynh không biết lũ con mình vẫn còn thức và đang nghe lỏm hàng đêm. Ý nghĩa của âm thanh trên radio và nơi nó sẽ đưa cậu đến, nếu cậu muốn. Nhưng giữa tất cả những thứ ấy, cậu vẫn chưa biết được mình thật sự khao khát điều gì.
Nhưng Otto, mày không thấy là cô ấy cực...
Russell, Otto ngắt lời, Cô Kinnick hết sảy, đúng thế, và cô ấy sẽ vẫn như thế, chúng ta có thể tiếp tục ca ngợi sau được chứ, còn hiện tại, tao cần mày giúp. Tao phải ăn trộm cái radio.
Russell dừng bước, ngẩng lên.
Không phải lấy luôn, chỉ trong khoảng nửa giờ hay thế thôi. Tao cần mày đánh lạc hướng mẹ để bà không chú ý đến nó trong một lúc. Đủ lâu để tao đem nó đi và nghe cho rõ ràng. Không phải nghe lỏm qua ván sàn vào ban đêm. Nghe trực tiếp ấy. Nửa giờ thôi. Rồi tao sẽ trả nó lại ngay.
Là vì mày muốn biết về sự kiện nọ chứ gì.
Chính xác.
Bà ấy không muốn chúng ta biết đâu.
Đúng. Nhưng còn mày? Mày muốn biết chứ?
Không. Có lẽ. Không đâu, không hề. Tao tin tưởng mẹ, Otto.
... Nhưng mày vẫn sẽ giúp tao chứ?
Ừ, dĩ nhiên rồi.
Mẹ của Otto là một người thương cho roi cho vọt, và bà xem Russell như một trong số những đứa con của mình, có điều bà mềm mỏng với nó hơn một tí. Bà biết rõ con mình, rằng chúng có thể được rèn giũa một cách khó khăn để sống và học hỏi kinh nghiệm từ đó, nhưng bà lại khá mơ hồ về Russell, nó dễ bị tổn thương, hay chăng là đã bị tổn thương một phần rồi. Đây chính là lý do Otto cầu đến sự giúp đỡ của nó. Mẹ cậu sẽ không đời nào mủi lòng trước cậu, nhưng với Russell thì may ra.
Cái radio này được bố Otto chắp vá từ nhiều bộ phận rời rạc lại với nhau trong những khoảng thời gian rỗi rãi ngắn ngủi mà ông dôi ra khi thực hiện việc đồng áng, làm cha, làm chồng. Nó hoạt động rất tốt, chỉ thiếu một vài cải tiến nho nhỏ như bộ chỉnh âm lượng. Trong nhà mà có người nghe đài thì cả nhà đều được nghe chung. Trên gác thì yên tĩnh hơn, nhưng âm thanh vẫn có thể len qua kẽ ván trên trần nhà và bị nghe thấy, đặc biệt là đối với mẹ của Otto. Thế nên điều Otto muốn là mẹ cậu phải hoàn toàn rời khỏi nhà, và chắc ăn hơn là khuất hẳn sân trước, trong một khoảng thời gian đủ để cậu dò và nghe ở cái radio điều mà cậu vẫn đang tìm nghe.
Vậy, tao phải làm thế nào? Russell hỏi. Chúng sắp về đến nhà; những đứa học trò nhà Vogel khác mà chúng cho đi trước đã đang trên đường vào nhà.
Lũ gà, Otto đáp.
Lũ gà?
Ừ. Tao có kế này.
Chúng sẽ đem một con gà bỏ lên cây. Một trong những cái cây chắn gió, nằm gần cuối hàng cây, xa khỏi căn nhà. Giả vờ là con gà xổng ra, bay lên đấy, hoảng loạn và không xuống được.
Mẹ biết cách ứng phó với lũ gà. Bà là người duy nhất làm được. Nếu mày nhờ thì mẹ sẽ hiểu và đến giúp thôi.
Vậy là mày nhờ tao nhờ bà ấy?
Ừ. Nhé.
Ô kê. Ô kê, Otto.
Cảm ơn nhé. Nhưng mà đầu tiên, giờ, ta phải đem con gà lên cây đã.
Do chân của Russell nên Otto làm nhiệm vụ leo trèo. Russell, cố hết sức tỏ ra thờ ơ, giấu con gà dưới áo khoác và mang ra khỏi sân, qua căn nhà, dọc theo hàng cây nghiêng ngả vì gió đến cái cây áp chót, hai cánh tay giữ thật chặt để cố gắng giảm thiểu thương tích vì bị mổ và cào cho ngực và bụng mình được chút nào hay chút ấy. Otto đã chờ sẵn trên cây.
Con vật này không vui vẻ gì đâu, Russell gọi với lên khi đến nơi. Con vật này muốn giết tao.
Không có đâu. Đừng giết nó. Đừng siết chặt quá. Đừng làm nó ngạt.
Không đâu.
Được rồi.
Lúc này Russell đang đứng dưới cái cây, dưới Otto với cặp giò lúc lắc ngay trên đầu nó.
Được rồi, Otto nói. Lôi nó ra và đưa nó đây.
Không khó để Russell thuyết phục mẹ Otto rời khỏi nhà để đến và giúp con gà bị mắc kẹt trên cây.
Con kêu nó rồi cô ơi, nó nói, mà nó lại nhảy lên cành cao hơn. Nhưng con nghĩ là cô có thể kêu nó xuống. Con nghĩ là nó sẽ nghe lời cô.
Dĩ nhiên là thế rồi Russell. Gà, trẻ con, như nhau cả thôi. Chờ cô thêm một phút rồi cô ra với con.
Russell chờ ngay trước cửa chính. Một phút sau, mẹ Otto xuất hiện. Bà mang theo hai cái chăn. Trong trường hợp mình phải bắt nó, hoặc dồn nó lại, bà nói, rảo bước qua mặt nó, hướng về phía hàng cây. Khi hai người đã cách xa mười bước, Otto, lẳng lặng như một con cáo, lướt vào trong nhà và đóng cửa chính lại sau lưng.
Cái radio là một tạo vật tuyệt đẹp. Bề ngoài hổ lốn và vá chằng vá đụp nhưng bên trong nó chứa đầy tiếng nói, chứa đầy người và âm nhạc và ý tưởng từ những nơi xa xôi, xa rất xa, Otto hít một hơi và bật nó lên.
Và nó không hoạt động.
Otto trả núm số về và vặn lại một lần nữa. Cậu tắt và bật cái máy lần nữa.
Và nó không hoạt động. Otto nhìn cái radio và cái radio nhìn Otto, im lặng, vô cảm. Ngay từ đầu cậu đã không có nhiều thời gian, bây giờ lại càng eo hẹp hơn. Cậu rà tay hai bên hông radio, nhưng không có cái núm hay công tắc hay bảng điều khiển nào mới lạ cả. Cậu thận trọng dồn sức, lật cái máy lại để lộ lưng máy ra. Ở đó, ngay sau lưng máy, là một cái ngăn mà bố cậu đã thiết kế sao cho vừa với pin True-Tone. Và ở đó, trong cái ngăn ấy, trống rỗng.
Bên ngoài hàng cây chắn gió kia, mẹ Otto và Russell túm con gà đang nổi điên và kiệt sức vào một cái chăn. Bên trong cái chăn còn lại, vẫn còn được cuộn và kẹp ngay ngắn ở bên hông, dưới cánh tay của mẹ Otto, là cục pin.
Chết tiệt, Otto nói. Chết tiệt chết tiệt chết tiệt.
Mẹ mày thông minh thật, Russell nói. Tao nói rồi, bà ấy thông minh lắm.
Tao biết bà ấy thông minh. Chết tiệt.
May cho mày là con gà không nhảy xuống đất tự tử đấy.
Lũ gà cũng đâu có ngu, Russell.
Có thể lắm chứ.
Không như thế. Chết tiệt. Hừ! Giờ sao đây? Khu này làm gì còn ai có radio. Chỉ có trong thị trấn thôi. Và ở thị trấn người ta khóa cửa hết rồi.
Chà, Russell nói. Có vài người như thế.
Khóa cửa hả?
Không, có radio.
Ai cơ?
Vài người. Cô chú tao. Họ có radio. Nhà này có radio.
Otto dừng bước. Chúng nó không hướng đến đâu cả, chỉ đi bộ. Gì chứ? cậu nói. Gì chứ? Mặt cậu đỏ lên như thể bị phơi nắng quá lâu. Russell! cậu thốt lên. Chết tiệt chứ! Sao mày không nói?
Tao tin tưởng mẹ mày. Bà ấy biết cách giữ cho vật và trẻ con sống.
Chết tiệt thật, Russell. Không ai chết vì nghe radio hết. Tao với mày qua nhà cô chú mày. Ngay lập tức.
Nhà của cô chú Russell rất khác với nhà của gia đình Vogel. Mọi thứ đều tĩnh lặng và mỏng manh, trang hoàng dưới hai sắc xanh và trắng. Otto chỉ mới đến đây một lần duy nhất khi Russell đang dưỡng thương. Cảm giác ở đây lúc ấy cũng y hệt lúc này, như một bệnh xá. Hay Otto hình dung cảm giác ở trong một bệnh xá thì sẽ như thế Hai đứa ngồi trên sàn, ngay giữa phòng khách, và lắng nghe âm thanh trầm và đều đều của bản tin nước ngoài của CBC, nhìn thẳng, nhưng không phải nhìn vào nhau, Russell lạnh dần đi với mỗi hình ảnh mà giọng nói kia quẳng ra cho chúng, còn Otto càng trở nên sôi sục, trong lúc chú của Russell pha cà phê cho chúng ở phòng bên cạnh.
Mày chưa đủ tuổi đâu. Hai đứa vội vã băng qua cánh đồng trở về. Chúng đã muộn cho phần việc trước bữa tối, mặt trời đang lặn.
Chúng ta sắp đủ tuổi rồi. Sớm thôi.
Vậy chẳng có lý do gì để nghĩ đến nó cho đến lúc đấy cả.
Kế hoạch, Russell, chúng ta phải lên kế hoạch. Nói với gia đình thế nào, với cô chú mày thế nào, những thứ chúng ta sẽ mang theo.
Những thứ mày sẽ mang theo.
Những thứ chúng ta sẽ mang theo. Russell. Hai tháng nữa là tao mười bảy rồi, thêm năm tháng nữa mày cũng thế. Tao có thể chờ năm tháng đó.
Mày có mà chờ cả đời, họ không nhận tao đâu.
Dĩ nhiên là nhận rồi, Russell, mày thông minh mà. Mày thông minh hơn tao nữa.
Họ không nhận đâu. Không phải vấn đề thông minh. Mày biết là họ không nhận đâu.
Otto dừng lại vì Russell dừng, cậu ở sau nó ba bước chân. Nhưng, Russell, cậu nói, nếu họ không nhận mày, mày sẽ làm gì?
Tao sẽ ở lại đây, tao sẽ chờ. Tao sẽ đi học. Tao sẽ không phải lo về bản thân.
Russell, ở lại đây thì tao phát điên mất.
Nhưng tao thì không.
Ừm, để rồi xem. Coi họ nói gì.
Họ sẽ nói là không.
Để rồi xem. Bảy tháng nữa ta sẽ biết.
•••
Khi học trò đã ra về hết sau buổi dạy đầu tiên của mình, Etta đứng trước lớp học, nhìn những chiếc bàn trống, ghi nhớ, sắp xếp tên với chỗ ngồi. Cô đi vòng vòng ba lần, sau đó chùi bàn tay dính phấn vào váy, thu dọn đồ đạc và rời trường, đi bộ năm mươi mét đến căn nhà nhỏ của giáo viên. Căn nhà nhỏ của cô.
Khi đến đây ngày hôm trước, cô thấy đồ đạc đã được xếp gọn gàng chờ mình. Một cái khăn gấp gọn ghẽ, bộ đồ vải cho bếp, khăn trải giường. Một ấm trà, một tách trà, một thìa trà. Như một nhà khảo cổ cẩn trọng phân loại những chứng tích của một nền văn minh, của sự sống, nhưng dù ai đã sắp xếp chúng thì cũng đã đi rồi. Không còn ai ngoài Etta, khăn, và thìa. Cô cân nhắc việc để cửa mở để gió có thể ùa vào, bầu bạn với cô bằng âm thanh vi vu và những cơn rùng mình, nhưng nhớ lại người chủ trước đây nên thôi.
Giờ đây, sau ngày làm việc đầu tiên, mọi thứ vẫn ở nguyên chỗ cũ. Những món đồ được xếp cẩn thận, không bị xáo trộn. Cô tháo giày ra, ngồi vào bàn, và, trong đám bụi bám lại đó - bụi bám lại mỗi khi cô đi ra hoặc đi vào - cô vẽ một cái sơ đồ:
MONA-STUART
JOSIE-RICHARD
EMMET-STEVEN
LUCY-ELLIE
GLEN-ELLA
JOSEPH-BETH L.
WINNIE-BERNICE
CELIA-BETH M.
OWEN-OTTO
WALTER-SUE
SARAH-AMOS
Cô rà dưới mỗi cái tên, tạo ra một vệt bẩn dày, và ghi nhớ: Mona: tóc bím vàng, chưa biết cộng. Stuart: sún răng, trầm tính. Josie: cười rất tươi, bắt đầu đếm. Vân vân. Owen: tóc quăn, có cố gắng. Otto: vui vẻ, bị cháy nắng.
Đêm đó cô nằm trằn trọc trên giường, lắng nghe sự thiếu vắng trong những âm thanh cô đã quen thuộc, tiếng bước chân, tiếng thì thầm, tiếng thở. Sự thinh lặng tuyệt đối nơi đây mới nặng nề làm sao. Âm thanh duy nhất là của cô. Cô lắng nghe nhịp tim thứ ba ngàn một trăm hai mươi của mình trước khi thiếp đi.
Cô dậy muộn. Cô quên không kéo màn cửa sổ để đón ánh mặt trời buổi sáng. Hầu hết học trò đã tụ tập bên ngoài trường khi cô đến nơi. Lúc vội vã cô không có thời gian mở rương để tìm vớ sạch, thế là cô xỏ chân trần vào đôi bốt và đi qua đám học trò để đến mở cổng trường. Cô đứng qua một bên và để học trò đi qua, ngồi vào chỗ của chúng. Học trò của cô. Nhưng chúng lại không phải thế. Hay có thể nói là hầu hết chúng không phải học trò của cô, gần nửa số đó là người mới, xa lạ, và gần nửa số học trò từ hôm qua đã biến mất. Một trong số những đứa học trò mới, ở phía sau, đang giơ tay, trước cả khi cô kịp đến trước cả lớp.
Mời bạn?
Chào Cô. Em là Russell. Học sinh mới so với hôm qua. Em chỉ nghĩ là em cần tự giới thiệu.
Sau đó thêm sáu cánh tay nữa giơ lên, và Etta biết thêm tên của sáu học trò mới. Trong đầu mình cô chà đi cái sơ đồ vẽ trên lớp bụi cũ và vẽ một cái mới. Những sơ đồ với những danh sách. Miễn là có thể vẽ ra sơ đồ hay danh sách thì cô vẫn ổn. Những cái tên, vị trí, gương mặt.
Được thôi, cô nói, chào mừng một số bạn và chào mừng quay trở lại những bạn khác. Sarah, bạn không phiền đóng hộ mình cửa sổ chứ? Những người khác cũng thế. Mình nghĩ là bắt đầu một ngày mới bằng một bài hát cũng hay nhỉ. Chúng ta sẽ bắt đầu hôm nay với bài The Maple Leaf Forever.
Tất cả bọn học trò đứng dậy, nhưng Russell, mặc kệ cái chân tật, lại là đứa đứng lên nhanh nhất và thẳng nhất trong số chúng.