Minh Triều Phú Gia Tử

Lượt đọc: 881 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 35
Bát Cổ Văn Có Quy Luật Chăng?

❊ ❊ ❊

Đêm đã khuấy, toàn bộ Dương phủ sớm đã chìm vào trong một mảnh tối đen, duy chỉ có thư phòng của Dương Thông còn thấu ra chút ánh đèn ít ỏi.

Dương Thông ngồi trước bàn sách, ngẩn ngơ nhìn mấy bài bát cổ văn trước mắt, mày nhíu chặt lại thành một chữ Xuyên.

Hắn cũng không phải không nhìn hiểu những bài văn này viết thứ quái quỷ gì, dù sao Dương Thông nguyên chủ cũng đã “khổ đọc” Tứ thư Ngũ kinh hơn mười năm, không dám nói tài cao bát đẩu, học phú ngũ xa, nhưng những bài văn thông thường thì hắn vẫn xem hiểu.

Vấn đề là, hắn không tìm ra quy luật của bát cổ văn a!

Đương nhiên, nếu hiểu từ phương diện thể thức và quy định, mà bảo rằng bát cổ văn không có quy luật, thì chính là nói nhảm.

Thể thức và quy định của bát cổ văn có thể nói là cực kỳ có quy luật, dùng hai từ cổ hủ và cứng nhắc để hình dung những quy luật này cũng không quá đáng.

Vậy, bát cổ văn cứng nhắc đến mức nào?

Trước tiên, đề bài của bát cổ văn nhất định xuất phát từ Tứ thư Ngũ kinh, nói cách khác, đề thi khoa cử các ngươi không cần phải đi đoán, chắc chắn được trích từ một câu nào đó trong Tứ thư Ngũ kinh.

Ví dụ như “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ?”, “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã.”, “Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức.” v.v., những câu này đều có khả năng trở thành đề thi khoa cử.

Sau đó, yêu cầu về thể thức của bát cổ văn vô cùng nghiêm ngặt, toàn bộ bài văn bắt buộc phải chia thành tám phần: Phá đề, Thừa đề, Khởi giảng, Nhập đề, Khởi cổ, Trung cổ, Hậu cổ, Thúc cổ. Hơn nữa bốn phần sau gồm Khởi cổ, Trung cổ, Hậu cổ, Thúc cổ, tức là phần chính văn dùng để chính thức trình bày quan điểm của ngươi, mỗi phần bắt buộc phải do hai vế câu đối ngẫu xếp song song tạo thành, gộp lại tổng cộng là tám vế (bát cổ), tên gọi bát cổ văn cũng từ đó mà ra.

Đương nhiên, bát cổ văn này không phải cứ chia thành tám đoạn, rồi bốn đoạn sau là bốn cặp câu đối ngẫu là được đâu, khoa cử khảo thí có quy định nghiêm ngặt đối với thể thức và nội dung của từng đoạn.

Ví dụ như Phá đề, bắt buộc phải dùng từ hai đến ba câu để vạch rõ yếu nghĩa của đề bài; Thừa đề, bắt buộc phải dùng từ ba đến năm câu để tiếp nối Phá đề, giải thích thêm cho đề bài.

Lấy một ví dụ đơn giản, nếu lấy “Học nhi thời tập chi” làm đề, viết phần mở đầu thế nào mới tính là bát cổ văn đạt chuẩn?

Hai câu Phá đề: Học dữ thời tiến, công tư thuần hĩ.

Ba câu Thừa đề: Cải học nhi bất tập dữ phất học đẳng, học nhi bất thời diệc dữ phất học đẳng, nhi thuần vu giả khởi nhược thị hồ.

Viết như vậy mới đúng, không thể ngay từ đầu đã trình bày luận điểm của mình, cũng không thể lải nhải dài dòng một đống, hai đoạn mở đầu bắt buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt thể thức bát cổ văn để Phá đề, Thừa đề.

Còn về Khởi giảng, nói một cách đơn giản chính là ta đang giảng về cái gì đại khái, ta sắp bắt đầu giảng đây, bởi vì Phá đề và Thừa đề phía trước đều là giải thích ý nghĩa của đề bài, không có luận thuật của chính mình, bắt đầu từ Khởi giảng này là có thể trình bày luận điểm của bản thân, cho nên Khởi giảng này cũng có ý nghĩa khơi mào luận thuật.

Lại còn phần Nhập đề phía sau, nói một cách đơn giản chính là sự hiểu biết của ta đối với đề bài là gì, tức là kết hợp đề bài và phần trình bày trong Khởi giảng ở trên để giải thích thêm luận điểm của bản thân. Còn vì sao lại hiểu như vậy, xin hãy xem phần luận thuật ở Khởi cổ, Trung cổ, Hậu cổ, Thúc cổ bên dưới. Phần Nhập đề này đại khái đóng vai trò chuyển tiếp ở giữa.

Bốn phần cuối cùng là Khởi cổ, Trung cổ, Hậu cổ, Thúc cổ, chính là phần chính văn, tức là trình bày chi tiết luận điểm của bản thân.

Bốn đoạn này là thử thách lòng người nhất, bởi vì mỗi một đoạn bắt buộc phải do hai vế câu đối ngẫu xếp song song tạo thành, hơn nữa còn phải giống như làm thơ từ và câu đối, rất coi trọng bằng trắc, đòi hỏi phải có vần điệu.

Ví dụ như, miêu tả đại dương và con bạch tuộc, ngươi không thể đơn giản dùng một câu rằng đại dương rộng lớn vô tận, làn nước biển xanh thẳm không thấy bờ mép, giống như nối liền với tận chân trời, con bạch tuộc ở trong nước biển.

Chiếu theo thể thức của bát cổ văn, đại khái nên viết thế này.

Đại dương ơi, ngươi toàn là nước.

Bạch tuộc ơi, ngươi toàn là chân.

Đương nhiên, viết như vậy chỉ là miễn cưỡng gom góp về mặt thể thức, còn về mặt nội dung thì vi phạm nghiêm trọng quy định, bởi vì bát cổ văn có yêu cầu nghiêm ngặt đối với nội dung bài văn, hay nói cách khác là đối với thủ pháp miêu tả.

Bát cổ văn còn có một quy định quan trọng nhất, chính là toàn bộ bài văn bắt buộc phải dùng khẩu khí của các bậc cổ thánh tiên hiền như Khổng Tử, Mạnh Tử để nói chuyện, tức là cái gọi là thay thánh nhân lập ngôn, tuyệt đối không cho phép tự do phát huy, thích viết thế nào thì viết, thích nói thế nào thì nói, càng không được dùng điển cố phong hoa tuyết nguyệt đểtiết độc (báng bổ) thánh nhân.

Cái này cực kỳ chết người, bởi vì các bậc cổ thánh tiên hiền lúc nói chuyện cơ bản đều mang theo các trợ từ như chi, hồ, giả, dã, nếu ngươi muốn viết ra những thứ trông có vẻ giống khẩu khí của cổ thánh tiên hiền thì phải khắp nơi thêm thắt những trợ từ này. Thêm cho khéo thì còn đỡ, thêm không khéo, thì sẽ thành trò cười ngay.

Ví dụ như đoạn miêu tả đại dương và bạch tuộc phía trước, nếu hoàn toàn viết theo yêu cầu của bát cổ văn, đại khái sẽ biến thành thế này.

Hải chi đại giả, nhất vãng vô tế hồ, hải nội hạn hề, toàn thị thủy dã.

Tự chi ngư giả, hoang đản bất ki tha, thân chi ngoại hề, toàn thị thối dã.

Cái thể thức cứng nhắc này, quy củ phiền phức chính là điểm khiến bát cổ văn bị người đời chê trách nhiều nhất.

Ví dụ như, hai ba câu Phá đề phía trước, ba bốn câu Thừa đề, ngay cả số câu cũng quy định chết cứng, bảo người ta phát huy thế nào đây?

Lại ví dụ như bốn đoạn chính văn bát cổ phía sau càng giống như làm câu đối, bắt buộc phải đối xứng chỉnh tề, trình bày quan điểm của bản thân mà cũng phải giống như làm câu đối để trình bày, làm như thế chẳng phải là lãng phí thời gian của mọi người sao?

Hơn thế nữa, bát cổ văn còn có quy định về số chữ của toàn bộ bài văn, theo quy định của nhà Minh, bài thi nào nhiều hơn năm nghìn chữ... à nhầm, năm trăm chữ là bị phế bỏ. Năm trăm chữ, phía trước lại còn phải dựa theo yêu cầu thể thức để viết bốn đoạn gần như là lời vô nghĩa để phụ họa, luận điểm này làm sao mà trình bày cho rõ ràng được chứ?

Lại còn, toàn bài đều phải dùng khẩu khí của tiên hiền thời cổ để viết, việc này làm khó người ta đến mức nào chứ, khiến cho rất nhiều người đọc sách thời cổ đều giống như uống nhầm thuốc, mở miệng ngậm miệng là chi hồ giả dã. Thật ra, không phải bọn họ thích nói chuyện kiểu này, mà là khoa cử yêu cầu bọn họ phải dùng khẩu khí này!

Nói tóm lại, xét từ các phương diện thể thức và quy định, bát cổ văn là cực kỳ có quy luật. Vậy thì, tại sao Dương Thông lại cho rằng bát cổ văn này không tài nào tìm ra quy luật?

Nguyên nhân chính là, những thể thức và quy định này thí sinh nào mà chẳng biết!

Quy luật mà hắn muốn tìm là quy luật mà tất cả người đọc sách trong thời đại này đều không biết, hay nói cách khác, thứ hắn muốn tìm là đường tắt để thi đậu khoa cử.

Nói một cách đơn giản, chính là phương pháp không cần phải dùi mài kinh sử đọc chết tươi Tứ thư Ngũ kinh giống như mấy tên mọt sách thời đại này mà vẫn có thể làm ra bài bát cổ văn thượng hạng.

Phương pháp này tự nhiên không dễ gì tìm ra như vậy, hắn cầm mấy bài bát cổ văn đối chiếu tỉ mỉ nửa buổi, vẫn chẳng có lấy một chút manh mối.

Hắn chỉ cảm thấy, những bài bát cổ văn này ngoại trừ cổ hủ ra thì chính là cứng nhắc, chẳng có chút thú vị nào, nhìn vào chỉ khiến người ta buồn ngủ.

Những bài văn này quả thực không ra sao cả, bởi vì đây đều là những bài mà sau khi ăn cơm xong, hắn đã vứt bỏ thể diện chạy đi cầu xin ở chỗ Nghiêm lão tiên sinh. Nói cách khác, những bài bát cổ văn này đều do mấy tên tú tài nghèo học cùng lớp với hắn viết ra.

Thật ra, huyện học không chỉ giảng giải Tứ thư Ngũ kinh, Nghiêm lão tiên sinh cũng thường xuyên ra đề bảo các sinh viên bên dưới viết bát cổ văn.

Chỉ là, ông ấy ra đề thì ít, rất ít khi giảng giải, càng không dạy học sinh tổng kết quy luật của bát cổ văn, cứ mặc kệ cho ngươi tự viết, viết xong mang cho ông ấy xem.

Ông ấy xem xong, cảm thấy bài nào viết hay thì sẽ đọc lớn trước mặt mọi người để biểu dương, viết không tốt thì ông ấy cũng sẽ phê bình một trận, chỉ thế mà thôi.

Những bài được gọi là viết hay này tự nhiên đều do mấy tên tú tài nghèo viết, bọn họ đã có thể thi đậu tú tài, làm bát cổ văn chắc chắn lợi hại hơn đám người nhận suất ưu tiên như Dương Thông nhiều rồi.

Dương Thông trước kia thuộc về cái loại viết không tốt lắm, nhưng bài bát cổ văn hắn viết cũng chưa đến mức chó gặm không thông, cho nên Nghiêm tiên sinh mới nói tư chất của hắn còn tạm được, chỉ cần chăm chỉ, thi đậu sinh viên (tú tài) không có vấn đề gì lớn.

Lúc này hắn không phải không muốn chăm chỉ, chỉ là hắn không muốn chăm chỉ theo phương pháp của người đọc sách thời đại này mà thôi. Nếu phải chăm chỉ theo phương pháp của người đọc sách thời đại này, phờ râu hắn e là phải đọc thêm mấy năm nữa mới thi đậu nổi tú tài.

Hơn nữa, cho dù hắn có cố gắng cả đời, rốt cuộc có thể thi đậu cử nhân hay không hãy còn chưa biết chừng.

Còn về tiến sĩ, thì đúng như Nghiêm lão tiên sinh đã nói, hoàn toàn không có chút hy vọng nào.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ piaotia.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.