Etta Và Otto Và Russell Và James

Lượt đọc: 74 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7

❊ ❊ ❊

Russell mải miết lái và lái đến khi đôi mắt không còn tuân theo ông nữa thì ông mới dừng lại và ngủ. Khi tỉnh dậy, ông đánh giá tình hình. Ông đã đi được một đoạn dài qua Manitoba. ông sẽ sớm cần nạp thêm nhiên liệu, cả thức ăn cho bản thân nữa. Và quan trọng nhất là ông cần phải điều chỉnh lại kế hoạch của mình. Nghĩ cách để tìm Etta khi giờ đây hy vọng là cả hai đang ở trong cùng một khu vực. Một kế hoạch. Russell không giỏi lắm với các kế hoạch. Thường là người ta đặt ra và ông chỉ nghe theo. Ông mở ngăn đựng găng, chỉ để kiểm tra, nhưng chẳng có cái bản đồ nào. Hẳn rồi. Ông có bao giờ cần bản đồ đâu, đi từ trang trại của ông đến trang trại của Otto hay đến thị trấn thì cần bản đồ làm gì. Chà, hướng đông vậy, ông tính toán. Cho đến trạm xăng Shell tiếp theo.

Nửa giờ sau, ở đầu một vùng ngoại ô nào đó, hiện ra một trạm xăng có quán ăn. Russell ghé vào.

Cô bé phục vụ nhỏ xíu. Mười hay mười một tuổi gì đấy. Cô bé cầm cái đĩa đựng trứng và bánh mì nướng của ông trước mặt và đi đến chỗ ông. Hôm nay không có cà chua, cô nói. Món này thường ăn kèm với xốt cà chua nhưng hôm nay lại không có. Xin thứ lỗi.

Ồ, Russell nói, không sao đâu. Giờ này chưa có ai trong quán ăn cả; vẫn còn khá sớm. Cảm ơn nhé.

Không sao đâu ạ, cô bé nói. Ông có muốn thứ gì khác không? Thay cho cà chua? Cháu nghĩ là có chuối trong bếp, và cà rốt và bánh qui...

Ừm, thế thì cà rốt? Russell nói.

Trong bữa sáng ư? cô bé hỏi.

Ừ... chà, với trứng và bánh mì à? Thôi nhỉ? Ta có nên thay bằng chuối không?

Nếu là cháu thì cháu sẽ ăn bánh qui.

Thế là Russell chọn bánh qui. Cô bé vào bếp và mang ra cho ông, tay giơ thẳng. Bánh qui yến mạch với nho khô.

Cảm ơn bé, Russell nói.

Ồ, không có gì ạ, cô bé đáp. Cô tựa một tay lên bàn, không có ý định rời đi. Russell cắt một mẩu trứng, đặt lên một mẩu bánh mì, và đưa lên miệng. Cô bé nhìn ông, hơi chán nản.

Ngon không? cô hỏi.

Ngon... cảm ơn nhé, Russell đáp. Cảm ơn.

Không khó mấy, cô bé nói, để làm món trứng. Cháu làm món này cả đời rồi.

Ồ, ừ, Russell đáp. Dù vậy. Ông lại cắt thêm một miếng trứng nữa, vô tình làm thủng phần lòng đào. Lòng đỏ trứng tràn ra khắp đĩa. Xem nào, ông tiếp, hôm nay cháu không phải đi học sao?

Đâu, cô bé đáp. Cháu không đến trường. Học tại gia. Tự học. Ghi chú đồ. Ông biết không? Để cháu còn có thời gian quản lý chỗ này. Dù sao cũng quan trọng, cháu biết, việc học ấy, đặc biệt là toán, để cộng giá trứng và giá bánh mì và giá bánh qui nho nữa chứ, đúng không? Rồi lại tính toán phần tiền ông đưa cháu và trừ đi số tiền lúc nãy để ra được tiền thừa. Rồi lại tính coi ông có bo sộp không. Học hành quan trọng, cháu biết, chỉ là không phải đến trường. Cháu có thể chơi với đám trẻ lúc nào mình muốn. Ví dụ như thứ Tư là ngày trẻ-con-miễn-phí-phụ-huynh-trả-tiền chẳng hạn. Lúc đó nhiều trẻ con đến lắm.

Và bố mẹ cháu?

Ở Toronto. Bọn cháu tự lo chỗ này được bốn năm rồi. Nhắc mới nhớ, cháu nghĩ cháu phải đi kiểm tra đám bánh. Ông ngồi một mình không buồn chứ?

Ồ, không, không sao đâu. Nhưng, ta có thể hỏi một điều nữa không?

Vâng, dĩ nhiên.

Cháu có thấy một người bà cụ, một mình, lấm lem, chắc thế, vào đây hay đi ngang qua không?... Chờ chút, ta có một tấm ảnh. Russell rút ví từ túi quần sau và lôi ra một tấm ảnh trắng đen mờ nhạt kẹp trong hai tờ giấy năm đô. Bà ấy đấy, ông nói. Cũng khá lâu rồi. Chỉ cô gái thôi, không tính người đàn ông kế bên.

Trong ảnh, Etta mặc một thứ gần giống một bộ lễ phục màu ngà. Váy bó, áo cánh, áo vét vai nhọn. Bà đang cười. Đó là ảnh cưới của bà. Russell đã tự tay chụp tấm ảnh đó.

Đó, già hơn thế này khoảng sáu mươi tuổi. Dù vậy, chính bà ấy, Russell nói.

Người này không phải ông, cô bé nói, chỉ vào người đàn ông trong ảnh, Otto.

Ừ, Russell nói, đấy là Otto.

Lạ thật... cô bé nói. Không, cháu không thấy bà ấy. Nhưng cháu không hay rời khỏi quán này lắm. Đợi tí. Để cháu gọi thằng nhóc rửa bát ra hỏi.

Russell tranh thủ ăn thật nhiều trứng và bánh mì trong khi cô bé phục vụ trở vào bếp. Khi trở lại, cô dắt theo một thằng bé mặt tàn nhang và đeo kính. Cả cặp kính đều bị mờ. Em trai cháu, cô nói, nó rửa bát đĩa. Cô bé quay sang thằng bé. Kể ông ấy nghe chuyện em kể chị đi, cô nói.

Cửa sổ của cháu, thằng bé nói, ngay cạnh bồn rửa, trông ra con đường và những cánh đồng phía sau. Cháu thấy rất nhiều xe tải và xe kéo và máy gặt và mấy thứ khác. Và có khi cả động vật nữa, đôi khi là hươu...

Hươu à? Russell hỏi.

Vâng, vâng, thằng bé đáp, hầu hết là con cái nhưng đôi khi có những con rất to với gạc và còn có cả những con bé nữa, cháu biết chúng là con con và không hẳn bé nhưng...

Monty! cô bé thốt lên, đấm vào cánh tay thằng bé. Thôi huyên thuyên đi! Kể ông ấy nghe chuyện em kể chị đi.

Ồ, không, Russell nói, không s...

... và, thằng bé tiếp, và, và có cả một người phụ nữ nữa, cháu đoán thế, sáng hôm qua. Cháu cứ nghĩ hẳn là một bà phù thủy hoặc bà già Noel.

Ngực Russell thắt lại. Một người phụ nữ? Một người phụ nữ lớn tuổi? Bà ấy trông có ổn không? Bà ấy có bị thương hay gì không?

Bà ấy đang hát, cháu đoán thế. Bà ấy ổn. Bà ấy rất thần bí.

Vàbàấyđâu? Tim Russell đập nhanh, từ ngữ tuôn ra gấp rút. Ông ngừng lại và thử lần nữa, Và (thở) bà ấy đi đâu? (Thở.) Hướng nào? (Thở.) Cháu biết không?

Hướng đông. Về phía mặt trời mọc.

Tốt, tốt quá. Tuyệt vời. Cảm ơn cháu. Cảm ơn cháu rất rất nhiều, Monty. Và cháu nữa...

Cordelia.

Cordelia.

Cô bé dắt em mình trở lại nhà bếp, nhưng nửa đường cậu dừng lại. Ừm... cậu nói.

Sao? Russell hỏi.

Ừm, à, nếu ông tìm bà ấy, khi ông thấy bà ấy, ông có thể bảo bà ấy cháu ngoan không?

Ừ, Monty, ừ, dĩ nhiên rồi.

Trở vào xe, Russell mở tấm bản đồ ông mua ở cửa hàng của trạm xăng ra. MANITOBA VÀ TÂY ONTARIO (thu nhỏ) - (Kèm biển báo Lộ trình Xe đạp và Vườn Quốc gia). Manitoba có nhiều hồ làm sao. Và Ontario còn nhiều hơn thế. Đất nước này càng về hướng đông thì càng xanh, càng ẩm. Cho là Etta biết điều này, hay có bản đồ, bà ấy sẽ xuống phía nam, cách xa hầu hết các vùng biển. Một ngày bà ấy có thể đi bao xa? Hai mươi kilômét? Lúc này ngày đã dài ra. Russell nhìn chăm chú vào tấm bản đồ một hồi nữa, tính toán, rồi đặt nó lên ghế hành khách, vẫn để mở. Ông quay lại cửa hàng và mua một balô OK MANITOBA!, năm túi đậu phộng muối, sáu chai nước trái cây, một túi bánh qui lớn, hai thanh sôcôla lớn, và một cái đèn pin. Ông có một kế hoạch. Ông sẽ lái thêm hai mươi kilômét nữa về phía đông dọc theo mấy cánh đồng cạnh quán ăn, và sau đó sẽ rời xe đi bộ. Ông đã từng theo dấu lũ hươu. Ông biết cách tìm dấu chân, cách lần theo chúng.

Từ cửa sổ nhà bếp của quán ăn, Monty và Cordelia nhìn ông lái xe đi mất. Monty vẫy vẫy cánh tay đầy xà phòng.

Etta và James vừa ăn xong bữa trưa. Etta ăn bánh mì dài cùng bơ đậu phộng và dâu dại, James bắt được một con chuột và một con ngài ngái ngủ. Cả hai đang ngồi nghỉ trong bóng râm chờ ánh mặt trời dịu đi một chút. Etta lấy ra giấy và bút.

Bà đang làm gì thế? James hỏi.

Tao đang viết thư.

Cho ai?

Cho Otto. Nhưng mày không biết ông ấy đâu.

Nhỡ đâu tôi biết.

Ông ấy sống cách đây xa lắm. Một quãng đường rất rất dài, thậm chí đối với một con sói cỏ.

Nhưng với bà thì không dài sao?

Cũng dài với tao nữa.

Ở đâu?

Ở tít Saskatchewan. Phía bên kia cái hồ dài. Và hơn thế nữa.

Nhưng, James nói, vậy là bà đi sai đường rồi. Chúng ta đi sai đường rồi.

Etta nghĩ một chốc. Và rồi, Giống đi một vòng vậy, James ạ, tao đi đường này, và trở lại đường kia.

Hiểu rồi, James đáp. Một đường vòng dài.

Mày thấy biển bao giờ chưa James?

Chưa.

Tao cũng thế.

Nhưng rồi ta sẽ thấy.

Đúng, ta sẽ thấy.

Etta cất giấy và bút đi, phủi vụn bánh mì trong lòng xuống cho lũ chim, và cả hai bắt đầu đi tiếp, xa khỏi mặt trời. Họ hát “Johnny Appleseed” và “A Fair Lady of the Plains” trên đường đi. Lâu lâu Etta lại ngâm nga.

Sau vài giờ, một cái hồ với rừng cây xung quanh bắt đầu hiện lên trước mặt họ, về hướng bắc.

Chúng ta phải đi về hướng nam, Etta nói.

Ừ, James nói. Tôi tin là ta sẽ đến Ontario sớm thôi. Một hay hai ngày nữa, chắc thế.

Thế thì tốt, Etta nói, Tốt lắm. Hôm nay chân bà thậm chí chẳng còn đau.

Ừ, tốt thật, nhưng Etta này, James nói, Ontario không như thảo nguyên. Ở đó mọi thứ đều lớn hơn.

Tao vốn quen với những thứ lớn rồi, bầu trời rộng lớn, những cánh đồng rộng lớn.

Những thứ to lớn khác cơ. Đá, những hòn đá lớn. Và cả hồ, cả cây nữa.

Sao mày biết?

Bọn chồn hôi. Chúng nó đi khắp nơi. Chúng nó kể chuyện.

Sẽ ổn thôi, Etta nói. Đá có thể vượt qua được, và cây thì thân thiện còn hồ thì, chà, có lẽ ta sẽ kiếm một cái thuyền. Một cái thuyền kiểu bơm hơi, dễ mang theo. Mày có đi thuyền được không?

Tôi không biết. Chưa thử bao giờ.

Chà. Để rồi xem. Tao mong là được. Ta chỉ cần cẩn thận với bộ móng của mày. Mọi chuyện sẽ ổn thôi. Ontario sẽ ổn thôi.

Được thôi. Ổn mà. Nhưng, còn nữa, Etta, ở đó có mưa, nhiều mưa hơn. Thậm chí vào mùa xuân và mùa hè. Bà phải nghĩ đến chuyện ngủ dưới trời mưa.

Nhưng mày nói là bọn chồn kể ở đó có nhiều cây to và đá lớn mà?

Đúng.

Đấy có thể là mái che vào buổi tối. Và có khi chúng ta sẽ được mát mẻ hơn ban ngày. Mưa thì tốt, James ạ, khi mở miệng hát sẽ giống như ta đang uống nước vậy.

Etta thương,

Anh cho rằng giữ bí mật với em tệ hơn việc làm lộ bí mật của em. Em nghĩ thế nào? Dù sao, anh cũng đã phạm vào cái thứ hai, thế nên anh sẽ không phạm thêm cái đầu tiên nữa. Anh đã kể với Russell. Etta à. Anh đã kể với cậu ấy việc em đang làm và, dù đó chỉ là phỏng đoán của anh, cả nơi em đang ở nữa. Anh xin lỗi. Rất khó để giữ bí mật với Russell. Em biết mà. Giờ thì cậu ta buồn anh, một chút thôi, và đã đi rồi, về hướng đông, để tìm em. Cậu ta lái xe của mình, chiếc màu xám bạc; em biết đó. Để ý chiếc xe đấy nhé. Cậu ta muốn giúp em, cậu ta rất lo cho em. Anh đã bảo rằng anh không lo, không lo đến mức đấy, vậy thì cậu ta cũng không nên lo lắng quá, nhưng cậu ta vẫn cứ như thế. Cậu ta bị kích động. Bao năm qua chưa bao giờ anh thấy cậu ấy như thế. Vậy giờ cậu ta đang ở ngoài kia, hướng đông, đi tìm em. Anh không chắc em sẽ thấy thế nào, nhưng anh nghĩ em nên biết chuyện. Anh tin cậu ta sẽ không cản em nếu em không muốn.

Anh vẫn khỏe. Vẫn ở đây. Hôm trước anh đã cho ra lò một cái bánh dâu Saskatoon tuyệt đẹp. Lớp đường óng ánh, đặc ruột, mọi thứ. Mai anh phải vào thị trấn vì nhà mình hết bột và bơ rồi.

Càng ngày anh càng dậy sớm hơn. Anh dậy đón mặt trời nhô lên lúc năm giờ. Anh ngồi trong bếp với một cốc cà phê không caffeine và chờ mặt trời lên. Và càng ngày càng đi ngủ muộn hơn. Mắt anh không thích nhắm lại khi trời tối, chắc thế. Người anh nhức mỏi cả ngày, nên anh ngủ chập chờn, đôi khi thôi, khi đang chờ đồ ăn trong lò. Đôi khi trong nhà bếp, đầu đặt trên bàn nơi ánh nắng chiếu vào. Anh biết vậy không sạch sẽ, nhưng anh luôn lau sạch mỗi khi ăn ở chỗ đó.

Được rồi. Giờ anh sẽ đi kiểm tra cỏ dại. Năm nay ta có đám cây kế lúc nào cũng chực chờ mọc lên tận đầu gối khi mình không để ý.

Anh mong em khỏe. Nhớ đi dưới bóng râm. Viết thư khi em rỗi. Anh đọc to thư em để trong nhà có tiếng nói. Anh yêu em, đừng quên,

Otto.

Otto gấp lá thư lại làm ba rồi bỏ vào phong bì, dù ông không biết gửi đến địa chỉ nào. Ông viết tên vợ lên mặt trước rồi xếp chúng cùng những lá thư khác, thành một xấp gọn gàng ở góc bàn, cạnh những lá thư bà gửi ông.

Chúng bắt đầu dành nhiều thời gian ở nhà cô chú Russell, trên sàn, chính giữa căn phòng khách xanh và trắng, mỗi khi chúng có thời gian rảnh ngoài trường học, việc nhà, ngủ. Hai đứa sẽ ngồi nhìn về một hướng, nhìn vào cái radio như thể nó là một con người. Khoảng nửa giờ sau, cô hoặc chú của Russell, có khi cả hai người, sẽ nhè nhẹ gõ cửa và mang vào một khay cà phê hoặc bánh mì nâu phết bơ. Rồi tất cả bọn họ cùng ngồi nghe. Họ để những bản báo cáo, những lời dự đoán, những bài phân tích, những danh sách dài triền miên bất tận với những cái tên lúc lạ lúc quen, cùng những bài phỏng vấn len lỏi và thẩm thấu vào đầu từng chút từng chút một. Tất cả qua một giọng nói đều đều, đáng tin của phát thanh viên, với nguyên âm kéo dài và phụ âm chuẩn xác, biến tố mạnh và rõ ràng mang âm hưởng của Anh nhiều hơn quê hương, tất cả ngoại trừ những bài phỏng vấn, khi đột nhiên, rõ như ban ngày, họ nghe thấy những giọng nói của chính họ. Đôi khi những người đi phỏng vấn, điềm đạm, thận trọng, xen ngang bằng những câu hỏi hoặc cảm thán, như tiếng thở giữa những câu nói: Không ư? Vâng, tôi hiểu, À, Ồ, ồ, ồ, nhưng hầu hết thường im lặng và để đối tượng phỏng vấn kể những câu chuyện của chính mình hoặc được nghe kể lại bằng những giọng nói có thể là của họ hàng họ, của hàng xóm họ, của chính họ.

Họ lắng nghe câu chuyện về những tù nhân, những người bị bắt từ nhà và chỗ làm, bị chia cắt khỏi máy tính tiền, sách vở, lò nướng, mèo, ông chủ, bạn bè, và bị nhồi vào một căn phòng nhỏ xíu chỉ có một cái cửa sổ bé tẹo tít trên cao, cao hơn khả năng của bất kỳ ai có thể nhảy hoặc với đến dù cho cả ba người đứng lên vai nhau như một cây cột tôtem, nghiêng ngả, giữa một đám đông những cánh tay với lên chờ người trên cùng rơi xuống. Không thức ăn, không nhà xí và người chật như nêm khiến cho tất cả đều phải ngủ đứng, tựa vào những cơ thể chung quanh, lấy áo quần và tóc và hơi thở của người bên cạnh làm chăn. Người ta ở như thế trong ba ngày, thay phiên nhau đứng vào góc được định sẵn làm nơi phóng uế, với cái mùi không ngửi nổi và vô cùng kinh tởm ban đầu, nhưng chẳng còn cảm giác mấy nữa khi đã gần hết phiên ba giờ, từng giây được đếm thành tiếng do không ai còn đồng hồ, cổ ngửa cao và cao hơn, hướng về không khí và ánh sáng từ cái cửa sổ độc nhất ấy, bụng réo ầm ĩ như tranh với tiếng đếm giây. Đã ba ngày, ba ngày như bất cứ ngày nào, như nhiều ngày, những ngày khác trong những căn phòng tương tự với những tù nhân tương tự trên khắp khu vực suốt những năm qua, đến khi, đồng loạt, thời điểm khoảng gần giữa trưa dựa vào ánh sáng từ cửa sổ, những đứa trẻ và em bé bắt đầu bay lên, đói lả và nhẹ bẫng đến mức chúng nổi lềnh bềnh. Rồi một khi đã bắt đầu nổi lên và nhận ra điều mình đang làm, điều mình có thể làm, người ta vẫy vùng trên không để đổi hướng và hướng mình thẳng đến cánh cửa sổ độc nhất kia. Một trong số những đứa trẻ, đứa con gái bảy tuổi của hai vợ chồng thợ khóa Aaron và Thilde Bloomberg, luồn cánh tay gầy guộc ra ngoài khe cửa để tháo cái then đang chốt tấm kính, và gỡ kính ra. Mấy đứa trẻ chuyền tay nhau tấm kính gần hai mét vuông xuống chỗ những người lớn bên dưới để nó không rơi trúng đầu ai. Sau đó chúng lại nổi lên và luân phiên nhau lướt ra khỏi cái ô trước đây là cửa sổ, người lớn nắm tay trẻ con. Không ai biết, giọng trên radio nói, những người đó đã đi đâu, đã hạ cánh chưa hoặc hạ cánh ở đâu, dù cũng có những suy đoán rằng có thể là Thụy Sĩ hoặc Trung Phi.

Họ nghe câu chuyện về một cánh đồng vàng lúa một thời chợt biến thành tuyền màu đỏ. Thợ sơn và các nhà khoa học được cử đến để xem xét, nhưng khi trở về tất cả đều biến thành màu đỏ, từ đầu đến chân, cả da và quần áo, và đó là nếu họ có trở về. Do số phận của những thợ sơn và nhà khoa học, không ai dám ăn hay mua lúa đỏ. Và cánh đồng đó trở nên vô dụng và không thể cải tạo.

Mỗi ngày lại có thêm nhiều bài phỏng vấn mới, nhiều câu chuyện mới, ngày càng nhiều hơn.

Chẳng bao lâu sau đã đến sinh nhật của Otto. Một ngày thứ Bảy. Winnie làm món bánh táo cho bữa tối. Mọi người cùng hát một bài hát về sinh nhật đã được học ở trường, từ cô Kinnick. Sau bữa tối mẹ Otto cho phép cậu nghỉ làm việc nhà cả buổi tối còn lại, một món quà đặc biệt trong các dịp sinh nhật. Otto nằm trên một thảm cỏ dại mềm, dưới bóng râm của một trong những cái cây chắn gió. Russell, sau khi rửa bát đĩa xong, tìm thấy cậu ở đó. Otto, nó nói, mày nên đi đi.

Không, Otto nói.

Đi đi, Russell nói.

Không, Otto nói. Không. Tao sẽ chờ mày. Thế đấy. Cậu bắt tréo chân và nhắm mắt lại. Năm tháng, cậu nói. Chỉ năm tháng thôi.

Otto đi học và làm đồng, biết thêm vài con chữ xiêu vẹo và từ, những bài hát và số, đuổi ve khỏi người mấy con ngựa và nhổ cỏ dại hết hàng này đến hàng khác trên mặt đất khô cằn đầy cát trong khi sự chờ đợi trong bụng càng lúc càng dâng lên và cồn cào hơn và khiến cậu mất ngủ vào ban đêm. Để rồi cuối cùng, sau năm tháng, sinh nhật của Russell cũng đến, cậu và Russell vào thị trấn, đứng trước cửa một trường dạy múa những chiều thứ Hai, thứ Tư, và thứ Bảy và, giờ, là một văn phòng tuyển quân gần nhất. Một căn phòng thể dục rộng lớn với một người đàn ông ngồi ở cái bàn giữa phòng. Ngoài ông ta ra, Otto và Russell là hai người còn lại ở đó. Người đàn ông sau bàn mặc đồng phục. Màu xanh lá sẫm với chiếc nón ca-lô trông như thuyền gấp giấy, ông ta đứng lên khi hai đứa bước vào. Ông ta không nói gì. Ông ta cầm hai tờ giấy trên bàn lên và máy móc đưa cho Otto và Russell, mắt nhìn xa xăm.

Trên bàn không còn chỗ trống, nên Otto và Russell trải hai tờ đơn xuống sàn. Otto nhìn trang giấy, cẩn thận đọc nhẩm từng câu hỏi trong đầu.

HỌ?

TÊN/TÊN THÁNH?

NGÀY SINH?

ĐỊA CHỈ?

LÝ DO NHẬP NGŨ?

LÝ DO KHÔNG NHẬP NGŨ (NẾU CÓ)?

Cậu chậm rãi gò từng ký tự vào chỗ trống thứ nhất và thứ hai. V-O-G-E-L. O-T-T-O. Xiêu vẹo. Trẻ con. Cậu nhìn sang Russell, đã điền xong, đang gõ gõ cây bút chì xuống sàn. Russell, cậu thì thầm, đầu hạ thấp xuống mặt tờ giấy của mình để viên sĩ quan không nghe thấy. Mày làm xong rồi hả, mày giúp tao được không?

Russell lấy tờ đơn của Otto và điền vào với những nét chữ nhanh gọn, dứt khoát. Tao điền cái gì vào đây bây giờ? Nó hỏi, chỉ đầu bút chì vào hai câu hỏi cuối cùng.

Ghi “Nếu không đi thì tôi sẽ điên mất”, Otto nói.

Tao không nghĩ tao viết vậy được đâu, Russell đáp.

Tao biết, tao biết. Được rồi, ghi “Để khám phá vùng đất mới”.

Russell ghi vào. Còn câu kia?

Viết “Không có”, Otto đáp.

Trong lúc Russell viết, Otto thấy trên tờ đơn của mình, Russell trả lời câu hỏi cuối:

1) Chân bị liệt. 2) Không muốn đi.

Nó không hề viết gì vào câu hỏi kế cuối.

Trong khi hai đứa viết, viên sĩ quan ngồi và đẩy mớ giấy trên bàn cho thẳng hàng hai bên. Ông ta không ngẩng đầu lên khi hai đứa đặt tờ đơn đã điền lên xấp giấy bên trái ông, nhưng có ngước mắt lên, chỉ một chút, chút xíu, nhìn hai đứa. Tôi biết các cậu lo lắng, ông ta thì thầm, nhưng đừng thế, đừng lo. Mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi. Tôi hứa. Mọi chuyện sẽ ổn.

Ba tuần sau đó chúng nhận được thư trong thùng, trong hai cái phong bì nhuộm một màu xanh đồng phục câm lặng. Otto phải trình diện ở văn phòng Regina để lên đường trong bốn ngày: Russell thì không cần đến.

•••

Etta, trong không gian mới mẻ bao quanh ngôi trường và căn nhà cho giáo viên, đã học được cách lắng nghe khác. Nhiều tháng trôi qua, tai cô phân biệt được hình dáng, kiểu mẫu, cuộc sống trong sự im lặng tuyệt đối của nơi này. Âm thanh nhỏ hơn, âm thanh lớn hơn. Tiếng côn trùng đáp trả hoặc hòa âm cùng gió, những mẩu đối thoại giữa bức tường gỗ của nhà cô với mặt trời, tiếng bước chân trên sỏi cách đấy hàng dặm. Và, dĩ nhiên, cả tiếng gọi của lũ trẻ cùng những con chó của chúng phía bên kia những cánh đồng khi chúng đang trên đường đến với cô, đến với trường lớp. Tiếng lạo xạo của bông lúa quệt vào người khi chúng băng qua.

Và cô cũng nắm được lịch của mấy đứa học trò đổi chỗ cho nhau. Nhà Vogel và Russell, thay phiên nhau, mỗi ngày, đứa này đứa kia, xoay qua xoay lại. Một sáng nọ, cô hỏi Russell, trong lúc chờ mọi người ổn định vị trí, tìm chỗ ngồi, Sao bạn cũng phải làm thế hử, Russell? Bạn đâu phải người nhà Vogel. Trước khi nó kịp trả lời, Addie xen vào từ bàn đầu.

Ồ, nó là người nhà em thôi, chỉ là tên khác. Mẹ gọi nó là em sinh đôi của Otto.

Russell cười và đỏ mặt. Owen, ngồi cùng bàn với nó, nhăn mặt và lầm bầm gì đấy. Mấy đứa học trò ngồi phía trên chúng cười khúc khích. Thấy được khuyến khích, Owen thì thầm tiếp, lần này lớn hơn một chút. Thêm nhiều tiếng cười nữa. Mấy đứa con gái phía bên trái chúng nhìn sang, hướng mắt xuống dưới chân chúng. Russell ngồi thẳng lên, mắt hướng về phía trước.

Rồi, Etta nói. Được. Nhiêu đó là đủ rồi. Cả lớp đứng dậy, hôm nay chúng ta sẽ bắt đầu với bài “Johnny Appleseed”, Russell bạn sẽ vỗ tay, Gus và Beatrice hai bạn dậm chân theo. Hay và to vào, khiến lũ chó tru theo nhé. Sẵn sàng chưa?

Trong những tháng kể từ khi đến với trường Gopherlands, Etta bắt đầu nghe được những điều mới, và những trang trại lân cận cũng thế. Đầu ngày, cơn gió băng qua vùng này và mang theo mình bài hát của hai mươi hai học sinh, qua những kẽ hở ở chuồng bò nơi Mabel McGuire đang vắt sữa, át cả tiếng máy kéo Liam Rogers lái không theo một hướng cố định nào, luồn xuống cánh cửa xiêu vẹo của căn nhà trang trại nơi bà Sandy Goldstein đang rề rà dựng người ra khỏi giường. Nếu đấy là một bài hát họ biết, họ sẽ hát theo, góp phần đưa tiếng hát đi xa và xa hơn nữa.

Ngày hôm sau, trước giờ học, Etta đang đứng ở sân làm quen với con chó xám gầy nhẳng mới của Lucy và Glen thì Otto và nhà Vogel nối đuôi nhau hiện ra trên con đường đến trường. Owen chui ra khỏi đám đông những đứa trẻ xúm xít quanh con chó và chạy về phía Otto. Nè Otto! nó nói, chào buổi sáng! Muốn tớ chỉ lại cho cậu bài hôm qua không?

Otto do dự, mở miệng như chực nói điều gì, rồi, thay vào đó, vung cánh tay lên, một nắm đấm. Owen né sang trái, vai trúng đòn. Những đứa khác thôi chú ý đến con chó, bắt đầu hét lên. Otto lại nhào tới, lần này nhắm vào ngực Owen. Cấm mày, cậu nói. Cấm mày, không bao giờ... Thằng bé nhỏ hơn vấp ra phía sau, sẩy chân, ngã xuống, đầu đập vào lớp sỏi. Otto nhảy lên trên người nó. Một lớp bụi mù cuốn lên xung quanh hai đứa.

Etta chứng kiến hết tất cả từ trên đầu con chó và trên đầu những đứa học trò khác, kiệt sức trước cả khi nhận thức được chuyện gì đang xảy ra, trước cả Owen.

Thánh thần ơi! cô thét lên. Những đứa học trò quay đầu lại nhìn cô; một giáo viên báng bổ cũng hay ho như một trận ẩu đả. Cô lao qua chúng để đến chỗ Owen, trên mặt đất. Quỳ xuống cạnh nó. Hơi thở ngắn, mắt mở, bất tỉnh, một chút máu ở mũi, và một chút ở sau đầu. Otto đứng dậy và lùi lại, hai tay thõng xuống bên hông. Cậu, Etta nói. Hôm nay không không được vào lớp, Otto Vogel. Về nhà đi, riêng cậu thôi, và trở lại nói chuyện với tôi cuối ngày hôm nay.

Otto không đáp, chỉ quay lưng và trở về trang trại Những anh chị em khác của cậu nhìn theo. Winnie tiến lên một bước, như muốn đi cùng cậu, nhưng Walter đặt một tay lên vai cô để ngăn lại.

Etta cố hết sức đỡ Owen đứng dậy. Nó nhẹ đến bất ngờ; cô có thể thấy xương vai nó nhô lên qua lớp áo. Cảm ơn cô, nó nói, nhưng em không sao đâu. Nó quệt máu trên mũi mình bằng cánh tay áo, nhuộm thành một màu sẫm.

Em muốn nói rõ trước, Otto nói, đứng trước cửa phòng học sau khi những học trò khác đã ra về, rằng em đến đây để giải thích, không phải để xin lỗi. Cậu tiến lại chỗ Etta đang chờ, ở bàn của cô. Nhìn gần cậu cao hơn, già dặn hơn. Etta có thể cảm thấy cậu ta bừng bừng lửa giận.

Bạn nên ngồi đi, cô nói. Ngồi và giải thích.

Russell, Otto nói, là đứa thông minh nhất ở đây. Thông minh và tốt bụng với mọi người và hoàn toàn có thể...

Cậu vẫn đứng, như thể đang thuyết trình giữa lớp.

... làm được mọi việc. Mọi việc ngoại trừ đấu tranh cho bản thân nó. Nên em làm thế vì nó. Nên chúng em làm thế vì nó. Bài diễn thuyết chuẩn bị sẵn đã xong, Otto thư giãn một chút, hơi tựa người về phía chiếc bàn giáo viên gỗ nặng nề giữa hai người.

Owen nói gì về bạn ấy?

Có quan trọng không?

Có thể.

Người ta có thể nói nhiều thứ về Owen. Họ có thể. Nhưng họ không làm thế. Chúng em không thế. Từ ngữ có sức mạnh. Chúng mạnh nhất. Tồi tệ hơn cả những vết bầm dập trên sỏi.

Etta suy nghĩ về điều này. Những điều người ta nói, thì thầm, sau khi Alma bỏ đi. Cô đã cảm thấy một sự thôi thúc bạo lực mạnh mẽ và bất ngờ. Được quăng mình vào những lời đồn đãi kia. Một điều không được dạy ở trường sư phạm. Bạn không được đánh người khác, cuối cùng cô nói. Dù chính cô cũng không chắc. Nắm đấm của cô dộng vào những cái mồm mềm, ngu si của lũ bạn cũ, bùng nổ, tinh ngộ, một cái gì đó. Dù sao, bạn không thể làm thế ở đây, cô tiếp. Bạn đó, đáng ra bạn phải nói với mình. Mình có thể nói chuyện với Owen.

Không phải trách nhiệm của cô.

Dĩ nhiên là phải rồi. Cũng ngang ngửa với bạn thôi.

Không đâu.

...

...

Vậy, Russell sẽ làm gì, nếu không có bạn ở đó? Khi không có bạn ở đó?

Em sẽ tìm ra cách, Otto đáp.

Etta sắp xếp lại chỗ ngồi để Otto và Russell không còn ngồi chung với Owen nữa mà ngồi ở phía bên kia của phòng học, ở đằng sau. Owen, với một vết bầm đen sưng tấy chạy từ một bên mũi đến dưới mắt, nhìn thẳng phía trước suốt buổi học và, một mình, về nhà ăn tối. Bạn chung bàn mới của nó, Sue, thì thầm những lời mềm mỏng để an ủi nó, khẽ chạm vào chỗ tóc bị buộc cạo đi của nó, nhưng Owen lờ đi, tập trung vào bài học một mình.

Một tuần sau, sau giờ học, khi học trò và bầy chó của chúng đã ra về, trở về những ngôi nhà của mình, và Etta đã phân ra hai chồng bài viết về “lý do em muốn làm vua hoặc hoàng hậu của lớp hai và lý do em không muốn làm vua hoặc hoàng hậu” của lớp ba, cô nhận ra Otto vẫn còn ở đó. Ở cái bàn mới của mình phía cuối phòng. Lần này cậu ngồi.

Em nghĩ em nên xin lỗi, cậu nói. Không phải vì chuyện xảy ra với Owen, mà vì cách em nói chuyện với cô hôm trước. Em nghĩ em nên xin lỗi. Em không nói năng như thế với bố hoặc mẹ em, và em cũng không nên nói thế với cô.

Cảm ơn Otto. Bạn làm thế là tốt. Mình vừa định cho điểm liệt hết toàn bộ bài làm của bạn trong vòng ba tuần.

Im lặng bủa vây căn phòng.

Ồ. Otto nói. Chà, vâng, vâng, em xin lỗi.

Etta cười. Mình chấp nhận. Bạn có thể về nhà rồi.

Nhưng Otto không đi đâu cả, cậu không nhúc nhích.

Otto? Mình cần khóa cửa trường.

Vâng, xin lỗi. Dĩ nhiên ạ. Chỉ là, em đang thắc mắc, em muốn thỉnh cầu một việc.

Etta đặt đống bài tập lại xuống bàn.

Em chắc là cô cũng nhận ra, Otto nói, rằng em không giỏi chữ nghĩa lắm. Đọc, và cả viết nữa. Ý là, em có thể, em sẽ, nhưng em vẫn chưa quen, và bắt đầu muộn thì khó hơn. Những đứa nhỏ hơn tiếp thu ngay lập tức, đầu chúng vẫn còn chỗ. Nhưng đầu em thì đã đầy một phần rồi. Nên...

Và rồi Otto kể với cô về Owen, về những bài giảng mà Owen từng chỉ cho cậu. Đầu tiên là lấy cây viết lên đất, sau đó với giấy và bút chì vào bữa tối. Và, Otto nói, nó sẽ viết thư cho em. Em sắp, em sắp đi xa... để chiến đấu, và nó sẽ viết thư cho em, để em có thể viết thư trả lời. Như thế em có thể tiếp tục rèn luyện, ở nơi đó... Cậu dừng lại. Không đi xa đến mức như hỏi thẳng Etta.

Dưới mặt bàn, bàn tay phải của Etta siết lại. Hệt như Alma đã kể. Từng chút một, tất cả những cậu trai trẻ khắp nước hướng về phía đông, hành quân qua tu viện của Alma, chân mang những chiếc vớ lạc đôi, rút đi như nước suối vào mùa hè. Etta nhìn cậu học trò của mình, tay đan vào nhau, bình tĩnh, ngồi ở bàn của mình. Chỉ như thế, cô nghĩ; đơn giản thế đấy, họ ra đi chỉ như thế. Cô thấy thật nặng nề. Khi nào bạn đi? cô hỏi.

Thứ bảy.

Hai ngày nữa?

Vâng.

Vậy đây là buổi học cuối cùng của bạn ư?

Vâng.

Một lời xin lỗi, một thỉnh cầu và một lời chia tay, Etta nghĩ. Được thôi, cô nói. Mình có thể viết thư cho bạn, và bạn có thể viết thư cho mình. Địa chỉ thư của mình rất đơn giản, ở ngay đây. Cô đến chỗ bảng đen, nhặt một mẩu phấn:

Nhà của giáo viên

Trường Gopherlands

Gopherlands,Sask

Canada

Ồ, còn, cô với tay lên phía bên trên phần vừa viết, ngoáy thêm vài chữ:

Etta Gloria Kinnick

Là mình đó.

Etta, Otto nói. Dễ đánh vần thế. Tốt quá. Cậu cẩn thận chép lại địa chỉ vào sách của mình. Ở mặt trong của bìa sau. Em chưa biết địa chỉ của mình, cậu nói. Nhưng em sẽ gửi cho cô.

Họ nói lời chia tay, lịch sự, trang trọng, một cái bắt tay, và Otto bước ra cửa.

Ồ, và, Cô Kinnick... Etta? Người cậu đứng chắn ánh mặt trời lúc chiều muộn, một viền sáng bao xung quanh cậu.

Sao?

Để ý tới Russell, nha cô?

Được, Otto, dĩ nhiên rồi.

Người dịch: Trương Trung Tín
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.