Bài Học Hillary

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 20 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18
“Quyết Định Khó Khăn Nhất”

❊ ❊ ❊

ĐẦU MÙA THU NĂM 2002, ở Washington, viễn cảnh của một cuộc xâm lược Iraq do Mỹ dẫn đầu đang có đà tiến tới. Chính quyền Bush đang đẩy mạnh quan điểm của họ cho rằng Saddam Hussein là một mối đe dọa trực tiếp của nước Mỹ cùng những nước láng giềng của ông ta ở Trung Đông, do ông ta sở hữu một kho vũ khí hủy diệt hàng loạt – cả hóa học lẫn sinh học – và đang tích cực theo đuổi chương trình phát triển vũ khí hạt nhân. Bush và Phó Tổng thống Dick Cheney tuyên bố lặp đi lặp lại rằng có những mối liên hệ chắc chắn giữa chế độ Saddam và Al Qaeda – những kẻ gây ra các vụ tấn công 11/9. Và chính quyền Bush cảnh báo rằng nước Mỹ sẽ không chịu đựng thêm được nữa sự cản trở của Iraq đối với sứ mệnh của những thanh sát viên vũ khí của Liên Hiệp Quốc.

Đầu tháng 10 năm đó, Thượng viện chuẩn bị bỏ phiếu đối với một quyết định sẽ cho phép tổng thống được quyền sử dụng sức mạnh quân sự ở Iraq nếu những nỗ lực ngoại giao của ông thất bại. Với Hillary, đây chẳng khác gì cuộc bỏ phiếu quan trọng nhất trong cuộc đời công chúng của bà. Đồng thời nó cũng trở thành một cái hộp mà bà sẽ thấy rất khó thoát ra, (nếu không muốn nói là không thể).

Đi đến một quyết định tức là phải thực hiện một chuỗi những tính toán, mà nhiều phép tính trong số đó đã dường như được định trước. Hillary đã từng để lại, theo như lời bà nói, một dấu ấn “khá là gây hấn” một ngày sau sự kiện 11/9 với lời tuyên bố rằng những quốc gia nào giúp quân khủng bố sẽ phải đối mặt với “sự phẫn nộ” của nước Mỹ. Rút lui khỏi lập trường cứng rắn đó sẽ rất khó khăn. Nhưng mặt khác, nếu bỏ phiếu thuận, bà sẽ cho phép Tổng thống Bush quyền phát động một cuộc chiến “tiên hạ thủ” – một khái niệm gợi bà nhớ lại cuộc chiến thất bại tại Việt Nam mà xưa bà từng phản đối gay gắt.

Bỏ phiếu chống lại nghị quyết đó cũng có nghĩa là rút lui khỏi những chính sách của một tổng thống khác – chồng bà. Bill Clinton đã từng thông qua một đạo luật vào năm 1998 bao gồm những điều khoản không bắt buộc kêu gọi phải thay đổi chế độ, và cùng năm đó ông cũng tiên đoán rằng Saddam Hussein sẽ sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt.

Chỉ một năm sau các cuộc tấn công 11/9, nỗi lo sợ khủng bố đã lan rộng khắp nước Mỹ đến nỗi mọi việc trở nên khá dễ dàng cho Washington đưa một cuộc đối đầu với một tên độc tài bạo ngược, chống lại Mỹ thành một “cuộc chiến chống khủng bố” chung của chính quyền. Các cuộc thăm dò cho thấy hầu hết người dân Mỹ tin rằng có một mối liên hệ giữa Saddam Hussein và sự kiện 11/9. Hillary chắc chắn phải được biết về tất cả những điều này.

Cuối cùng, Hillary có một nỗi lo rằng bà sẽ không bao giờ trúng cử tổng thống nếu như không chứng tỏ rằng mình đủ cứng rắn. Việc đó vốn vẫn luôn luôn là một mối lo. Các nữ ứng cử viên từ lâu đã phải chịu đựng hậu quả của định kiến rằng họ sẽ không bao giờ có thể cứng rắn được như đàn ông. Giờ đây việc bảo vệ quê hương đã trở thành một đề tài quan trọng đến nỗi người dân Mỹ khăng khăng yêu cầu tổng thống của họ – dù đàn ông hay đàn bà – phải bảo vệ họ khỏi một cuộc tấn công khủng bố khác. Điều đó càng đặt biệt đúng với người dân New York, những cử tri mới của bà.

Hẳn nhiên, trước giờ Hillary vẫn cứng rắn. Và bà là người có kinh nghiệm. Nhưng sự thiếu tự tin của bà về hình ảnh trước công chúng của mình, rồi việc bà biết rằng những thành tích an ninh quốc phòng non nớt của mình có thể bị cử tri xem là chưa đủ, cùng những kinh nghiệm của bà và Bill trong hơn hai mươi năm quan sát những Đảng viên Cộng hòa chiến thắng những Đảng viên Dân chủ khi đụng đến vấn đề an ninh quốc phòng... đã khiến bà khó lòng bỏ phiếu chống.

Lá phiếu của bà còn bị làm cho phức tạp hơn nữa bởi mối quan hệ đang có thay đổi giữa bà với vị tổng thống đương nhiệm. Nếu Hillary ủng hộ Bush, điều đó đồng nghĩa với việc bà sẽ phải tin vào ông. Trước kia bà vẫn hy vọng rằng Bush sẽ tiếp tục theo đuổi con đường ngoại giao với Iraq bất chấp việc Quốc hội có cho phép ông quyền lực để phát động chiến tranh hay không, một điều mà tổng thống quả thực đã thực hiện. Nhưng tin vào Bush là một điều quá khó khăn đối với Hillary, đặc biệt từ khi, bất chấp mối liên minh của họ trước sự kiện 11/9, ông vẫn liên tục tháo dỡ một cách hăng hái hàng loạt những chính sách đối nội và đối ngoại từng được thiết lập dưới thời chồng bà.

Nhiều Đảng viên Dân chủ khác trong Thượng viện có những lịch sử của riêng mình để làm lại. Đa số họ từng phản đối nghị quyết năm 1991 vốn chỉ vừa suýt soát cho phép Tổng thống Bush đầu tiên[1] quyền tấn công Iraq sau khi Iraq xâm lược Kuwait vào năm 1990. Saddam Hussein vẫn tiếp tục cầm quyền khi Chiến tranh Vùng Vịnh kết thúc, nhưng Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đã thông qua một nghị quyết được vẽ ra để đặt Saddam và những chương trình vũ khí của ông này dưới sự kiểm soát. Những thanh sát viên vũ khí được giao nhiệm vụ thi hành nghị quyết đó về sau khi rời Iraq, đã phàn nàn rằng Hussein gây trở ngại cho công việc của họ. Theo chính quyền Bush, Hussein đã tiếp tục phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt. Tuy quyết định không cố gắng hạ bệ Saddam vào năm 1991 là do Tổng thống Bush cha đưa ra khi ông còn nắm quyền Phòng Bầu dục, những người bảo thủ vẫn đẩy một phần trách nhiệm sang những Đảng viên Dân chủ, nhiều người trong họ đã phản đối cuộc chiến ấy ngay từ đầu.

Nếu nhiều người trong Quốc hội đang suy nghĩ một cách “diều hâu”, thì điều đó lại không đúng với một số đồng minh của Mỹ ở châu Âu. Họ lý giải, Iraq không hề đe dọa những nước láng giềng. Một số còn cảm thấy rằng cho dù không có những thanh sát viên vũ khí, Iraq cũng đã bị kìm hãm nặng nề bởi các lệnh trừng phạt kinh tế và bị tuần tra vùng cấm bay. Trong khi những tranh luận sôi nổi thu hút Liên Hiệp Quốc và những cuộc biểu tình phản chiến bắt đầu diễn ra trên toàn thế giới, Tom Daschle, lãnh đạo phe Dân chủ ở Thượng viện, đã khẩn cầu những đồng nghiệp của mình hãy đơn giản bỏ phiếu theo lương tâm mình.

Đối với Hillary, điều đó đồng nghĩa với việc hỏi ý kiến ông Bill.

Giải thích cho lá phiếu của mình, Hillary nói, “Có lẽ quyết định của tôi bị ảnh hưởng bởi tám năm kinh nghiệm trong Nhà Trắng ở đầu kia của đại lộ Pennsylvania, quan sát chồng mình đương đầu với những thử thách quan trọng đối với đất nước chúng tôi.”

Không phải ngẫu nhiên mà Hillary viện dẫn thời gian ở Nhà Trắng, và thành tích của chồng, khi giải thích cho lý do của mình. Trong lúc Hillary đang tạo dựng cho mình một lý lịch như một nhà lãnh đạo, thì vai trò phía sau hậu trường của Bill trở thành một đề tài cực kỳ nhạy cảm giữa đám cố vấn thân cận nhất của Hillary, và họ nhanh chóng từ chối bàn về vấn đề đó một cách công khai. Nhưng cũng như vẫn từng tham gia vào hầu hết các khía cạnh cuộc đời thượng nghị sĩ của Hillary, trong cuộc bỏ phiếu về cuộc chiến Iraq, Bill đóng vai trò là người hội ý chính của bà. Bill có kinh nghiệm cá nhân để tặng cho bà: Trong thời gian ông làm tổng thống năm 1998, với sự hỗ trợ của Vương quốc Anh, nước Mỹ đã phóng hơn 400 tên lửa hành trình và thực hiện 650 cuộc không kích nhằm vào những nơi bị tình nghi là kho vũ khí hủy diệt hàng loạt ở Iraq sau khi Saddam Hussein từ chối hợp tác với các thanh sát viên Liên Hiệp Quốc. “Nhớ lời tôi nói đi, ông ta sẽ phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt.” Tổng thống Clinton khi đó đã nói để biện minh cho cuộc tấn công. “Ông ta sẽ triển khai chúng và sử dụng chúng.” Trong hồi ký năm 2004, Bill vẫn bảo vệ cho quyết định của mình tấn công vào những nơi tình nghi là kho vũ khí hủy diệt hàng loạt ở Iraq, tuy không lặp lại lời tiên đoán điềm gở của mình. Ông cũng nhắc người đọc nhớ rằng hồi đó một số đảng viên Cộng hòa đã “cằn nhằn về những cuộc tấn công,” gạt chúng đi vì coi đó là một cách “đánh trống lảng” để hoãn lại cuộc bỏ phiếu sắp diễn ra ở Hạ nghị viện về việc có kết tội ông hay không.

Vài ngày trước khi cuộc bỏ phiếu theo lịch diễn ra ở Quốc hội, từ Cincinnati, Tổng thống Bush đã đọc một bài diễn văn trên truyền hình, cho biết “không chút nghi ngờ” rằng ông đã sẵn sàng tấn công Iraq nếu Hussein từ chối giải giáp. Kế đến, tổng thống nói về một nỗ lực cuối cùng cho giải pháp ngoại giao. Hillary bị hút theo lựa chọn này và hy vọng rằng Bush đã nghiêm túc khi đề cập đến nó.

Một ngày sau bài diễn văn Cincinnati, bà có một cơ hội hiếm có để tìm hiểu xem liệu Bush có nghiêm túc hay không. Hillary và vài thượng nghị sĩ khác họp mặt riêng tại Nhà Trắng cùng tổng thống và một số cố vấn của ông. Tổng thống “không nhớ chút gì về việc Thượng nghị sĩ Clinton có đặt câu hỏi” tại cuộc họp.

Cuối buổi, theo lời Hillary, bà Condoleezza Rice, khi đó là cố vấn an ninh quốc gia, gọi Hillary và “hỏi tôi có câu hỏi gì không.” Hillary nói rằng bà có một câu: Liệu tổng thống có sử dụng cái thẩm quyền được Quốc hội trao cho để đến Liên Hiệp Quốc và “bắt những thanh sát viên quay trở lại Iraq” không. Rice, theo lời Hillary, đáp: “Phải, mục đích chính là thế.” Nhưng Tổng thống Bush và Rice cùng nhớ lại đã nói rằng, “sự cho phép ấy” của Quốc hội “có lợi thế” là một đòn bẩy cho họ tại Liên Hiệp Quốc và Trung Đông, chứ không phải là họ cần sự cho phép ấy để kiếm một đòn bẩy.

Cứ xét đến những phát hiện sau này liên quan đến những lời phát biểu không chính xác của chính quyền Bush trong thời gian dẫn đến chiến tranh Iraq, thì quả thật không sao biết được liệu Tổng thống Bush và Rice có nói thật về cuộc trao đổi với Hillary hay không. Nhưng cả hai dường như đồng ý rằng cơ hội cho Hillary để ép tổng thống về giải pháp ngoại giao – nếu không vì lý do nào khác hơn là để ghi lại trong bản thành tích rằng bà đã làm vậy – trên thực tế đã bị bỏ phí.

Như vẫn hay làm thế, Hillary đã chuẩn bị cho quyết định của mình trong cuộc bỏ phiếu chiến tranh bằng cách làm một việc mà bà thường gọi là “đánh giá, thẩm định”. Sau này bà cho biết, việc đó bao gồm cả dự những buổi báo cáo mật tại Quốc hội liên quan đến tình báo ở Iraq. Ngoài ra bà còn hội ý với những viên chức an ninh quốc gia của chính quyền Clinton mà bà tin tưởng.

Điều mà bà đã không đưa ra bàn luận công khai là liệu bà có đọc qua phiên bản mật của Đánh giá Tình báo Quốc gia (NIE) chưa, (được cung cấp cho tất cả một trăm thượng nghị sĩ), trong đó có đánh giá đầy đủ nhất của khối tình báo về vũ khí hủy diệt hàng loạt của Iraq. Bản báo cáo mật dài chín mươi trang được đưa tới Quốc hội vào ngày 1 tháng 10 năm 2002, chỉ mười ngày trước cuộc bỏ phiếu ở Thượng viện. Về phần mình, chính quyền Bush công bố một bản tóm tắt ngắn gọn, vẽ ra một bức tranh kém tinh tế hơn rất nhiều về chương trình vũ khí của Iraq so với bản báo cáo mật đầy đủ, mà một phần sau này không còn là bí mật nữa. Để có một bức tranh hoàn chỉnh, người ta cần phải đọc toàn bộ văn bản mật đó.

Hillary vẫn chưa có một người nào trong đám nhân viên của mình có được thẩm quyền cần thiết về an ninh để đọc được NIE và những báo cáo tuyệt mật khác liên quan đến Iraq. Điều này gây nhiều sức ép hơn cho bà khi phải tự đọc những báo cáo này. Các thượng nghị sĩ có thể dễ dàng tiếp cận NIE trong một phòng được bảo vệ ở tầng bốn của Tòa nhà Quốc hội hay trong những văn phòng của Ủy ban Tình báo Thượng viện.

Khá là kinh ngạc, cuộc bỏ phiếu sắp xảy ra quan trọng đến vậy mà chỉ có sáu thượng nghị sĩ đích thân đọc bản báo cáo. Năm 2007, trên lộ trình chiến dịch tranh cử tổng thống ở New Hampshire, Hillary đã phải đương đầu với một phụ nữ từ tận New York đến để hỏi liệu bà đã đọc bản báo cáo tình báo đầy đủ chưa. Hillary trả lời rằng bà đã có được bản tóm tắt. “Thế bà có đọc nó không?” người phụ nữ hét lên. Và Hillary lặp lại rằng bà đã được tóm tắt, mặc dù bà không chỉ ra ai đã tóm tắt cho mình hay thừa nhận rằng không một phụ tá nào của mình có khả năng làm điều đó.

Câu hỏi liệu Hillary có bỏ thời gian ra để đọc NIE không là cực kỳ quan trọng. Không giống như bản tóm tắt ngắn gọn và được cắt tỉa, phiên bản mật và dài hơn của Đánh giá Tình báo Quốc gia chứa hàng loạt cảnh báo cùng những bất đồng ý kiến về vũ khí và khả năng của Iraq, khiến cho đất nước đó bớt đi một mối đe dọa trực tiếp của nước Mỹ. Phiên bản được gỡ mật của Đánh giá Tình báo, được Quốc hội bàn luận công khai và tường thuật lại trên báo chí, đã bỏ qua hầu hết các câu hỏi và định lượng về cái được cho là những kho vũ khí hủy diệt hàng loạt của Iraq. Thực vậy, một trong số các đồng nghiệp Dân chủ của Hillary, Bob Graham, vị thượng nghị sĩ Florida vốn khi đó là Chủ tịch Ủy ban Tình báo, cho biết ông đã bỏ phiếu chống quyết định chiến tranh, một phần nhờ đã đọc bản NIE đầy đủ. Graham nói rằng bản báo cáo đã không thuyết phục được ông rằng Iraq sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt. Về sau ông nói, “Tôi có khả năng vận dụng nguyên tắc có làm có chịu,” rồi lấy làm tiếc, ông nói tiếp, “Nhưng đa số đồng nghiệp của tôi đã không như vậy.”

Vào thứ ba, ngày 7 tháng 10 năm 2002, các thượng nghị sĩ Ðảng Dân chủ, gồm cả Hillary, tổ chức một cuộc họp kín vào buổi trưa ở tầng hai của Tòa nhà Quốc hội. Tại đó, Graham thúc giục “một cách mạnh mẽ” các đồng nghiệp của ông đọc bản NIE đầy đủ trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Hai ngày sau, trên sàn Thượng viện, Graham một lần nữa khẩn nài những đồng nghiệp của mình đọc những báo cáo tình báo mật trước khi bỏ một lá phiếu có ảnh hưởng to lớn như thế này.

Theo những nhận xét của riêng mình tại sàn Thượng viện vào ngày 10 tháng 10 năm 2002, Hillary bày tỏ sự tôn trọng đối với lập trường của Thượng nghị sĩ Graham và của những người khác, ghi nhận “những quan điểm khác nhau trong hội đồng này.” Sau đó bà tiếp tục với việc đưa ra một bản danh sách dài sọc những tội ác của Saddam Hussein. Bà kể về “cuộc tấn công không quân mạnh mẽ trong bốn ngày” của chồng mình vào tháng 12 năm 1998 nhằm vào “những cơ sở đã được xác định hay tình nghi có chứa vũ khí hủy diệt hàng loạt.” Bà viện dẫn “những báo cáo tình báo” không tên cho rằng từ năm 1998 đến 2002, Saddam Hussein đã “tái xây dựng những kho vũ khí hóa học và sinh học, khả năng phóng tên lửa, và chương trình hạt nhân của ông ta.” Những đánh giá tình báo bí mật và công khai về Iraq đều chứa những phân tích như vậy, nhưng bản đánh giá bí mật lại có một ý kiến bất đồng của nhánh tình báo Bộ Ngoại giao, họ kết luận – một cách chính xác, như sau này đã rõ – rằng Iraq không phải đang tái xây dựng chương trình hạt nhân của mình. Bản báo cáo mật cũng đã dùng loại ngôn ngữ điều kiện cách thêm vào khi mô tả những tham vọng hạt nhân của Iraq.

Hillary tiếp tục buộc tội lãnh đạo của Iraq đã cung cấp “viện trợ, tiện nghi, và nơi trú ẩn cho những kẻ khủng bố, bao gồm cả những thành viên Al Qaeda.” Tuyên bố này nghe vừa khít với cảnh báo điềm xấu mà bà đã đưa ra một hôm sau ngày 11 tháng 9.

Tuy nhiên, sự liên hệ của Hillary giữa lãnh đạo Iraq với Al Qaeda, không được những kết luận của NIE ủng hộ, cũng như một vài báo cáo bí mật và văn bản không bí mật khác vốn đã có sẵn trước khi diễn ra cuộc bỏ phiếu của Thượng viện. Thực vậy, không có báo cáo nào, ngoại trừ một văn bản ủng hộ tuyên bố của bà: một lá thư của CIA gửi đến Thượng nghị sĩ Graham đã ít nhiều đề cập một cách hững hờ “những dấu hiệu ngày càng tăng của một mối quan hệ” giữa Al Qaeda với Iraq, dựa trên “những nguồn tin với độ tin cậy không ổn định.” Trên thực tế, những báo cáo bí mật đã kết luận rằng không những Iraq không liên minh với Al Qaeda, mà Saddam Hussein và Osama Bin Laden còn là đối thủ của nhau, nghi ngờ và thù hằn sâu sắc đối với nhau. Một báo cáo của Cơ quan Tình Báo Quốc phòng vào tháng 2 năm 2002 kết luận rằng, “chế độ của Saddam cực kỳ không phụ thuộc vào tôn giáo và rất cảnh giác với những phong trào cách mạng Hồi giáo. Hơn nữa, Baghdad rất khó có thể trợ giúp một tổ chức mà nó không thể điều khiển.” Một báo cáo của CIA vào ngày 21 tháng 6 năm 2002, cho rằng, “Những mối quan hệ giữa Saddam và Bin Laden tỏ ra rất giống với những mối quan hệ giữa hai hệ thống tình báo kình địch, với mỗi bên cố gắng khai thác đối phương cho lợi ích của riêng mình.” Và theo lời Graham, bản báo cáo NIE đầy đủ, vốn vẫn được giữ bí mật, ghi nhận rằng Saddam Hussein “có rất ít, nếu như có, những liên lạc với Al Qaeda và không có tí hứng thú đặc biệt nào với việc trợ giúp Osama Bin Laden.”

Tuy nhiên, với vấn đề nhạy cảm về sự cộng tác giữa Al Qaeda và Iraq, Hillary thấy mình đã sử dụng cùng một thứ lý lẽ đã được tổng thống và phó tổng thống tung ra một cách hiếu chiến. Bush, Cheney và những viên chức chính quyền khác cứ lặp đi lặp lại lời khẳng định chẳng mấy căn cứ, nhiều đến nỗi tới đầu tháng 10 năm 2002, cứ ba người Mỹ thì đến hai người tin rằng Saddam Hussein có liên quan đến các vụ tấn công 11/9. Ngược lại, hầu hết những thượng nghị sĩ Dân chủ còn lại, thậm chí cả những người bỏ phiếu ủng hộ quyền phát động chiến tranh, đã không nói gì đến mối liên hệ với Al Qaeda trong những nhận xét của họ tại sàn Thượng viện. Một thượng nghị sĩ Dân chủ, Joe Biden từ Delaware, người đã bỏ phiếu ủng hộ quyết định chiến tranh và tán dương đường lối “điều độ và thận trọng” của Tổng thống Bush, trong những nhận xét của mình đã tích cực vạch trần các báo cáo về Al Qaeda tại Iraq và gọi chúng là “phóng đại quá mức”. Dianne Feinstein từ California, người nói rằng mình đã đọc bản báo cáo NIE đầy đủ, mô tả rằng bất kỳ mối liên kết nào giữa Saddam Hussein với Al Qaeda cũng rất “mỏng manh”.

Trên thực tế, chỉ có mỗi một thượng nghị sĩ Dân chủ gần như lặp lại những nhận xét “diều hâu” của Hillary về cái được quy kết là sự trợ giúp của Hussein cho Al Qaeda, đó chính là Joseph Lieberman từ Connecticut. Nhưng ngay cả Lieberman cũng làm dịu lời lẽ của mình trên sàn Thượng viện về sự liên kết đó bằng việc ghi nhận rằng “mối liên hệ giữa Al Qaeda và chế độ Saddam là đề tài của một cuộc tranh luận sôi nổi trong cộng đồng tình báo.”

Tuy nhiên, không có một tranh luận nào giữa đa số các viên chức từng làm việc cho chính quyền Clinton. Theo Kenneth Pollack, một viên chức dưới thời Tổng thống Clinton và là một người đề xướng hàng đầu việc lật đổ Saddam Hussein, thì bất cứ sự liên hệ nào giữa Saddam và Al Qaeda đều là “nhảm nhí... Tất cả chúng ta đều biết điều đó thật nhảm nhí.” Pollack đã khuyên Hillary về chuyện Iraq trước cuộc bỏ phiếu chiến tranh của bà.

Mối liên kết Saddam – Al Qaeda, vốn được chính quyền Bush đôn đáo theo đuổi, về sau bị vạch trần ra là sai. Vậy thì làm sao Hillary, người được tạp chí The Washingtonian miêu tả năm 2006 là thượng nghị sĩ “có đầu óc nhất,” có thể sai lầm trong một vấn đề quan trọng như vậy? “Lá phiếu của tôi là một lá phiếu chân thành dựa trên những thực tế và đảm bảo mà tôi đã có tại thời điểm đó,” bà nói, từ chối mô tả lá phiếu của mình là một sai lầm. “Và tôi đã chịu trách nhiệm cho lá phiếu của mình.”

Hillary biết rằng lá phiếu của bà, trên nhiều phương diện, góp phần vào một bài trắc nghiệm khả năng của bà trong việc đưa ra những quyết định sống còn, vốn là trách nhiệm trực tiếp của tổng tư lệnh[2]. Như đã từng trực cảm được trong những ngày ngay sau các cuộc tấn công, giờ đây bà biết rằng mình phải biểu lộ sự cứng rắn còn hơn cả những đồng nghiệp nam. Tuy vậy, nếu bà đã không buồn đọc những báo cáo tình báo đầy đủ, thì bà cũng lại không làm đủ công việc xem xét thẩm định cho cái quyết định mà bà gọi là quyết định quan trọng nhất của đời mình. Còn nếu bà có đọc chúng thật, thì việc đưa ra những tuyên bố để minh chứng cho lá phiếu ủng hộ chiến tranh của mình là do bà lựa chọn; mà những tuyên bố ấy lại đi ngược với các tin tức tình báo sẵn có. Và nếu bà đã đọc những bản báo cáo kia, thì đúng là kỳ quái khi bà đã không nói là có đọc.

Ngày 11 tháng 10 năm2002, Thượng viện bỏ phiếu 77 so với 23 để thông qua cuộc chiến chống Iraq của chính quyền Bush. Kết quả được định hình một phần bởi những cuộc bầu cử giữa kỳ sắp tới. Một số thượng nghị sĩ phải đối mặt với các cuộc tái cử không muốn tỏ ra yếu đuối trong một đề tài mà chính quyền đã khéo léo buộc vào “cuộc chiến chống khủng bố” của nước Mỹ. Hillary, đã được bầu hai năm về trước, không có những mối lo tức thời như thế. Tuy vậy chính trị bầu cử là một nhân tố trong sự tự xác định lập trường của bà và lá phiếu của bà. Thực vậy, trước khi có cuộc xâm lược, Hillary đã thấy trước, xa hơn nhiều đồng nghiệp Thượng viện của mình, về sự khó khăn tiềm ẩn trong việc tái thiết Iraq. Trong một số cuộc họp riêng với các viên chức hàng đầu của Bush, Hillary đã hỏi những câu thẳng thắn về việc chính quyền định đối phó thế nào với những thách thức không thể tránh khỏi của việc cai quản đất nước đó sau cuộc xâm lược. Trong một buổi họp mặt cho các thượng nghị sĩ vào tháng 2 năm 2003 tại Trụ sở Quốc hội, theo lời những người tham gia, Hillary đã thúc rất hăng Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld về chủ đề đó.

Khi khảo sát kỹ lưỡng về việc bỏ phiếu của Hillary, thật kỳ quái, một thời khắc chính yếu đã bị quên lãng. Đó là vào ngày 10 tháng 10 năm 2002, cùng một ngày Hillary phát biểu ở sàn Thượng viện về lý do tại sao bà sẽ ủng hộ quyền phát động cuộc chiến Iraq. Trong lời bình luận của mình, về phần chính quyền Bush, bà nhấn mạnh sự cần thiết phải có giải pháp ngoại giao với Iraq, và khăng khăng mình không hề bỏ phiếu cho “bất kỳ học thuyết tiên hạ thủ nào, hay cho chủ nghĩa đơn phương nào.” Vậy nhưng chỉ vài giờ sau đó, Hillary đã bỏ phiếu chống lại một điều khoản bổ sung cho nghị quyết chiến tranh, chính điều khoản này đòi hỏi sự chú trọng đến giải pháp ngoại giao mà Hillary trước đó đã công khai ủng hộ – và cũng chính là điều mà giờ đây bà vẫn nói là mình luôn ủng hộ.

Cuộc bỏ phiếu đã bị bỏ quên từ lâu đó là cho một điều khoản bổ sung do một số thượng nghị sĩ Dân chủ đề xướng. Họ hy vọng kiềm chế được quyền lực của Tổng thống Bush bằng cách đòi hỏi một quy trình hai-bước trước khi Quốc hội thực sự thông qua việc dùng vũ lực. Các thượng nghị sĩ biết quá rõ cái quyền hạn rộng lớn mà họ đang cấp cho Bush, vậy nên họ cố gắng cài thêm mấy cái phanh vào cuộc hành quân ra trận đã được đoán trước của ông ta. Yếu tố cảnh báo được đề nghị trước tiên trong điều khoản bổ sung là đòi hỏi phải có một nghị quyết thứ hai của Liên Hiệp Quốc, chấp thuận một cách rõ ràng việc dùng vũ lực đối với Iraq. Nếu những nỗ lực ngoại giao của Bush thất bại, điều khoản bổ sung cho phép Quốc hội được yêu cầu tổng thống phải lấy được sự cho phép lần hai (mới được tiến hành chiến tranh). Nó bắt buộc ông ta phải quay trở lại Quốc hội và “thúc giục chúng tôi thông qua một nghị quyết đơn phương, tự thân tiến hành,” theo lời một tác giả của điều khoản bổ sung – Thượng nghị sĩ Carl Levin từ Michigan. Nói cách khác, điều khoản bổ sung gửi đến Bush thông điệp như sau: Tin tưởng nhưng vẫn phải kiểm lại. Những người phản đối Levin, trong đó có John McCain, lý luận rằng thủ tục của điều khoản bổ sung đòi hỏi phải có một nghị quyết Liên Hiệp Quốc thứ hai đã giới hạn “quyền tự do hành động của chúng ta.” Giới hạn đó, hẳn nhiên, chính là điều mà Levin và những người đồng bảo trợ của ông đã nhắm tới.

Suốt hàng thập kỷ, Quốc hội và tổng thống vẫn tranh luận gay gắt về việc cơ quan nào của Chính phủ có quyền cấp phép cho việc dùng vũ lực. Điều khoản bổ sung, nếu được thông qua, tuy có thể không ngăn cản được Bush xâm lược Iraq, nhưng sẽ mang lại một cơ hội để các thượng nghị sĩ công khai ủng hộ một lối tiếp cận ngoại giao hơn.

Điều khoản bổ sung Levin bày ra cho Hillary một cơ hội hoàn hảo để yêu cầu Bush tích cực theo đuổi thêm các giải pháp ngoại giao trước khi tiến hành cuộc chiến. Nhưng bà đã chọn không làm vậy, thay vào đó là tham gia vào phe đại đa số gồm bảy mươi lăm thượng nghị sĩ bỏ phiếu chống lại đề xuất của Levin. Bảy mươi lăm thượng nghị sĩ đó gần như đều bỏ phiếu ủng hộ sự cho phép tiến hành chiến tranh vào ngày hôm sau. Ba thượng nghị sĩ – Feinstein, Tom Harkin từ Iowa, và Herb Kohl từ Wisconsin – đã xé rào, bỏ phiếu thông qua nghị quyết của Levin trước khi bỏ phiếu thông qua việc cho phép Bush tiến hành chiến tranh. (Sau khi điều khoản bổ sung bị bác bỏ, Levin đã bỏ phiếu chống lại sự cho phép tiến hành chiến tranh.) Giá như Hillary nhập nhóm với ba đồng nghiệp Dân chủ của mình và ủng hộ điều khoản của Levin, thì sau đó bà đã có thể lập luận thuyết phục hơn rất nhiều rằng mình đã đấu tranh một giải pháp ngoại giao đa phương. Nhưng thay vì bỏ phiếu để khiến Bush phải theo đuổi đường lối ngoại giao hơn nữa, bà đã bỏ phiếu cho phép Bush quyền xâm lược Iraq.

Tòa nhà văn phòng ThưỢng viỆnRussell lâu đời nhất trong số ba tòa văn phòng chứa các phòng họp và phòng làm việc của một trăm thượng nghị sĩ quốc gia. Những hành lang trải dài, những văn phòng rộng lớn, và những trần nhà cao vút. Nhưng vào buổi sáng ngày 6 tháng 3 năm 2003, không một thứ nào trong số những cấu trúc vững chắc đó có thể ngăn được những âm thanh inh tai từ mấy chục phụ nữ mặc đồ hồng, giận dữ và hô khẩu hiệu bên ngoài văn phòng Russell 476.

Những người biểu tình là thành viên của một nhóm cánh tả được thành lập một vài tháng trước nhằm phản đối cuộc chiến. Tên của họ, “Mật mã Hồng: Phụ nữ vì Hòa bình,” được đặt ra là để chế nhạo những cấp độ cảnh báo về nguy cơ khủng bố được mã hóa thành màu sắc do chính quyền Bush ban hành. Sáng hôm đó, nhóm đã mang sự nghiệp chính nghĩa của mình đến trước cửa phòng Thượng nghị sĩ Hillary Rodham Clinton.

Những phụ nữ Mật mã Hồng đã quyết định thực hiện một cố gắng cuối cùng để ngăn chặn cuộc chiến bằng việc đương đầu với các thượng nghị sĩ trong các hành lang Quốc hội. Tuy những phụ nữ này sốt sắng, nhưng chiến dịch của họ hầu như chỉ mang tính tượng trưng. Năm tháng trước, các thành viên của Quốc hội, trong đó có cả Hillary, đã cấp cho Bush mọi quyền hành ông cần để tiến hành cuộc chiến chống lại nước Iraq của Saddam Hussein. Đến lúc này, sự tăng cường lực lượng quân sự trong khu vực đã sắp hoàn tất và cuộc xâm lược dường như là không thể tránh khỏi. (Trên thực tế, nó sẽ diễn ra chỉ trong vài ngày nữa.)

Những nhân viên lâu năm của Hillary sửng sốt khi một nhóm đông người và lộn xộn đến vậy đòi gặp bà thượng nghị sĩ. Không ngần ngại, họ từ chối yêu cầu của nhóm Mật mã Hồng đòi tiến hành một cuộc họp, với lời giải thích rằng sếp của họ đang quá bận rộn tiến hành công việc của Thượng viện. (Các thượng nghị sĩ thông thường không tiếp những người không có hẹn trước.) Không nản lòng, đám phụ nữ hạ trại bên ngoài văn phòng của Hillary, từ chối rời khỏi cho đến khi nói chuyện được với bà. Rõ ràng bị thuyết phục bởi sự kiên định của nhóm, những phụ tá của Hillary bảo các lãnh đạo của Mật mã Hồng rằng bà thượng nghị sĩ sẽ gặp họ trong khoảng một tiếng. Một trong những quy tắc căn bản là không một phóng viên nào được tham dự. Mật mã Hồng đồng ý và họ được hướng dẫn vào một phòng gần đó, nơi họ để thời gian qua đi bằng việc hát những bài ca hòa bình và trò chuyện.

Đột nhiên, những cánh cửa bằng gỗ óc chó được mở rộng và Hillary, mặc một áo choàng xanh dương sáng và một chiếc quần tây đen bước vào căn phòng. Những người phụ nữ nhanh chóng đứng dậy khỏi ghế và hoan nghênh. Hillary mỉm cười và ngồi vào chỗ của mình phía sau một cái bàn, đối mặt với những người phụ nữ. Bà cảm ơn họ, tiếp nhận những lo lắng của họ, và bày tỏ lòng kính trọng đối với màu sắc biểu trưng của nhóm.

“Tôi thích những bông hoa tu-lip hồng,” bà nói với một nụ cười.

Hillary sau đó nói thẳng ra luôn cái khoảng cách hiển hiện giữa lập trường của Mật mã Hồng và của chính bà đối với cuộc chiến. “Tôi không đồng ý với những lo lắng đó ở một khía cạnh,” bà nói. Thế rồi bà hỏi nhóm có người phát ngôn nào không.

Một người phụ nữ cao ráo mặc đồ hồng tiến đến chiếc bàn. Bà mặc một chiếc quần lót bên ngoài bộ đồ hồng của mình, được vẽ nổi bật dòng chữ “Hilary [sic], bà đang không lắng nghe những người phụ nữ. Chúng tôi nói: KHÔNG CHIẾN TRANH TẠI IRAQ.” Bà tự giới thiệu mình là Medea Benjamin và cám ơn Hillary đã bỏ thời gian ra để gặp gỡ họ.

Bà Benjamin, một người kỳ cựu cho sự nghiệp chính nghĩa ở cánh tả, giải thích cho Hillary rằng mới đây bà vừa dẫn đầu một phái đoàn đến Iraq, nơi bà và những đồng nghiệp của mình bày tỏ tình đoàn kết với phụ nữ Iraq và gặp gỡ những thanh sát viên vũ khí Liên Hiệp Quốc, những người cho biết rằng họ cần thêm thời gian.

Benjamin sau đó chạm vào một số các đề tài “tủ” của Hillary: “Chúng tôi muốn bà giúp chúng tôi bảo vệ phụ nữ và trẻ em Iraq cùng con em chúng ta,” bà nói, yêu cầu Hillary làm việc để đảm bảo rằng tiền liên bang sẽ để “chăm sóc trẻ em và sức khỏe,” chứ không phải để cho một cuộc chiến.

Hillary gật đầu nhưng không nói gì.

Benjamin tiếp tục với cách tiếp cận lịch sự của mình. “Chúng tôi biết bà là một người phụ nữ tuyệt vời,” bà nói, “và tận đáy lòng, bà thật sự đồng ý với chúng tôi.”

Công việc là công việc, người lãnh đạo Mật mã Hồng sau đó đi thẳng vào vấn đề. “Có hai cách để lựa chọn,” bà nói đầy âm điệu. Nhóm của bà có thể trao cho Hillary một huy hiệu hồng cho lòng dũng cảm nếu Hillary ủng hộ lập trường của họ. Nếu không, nhóm đã sẵn sàng để trao cho bà một chiếc quần lót hồng.

Hillary làm mọi người ngạc nhiên bằng vẻ hòa giải.

“Tôi khâm phục thiện ý của các bạn lên tiếng cho phụ nữ và trẻ em Iraq. Đó là những lý do khiến tôi cảm nhận mạnh mẽ.” Bà giãi bày rằng lá phiếu tháng 10 năm 2002 ủng hộ tổng thống cho một cuộc xâm lược có khả năng xảy ra ở Iraq là một “quyết định cực kỳ khó khăn đối với tôi.” Hillary sau đó đi vào một giải thích chi tiết và dài dòng cho lá phiếu cũng như cho hiểu biết của bà về Iraq. Không những lời giải thích của bà chi tiết và cởi mở hơn những ý kiến mà bà đưa ra tại sàn Thượng viện trước cuộc bỏ phiếu, mà những nhận xét của bà trình bày với nhóm Mật mã Hồng cũng trội hẳn so với những điều được đưa ra trong các bài diễn văn, văn bản, và các thông tin sau này của bà với cử tri về đề tài này.

Trong hồi ký của bà, Living History, Hillary không hề đề cập đến một mối quan tâm trước đó đối với Iraq và chỉ tiết lộ một đoạn đối thoại giữa bà và chồng bà vào năm 1998. Nhưng giờ đây, bà nói với những người phụ nữ kia, “Đây là điều mà tôi đã theo đuổi hơn một thập kỷ.” Có một phần sự thật trong đó, như khi Bill đối phó với Iraq một cách ngắt quãng, và bà đã quan sát nó từ bên trong. Nhưng nếu Iraq đúng là một mối quan tâm đặc biệt của bà, thì chắc là bà đã che giấu sự thật đó một cách thành công lúc còn ở Washington.

Khi được một trong số những người phụ nữ kia hỏi rằng tại sao nước Mỹ lại đi gánh trách nhiệm giải giáp một đất nước như Iraq, Hillary trả lời rằng không có “sự lãnh đạo của Mỹ”, thì sẽ không có được “một sự sẵn lòng gánh vác các vấn đề khó khăn” do “thái độ của nhiều người trong cộng đồng thế giới ngày nay.” Bà viện dẫn những hành động theo chính sách đối ngoại cứng rắn của chồng mình, có những lúc đã tiến hành đơn phương, như một tiền lệ cho sự can thiệp vào Iraq của chính quyền Bush. “Tôi đang nói cụ thể về những gì đã được thực hiện ở Bosnia và Kosovo, nơi chồng tôi không thể đạt được một nghị quyết Liên Hiệp Quốc để cứu lấy những người Kosovo gốc Albania” tránh khỏi các chính sách thanh trừng sắc tộc của Slobodan Milosevic, Hillary nói với những người phụ nữ. “Chúng ta đã phải tự mình làm việc đó.”

Một thành viên khác của Mật mã Hồng sau đó hỏi Hillary liệu bà có tin rằng Saddam Hussein sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt hay không. “Không có một giải thích nào (từ Iraq) về những vũ khí hóa học và sinh học,” Hillary thừa nhận. Nhưng bà thêm rằng Saddam Hussein có một “quá trình đã được chứng minh” đến nỗi chỉ có thể miêu tả ông ta như một người mang “một nỗi ám ảnh về vũ khí hủy diệt hàng loạt.” Bà sau đó ám chỉ, nhưng không nói rõ ra, rằng bà đã đọc những bản báo cáo tình báo bí mật về Iraq. “Tôi rốt cuộc đã bỏ phiếu ủng hộ nghị quyết sau khi cẩn thận xem xét thông tin và tình báo mà tôi có được,” bà nói. Hillary nói với những người kháng nghị Mật mã Hồng rằng tự bà cũng đã làm công việc thẩm định bằng cách “nói chuyện với những người” mà bà tin tưởng. Tuy nhiên, bà không chỉ rõ ra ai là những vị cố vấn được tin tưởng đó.

Cuối cùng, Hillary chớp lấy cơ hội để làm một cú thọc vào tổng thống, bày tỏ “100 phần trăm” sự thống nhất với những chỉ trích của Mật mã Hồng về các ưu tiên đối nội của Bush. Họ hoan nghênh. Sau đó Hillary xoay người rời khỏi phòng.

“Xin lỗi, các bạn,” bà nói thêm.

Chỉ một vài ngày trước cuộc viếng thăm của Mật mã Hồng, Hillary đã bày tỏ sự ủng hộ dành cho một giải pháp hòa bình bằng con đường ngoại giao và thanh tra vũ khí, nói với những phóng viên ở khu vực phía bắc New York, “Sẽ tốt hơn nếu chúng ta giải quyết việc này một cách hòa bình bằng cách cho thanh tra bắt buộc.” Nhưng đây chỉ là lối nói khoa trương khi đối chiếu với những lá phiếu và sự ủng hộ liên tục của bà đối với tổng thống. Điểm mấu chốt là Hillary vẫn ủng hộ cuộc chiến. Vậy nên, trước khi bà rời phòng họp, một lãnh đạo Mật mã Hồng đã lên tiếng, “Tôi nghe rằng bà sẵn sàng đánh đổi mạng sống của những dân thường Iraq vô tội để tìm ra Saddam Hussein, vì vậy tôi chỉ muốn trao cho bà quần lót hồng của tôi.” Người phụ nữ sau đó cố gắng nhét một chiếc quần lót màu hồng vào tay Hillary.

Hillary đã không chạm vào nó và bắn một tia nhìn giận dữ về phía người phụ nữ. “Tôi là thượng nghị sĩ đến từ New York,” Hillary cáu lên, vẫy ngón tay về phía người phụ nữ. “Tôi sẽ không bao giờ đặt an ninh của người dân mình vào thế nguy hiểm. Tôi phẫn nộ về điều đó.”

“Chính bà! Chính bà! Chính bà,” một số phụ nữ quát ngược lại Hillary trong khi bà nhanh chóng quay lưng lại với cử tọa Mật mã Hồng và đi ra khỏi cửa. Một người kháng nghị hét lên về phía bà, “Chính bà đang sống trong chối bỏ sự thật!” Sau khi bà thượng nghị sĩ rời khỏi, những người phụ nữ bắt đầu hát:

Dấn thân ta nào

Dừng cuộc chiến này khi vẫn còn thời gian.

Dấn thân ta nào

Hillary rồi phải lộ mình.

“Âm mưu to lớn của cánh hữu”[3] đã tấn công Hillary Rodham Clinton hàng thập kỷ. Và Hillary rõ ràng không hề biết rằng những người phụ nữ này đã quay phim mọi thứ, và trong thời gian trước lúc bà khởi sự chiến dịch tranh cử tống thống, họ sẽ đăng tải đoạn phim lên YouTube.

Cuộc phản đối của Mật mã Hồng là một dấu hiệu cho thấy lá phiếu của Hillary có nhiều khả năng mang lại cho bà những khó khăn to lớn. Và bản thân cuộc chiến ấy thậm chí còn chưa bắt đầu.

❀ ❀ ❀

[1] Tổng thống Bush cha, thân phụ của tổng thống đương nhiệm - ND

[2] Tổng thống Mỹ cũng là tổng tư lệnh quân đội - ND

[3] Cụm từ được Hillary dùng để bảo vệ chồng mình, Bill Clinton, và chính quyền của ông trong vụ bê bối Lewinski năm 1998 - ND

ịch: Dương Thủy Huỳnh Hoa —★— Bài Học Hillary ebook©MotSAch TVE-4u©Trần Ngọc Anh —★— Nhà xuất bản: NXB Tri thức
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Don Van Natta, Jeff Gerth

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.