Vị tử Khai là con đầu của đế Ất nhà Ân và là anh thứ của vua Trụ. Sau khi Trụ lên ngôi, không sáng láng, khiến chính sự hoang đàng rối ren, Vi tử nhiều lần can gián, vua Trụ không nghe. Đến khi Tổ Y[1] nhân thấy Tây bá Xương ở Chu sửa sang chính đức, tiêu diệt nước Kỳ[2], sợ họa lan đến, bèn nói với vua Trụ. Trụ đáp rằng: “Ta sinh ra chẳng phải là nhận mệnh ở trời ư? Hắn làm được trò trống gì chứ!” Thế rồi Vi tử xét thấy không thể can gián được vua Trụ, muốn dùng cái chết để khuyên, hoặc bỏ đi, trù trừ chưa quyết, bèn hỏi quan Thái sư và Thiếu sư rằng: “Vua nhà Ân không sửa sang chính giáo, không lo cai trị bốn phương. Tổ tiên ta kiến tạo sự nghiệp ở các đời trước, Trụ vương thì đắm chìm trong rượu, tin lời nữ nhân, khiến đức độ của Thành Thang rối ren suy bại ở đời sau. Dân chúng nhà Ân, từ nhỏ đến lớn chỉ thích trộm cướp, gian dối nơi nội cỏ, khanh sĩ bắt chước nhau, không noi theo pháp độ, ai cũng có tội lỗi, tước lộc chẳng thường được, nên hay chiếm của nhau, tiểu dân[3] liền cùng nổi lên, coi nhau như địch thù. Nay phép tắc nhà Ân mất rồi! Khác nào vượt sông mà chẳng biết đâu là bờ bến. Nhà Ân sẽ mất thôi, nay đến lúc rồi.” Vi tử lại hỏi: “Thái sư, Thiếu tư, ta biết đi đâu về đâu đây? Có thể bảo vệ quốc gia ta thoát cảnh diệt vong chăng? Nay các vị không có cách nào chỉ cho ta, e sẽ sa vào chỗ bất nghĩa, phải làm thế nào đây?” Thái sư kính cẩn đáp: “Vương tử, trời thực giáng họa để diệt nhà Ân, Trụ vương không hề kiêng sợ điều gì, không nghe lời khuyên can của bậc trưởng lão. Nay dân nhà Ân khinh khi tế tự thần kỳ. Nay nếu có thể khiến đất nước yên trị, thì dẫu thân chết cũng không hận; nếu chết mà rốt cuộc nước không yên trị, chẳng bằng bỏ đi.” [Vi tử] bèn trốn đi.
Cơ tử là thân thích của vua Trụ. Ban đầu, vua Trụ dùng ngà voi làm đũa, Cơ tử than rằng: “Nhà vua dùng ngà voi làm đũa, rồi ắt lấy ngọc làm chén; dùng ngọc làm chén thì ắt nghĩ cách khiến các vật quý lạ ở phương xa về tay mình. Xe ngựa cung thất dần [trở nên xa hoa] bắt đầu từ đây, không thể chấn chỉnh được nữa.” Trụ hoang dâm vô độ, Cơ tử can gián, [Trụ] không chịu nghe. Có người nói: “Phải đi thôi!” Cơ tử nói: “Làm bề tôi can gián vua không nghe mà bỏ đi, là vạch lỗi của vua mà tự lấy lòng yêu mến của dân, ta không đành làm thế.” Bèn xõa tóc giả cuồng rồi làm nô lệ. Sau đấy ở ẩn đánh đàn để tự tỏ nỗi bị thương trong lòng, cho nên lưu truyền khúc “Cơ tử tháo”[4].
Vương tử Tỷ Can cũng là thân thích của vua Trụ. Thấy Cơ tử can gián Trụ, vua Trụ không nghe, rồi đến nỗi phải làm nô lệ, thì nói rằng: “Vua có lỗi mà không lấy cái chết để cố ngăn, thì trăm họ có tội tình gì!"[5] Bèn dùng lời thẳng để can gián vua Trụ. Vua Trụ nổi giận nói: “Ta nghe nói tim của thánh nhân có bảy lỗ, không biết thực thế chăng?” Bèn giết Vương tử Tỷ Can, mổ bụng xem tim của ông ta.
Vi tử nói: “Cha con có tình cốt nhục, vua tôi thì có đạo nghĩa. Cho nên cha có lỗi, con can nhiều lần không nghe thì theo mà kêu khóc; kẻ làm tôi can nhiều lần mà vua không nghe thì nương vào đạo nghĩa mà đi thôi.” Thế rồi quan Thái sư, Thiếu sư bèn khuyên Vi tử ra đi, [Vi tử] bèn đi[6].
Chu Vũ vương thảo phạt vua Trụ, lật đổ triều Ân, Cơ tử bèn mang đồ tế khí đến trước quân doanh, để trần, trói tay quặt sau lưng, cho người bên trái dắt theo dê, bên phải cầm cỏ mao, đi bằng gối đến trước [Vũ vương] để trình thưa. Thế rồi Vũ vương bèn cởi trói cho Vi tử, khôi phục tước vị như cũ.
Vũ vương phong cho con của vua Trụ là Vũ Canh Lộc Phủ để nối việc thờ tự nhà Ân, sai Quản thúc, Sái thúc phò tá [Vũ Canh].
Sau khi Vũ vương diệt nhà Ân, bèn đi thăm hỏi Cơ tử.
Vũ vương nói: “Than ôi, trời cao ngầm khiến hạ dân được yên định, khiến họ an cư lạc nghiệp, nhưng ta không biết thứ tự đạo thường trong việc trị dân là thế nào.”
Cơ tử đáp rằng:
“Khi xưa, Cổn[7] chặn nước lụt, làm rối trật tự ngũ hành, thiên đế mới nổi giận, không ban cho chín khuôn phép lớn của trời, khiến đạo thường bị hỏng nát. Cổn bị giết chết, Vũ bèn nối tiếp công việc rồi chấn hưng. Trời bèn ban chín khuôn phép lớn cho Vũ, đạo thường nhờ đó có thứ tự.”
“Thứ nhất là ngũ hành, thứ hai là ngũ sự, thứ ba là bát chính, thứ tư là ngũ kỷ, thứ năm là hoàng cực, thứ sáu là tam đức, thứ bảy là kê nghi, thứ tám là thứ trưng, thứ chín là hưởng dụng ngũ phúc, úy dụng lục cực.
Ngũ hành: Một là thủy (nước), hai là hỏa (lửa), ba là mộc (cây), bốn là kim (kim loại), năm là thổ (đất). Nước thì nhuần thấm xuống dưới, lửa thì nóng bốc lên trên, cây thì có cong có thẳng, kim loại thì tùy thuộc mà thay đổi, đất thì có thể gặt. Nhuần thấm xuống dưới thì mặn, nóng bốc lên trên thì đắng, có cong có thẳng thì chua, tùy thuộc mà thay đổi thì đắng, cấy được gặt được thì ngọt.
Ngũ sự: Một là mạo (vẻ mặt), hai là ngôn (lời nói), ba là thị (nhìn), bốn là thính (nghe), năm là tư (nghĩ). Vẻ mặt cần cung kính, lời nói cần thuận lý, nhìn cần sáng rõ, nghe cần tinh thông, nghĩ cần thấu suốt. Cung kính thì trang nghiêm, thuận lý thì yên trị, sáng rõ thì trí tuệ, tinh thông thì mưu lược, thấu suốt thì thánh minh.
Bát chính: Một là lương thực, hai là tiền của, ba là tế tự, bốn là quan Tư không (quản lý thủy thổ), năm là quan Từ đồ (phụ trách giáo dục), sáu là quan Tư khấu (bắt trộm trừ bạo), bảy là quan phụ trách về tân khách (ngoại giao), tám là quan phụ trách về quân đội.
Ngũ kỷ: Một là năm, hai là tháng, ba là ngày, bốn là các vì sao, năm là lịch số.[8]
Hoàng cực: Nhà vua lập nên chuẩn tắc, gom năm điều phúc để ban cho thứ dân của mình, như vậy dân chúng sẽ đều theo chuẩn tắc của nhà vua, khiến nhà vua giữ được những chuẩn tắc đó. Phàm chúng dân đều không được dâm tà bè đảng, cũng không được câu kết a dua, chỉ có nhà vua mới có thể lập nên chuẩn tắc. Phàm là thứ dân, có mưu lược, thành tích, biết giữ đạo thì nhà vua phải nghĩ đến họ. Có những kẻ không hợp với chuẩn tắc, nhưng cũng chưa đến mức mắc vào lỗi lầm, thì nhà vua cần thâu nạp họ. Thái độ an nhiên, nét mặt vui vẻ, nói rằng: 'Ta đây hiếu đức', thì ban phúc lộc cho họ. Như thế người ta đều sẽ noi khuôn phép của nhà vua. [Nhà vua] không thể dối gạt kẻ cô quả, mà lại sợ kẻ thanh thế cao. Người nào có khả năng, có thành tích hãy khiến đức hạnh của họ thêm tăng tiến, quốc gia nhờ đó mà hưng thịnh. Phàm người chính trực, thì ban tước lộc khiến họ giàu, lại dùng thiên đạo đối đãi với họ, [nếu] không thể khiến họ trở nên hữu ích cho quốc gia, họ ắt phạm vào lỗi lầm. Với người không có ích cho quốc gia, dẫu ngài ban phúc cho họ, họ cũng khiến ngài mắc lỗi. Không thiên lệch, không cong vạy, phải noi theo nghĩa của tiên vương. Không được quá yêu, phải noi theo đạo của tiên vương. Không được quá ghét, phải noi theo đường của tiên vương. Không thiên tư, không bè đảng, đạo của nhà vua mênh mông. Không bè đảng, không thiên tư, đạo của nhà vua rộng lớn. Không phản nghịch, không tà vạy, đạo của nhà vua thẳng ngay. Tụ hội người theo chuẩn tắc, hướng về chuẩn tắc của vua. Rằng nhà vua hành sự thuận theo chuẩn tắc khiến bề tôi tỏ bày điều muốn nói, dùng đó để thu phục trăm họ, giáo hóa chúng dân, thuận theo thiên đế. Phàm là dân của mình, [nhà vua] cho họ được hết lời trần tình với người trên, thuận theo đó thi hành, khiến họ được gần ánh sáng của thiên tử. Rằng thiên tử là cha mẹ của dân, là vua trong thiên hạ.
Tam đức: Một chính trực, hai là cương [mà biết nhu], ba là nhu [mà biết cương]. Thế đạo yên bình, dùng người chính trực [để cai trị]; thế đạo cương cường chẳng thuận, dùng người cương [mà biết nhu để cai trị]; thế đạo thuận hòa, dùng người nhu [mà biết cương để cai trị]; với kẻ âm hiểm ngấm ngầm, dùng người cương [mà biết nhu để cai trị]; với bậc cao minh, phải dùng người nhu [mà biết cương để cai trị]. Chỉ nhà vua mới ban phúc, chỉ nhà vua mới ra uy, chỉ nhà vua mới được hưởng ngọc thực. Bề tôi thì không được ban phúc, ra uy, hưởng ngọc thực. Bề tôi mà ban phúc, ra uy, hưởng ngọc thực, sẽ có hại đến gia tộc nhà vua, hung hiểm đến đất nước. Quan lại nhân đó tà vạy, dân chúng tiếm vượt mà phạm lỗi.
Kê nghi (xét điều còn ngờ): Chọn người tinh thông bói mai rùa và cỏ thi để dùng. Rồi sai bói quẻ, vết nứt trên mai rùa có hình mưa rơi, hình hơi mây bay lên sau mưa, hình hơi mây nối nhau không dứt, hình giống sương mù, hình giống khí hung sát công phạt lẫn nhau, hình thẳng mà sáng rõ, hình mờ tối, đại để có bảy dạng. Bói mai rùa có năm kiểu, bói cỏ thi có hai kiểu, tượng quẻ có nhiều thay đổi. Chọn người giỏi định quẻ để bói, ba người bói thì theo lời hai người [bói giống nhau]. Nhà vua có việc gì còn rất nghi hoặc, trước hết suy xét trong lòng, rồi bàn cùng các khanh sĩ, bàn cùng thứ dân, rồi mới coi ở bói toán. Nhà vua tán thành, mai rùa theo, cỏ thi theo, khanh sĩ theo, thứ dân theo, gọi là đại đồng, nhờ đó bản thân mạnh khỏe, con cháu gặp điều tốt lành. Nhà vua tán đồng, mai rùa theo, cỏ thi theo, khanh sĩ không theo, thứ dân không theo, [đó là quẻ] tốt. Khanh sĩ theo, mai rùa theo, cỏ thi theo, nhà vua không tán đồng, thứ dân không tán đồng, [đó là quẻ] tốt. Thứ dân theo, mai rùa theo, cỏ thi theo, nhà vua không tán đồng, khanh sĩ không tán đồng, [đó là quẻ] tốt. Nhà vua tán đồng, mai rùa theo, cỏ thi không theo, khanh sĩ không theo, thứ dân không theo, [nghĩa là] làm việc bên trong thì tốt, làm việc bên ngoài thì hung. Nếu bói mai rùa và cỏ thi đều trái với ý của con người, khi ấy yên mà giữ thì tốt, làm thì hung.
Thứ trưng (chứng nghiệm mọi việc)[9]: Hoặc mưa, hoặc nắng, hoặc ấm, hoặc lạnh, hoặc gió, hoặc hợp tiết khí các thời. Năm điều đó được hoàn bị, thảy có thứ tự, thì cây cỏ đều tươi tốt. Một trong số đó tột mức thì hung. Một trong số đó thiếu khuyết thì hung. Gọi là chứng nghiệm tốt lành, tức: Cung kính thì mưa thuận theo thời; thịnh trị thì nắng thuận theo thời; tài trí thì ấm thuận theo thời; mưu lược thì lạnh thuận theo thời; thánh trí thì gió thuận theo thời. Gọi là chứng nghiệm xấu, tức: Cuồng vọng thì mưa rơi liên miên; tiếm vượt thì nắng như lửa thiêu; an dật thì nóng bức oi ả; gấp bội thì lạnh buốt không thôi; hôn ám thì gió to thổi mạnh. Chức phận của vua như năm, khanh sĩ như tháng, bách quan như ngày. Năm, tháng, ngày, giờ không bị thay đổi, thì trăm giống lúa bội thu, chính trị sáng rõ, hiền năng được trọng dụng, quốc gia được yên bình. Ngày, tháng, năm, giờ mà bị thay đổi, trăm giống lúa không được thu hoạch, chính trị u tối không sáng rõ, hiền năng không được trọng dụng, quốc gia không được yên bình. Thứ dân như ngôi sao, có sao thích gió, có sao thích mưa[10]. Mặt trời mặt trăng vận hành, có mùa đông mùa hạ. Trăng theo sao thì nổi gió mưa[11].
Ngũ phúc: Một là thọ (sống thọ), hai là phú (giàu có), ba là khang ninh (khỏe mạnh yên bình), bốn là tu hiếu đức (có đức hạnh tốt), năm là khảo chung mệnh (già cả khéo trọn mệnh trời).
Lục cực (sáu điều tai ách): một là hung đoản chiết (chết yểu)[12], hai là tật (bệnh tật), ba là ưu (lo sầu), bốn là bần (nghèo khó), năm là ác (xấu xa), sáu là nhược (hèn yếu).”
Thế là Vũ vương bèn phong cho Cơ tử đất Triều Tiên nhưng không coi như hạng bề tôi.
Về sau, Cơ tử triều kiến nhà Chu, qua đất cũ Ân Khư, cảm khái vì cung thất đã đổ nát, lúa má mọc lên, Cơ tử cảm thương cảnh đó, muốn khóc lớn mà không thể, muốn sụt sùi lại thấy [làm như thế thì] giống đàn bà, bèn làm bài thơ “Mạch tú” để ca vịnh. Lời thơ viết: “Bông mạch nhọn nhọn chừ, lúa mùa xanh mướt. Trẻ giảo hoạt kia chừ, không tốt với ta chừ!” Gọi đứa trẻ giảo hoạt chính là chỉ vua Trụ vậy. Dân nhà Ân nghe bài đó, thảy đều sa nước mắt.
Vũ vương băng hà, Thành vương còn nhỏ, Chu công Đán thay thiên tử điều hành sự vụ đảm đương quốc chính. Quản thúc, Sái thúc nghi ngờ Chu công, bèn cùng Vũ Canh làm loạn, muốn đánh úp Thành vương và Chu công. Sau khi thừa lệnh của Thành vương, Chu công tru diệt Vũ Canh, giết Quản thúc, đày Sái thúc, rồi mệnh cho Vi tử Khai thay [Vũ Canh] kế thừa hậu tự nhà Ân, phụng thờ tổ tiên, [Chu công] làm bài “Vi tử chi mệnh”[13] để tỏ ý đó, nước phong ở Tống. Vi tử vốn là người nhân từ hiền năng, được thay Vũ Canh, cho nên dân cũ nhà Ân rất yêu quý ông.
Vi tử Khai chết đi, lập em là Diễn, đó là Vi Trọng. Vi Trọng chết, con là Tống công Kê lên thay. Tống công Kê chết, con là Đinh công Thân lên thay. Đinh công Thân chết, con là Mẫn công Cung lên thay. Mẫn công Cung chết, em là Dương công Hy lên thay. Dương công lên ngôi, con của Mẫn công là Phụ Tự giết Dương công rồi tự lập làm vua, nói rằng “Ta đáng được lên ngôi”, đó là Lệ công. Lệ công chết, con là Hy công Cử lên thay.
Hy công năm thứ mười bảy, Chu Lệ vương chạy ra đất Trệ.
Năm thứ hai mươi tám, Hy công chết, con là Huệ công Kiến lên thay. Huệ công năm thứ tư, Chu Tuyên vương lên ngôi. Năm thứ ba mươi, Huệ công chết, con là Ai công lên ngôi. Ai công năm thứ nhất thì chết, con là Đái công lên thay.
Đái công năm thứ hai mươi chín, Chu U vương bị Khuyển Nhung giết, nước Tần bắt đầu được liệt vào hàng chư hầu.
Năm thứ ba mươi tư, Đái công chết, con là Vũ công Tư Không lên ngôi. Con gái của Vũ công làm phu nhân của Lỗ Huệ công, sinh ra Lỗ Hoàn công. Năm thứ mười tám, Vũ công chết, con là Tuyên công Lực lên ngôi.
Tuyên công có Thái tử là Dữ Di. Năm thứ mười chín, Tuyên công ốm, nhường ngôi cho người em là Hòa, nói rằng: “Cha chết con thay, anh chết em nối, đó là đạo nghĩa chung của thiên hạ. Ta lập Hòa lên thay.” Hòa cũng ba lần thoái thác rồi mới nhận. Tuyên công chết, em là Hòa lên thay, đó là Mục công.
Mục công năm thứ chín, bị ốm, triệu Đại tư mã Khổng Phủ đến bảo rằng: “Tiên quân Tuyên công bỏ Thái tử Dữ Di mà lập ta lên ngôi, ta không dám quên. Ta chết đi, nhất định phải lập Dữ Di.” Khổng Phủ đáp: “Quần thần đều nguyện lập công tử Phùng.” Mục công nói: “Chớ có lập Phùng, ta không thể phụ lòng Tuyên công được.” Thế rồi Mục công sai Phùng ra ở đất Trịnh. Ngày Canh Thìn, tháng Tám, Mục công chết, lập con của anh trai là Tuyên công tên là Dữ Di lên thay, đó là Thương công. Bậc quân tử nghe việc đó, nói: “Tống Tuyên công khá gọi là người biết nhìn người vậy, lập em lên thay để thành toàn đạo nghĩa, nhưng rốt cuộc con lại được thừa hưởng ngôi vị.”
Thương công năm đầu, công tử nước Vệ là Châu Hu giết vua nước mình là Hoàn rồi tự lên ngôi, [Châu Hu] muốn lấy lòng chư hầu, sai người báo với nước Tống rằng: “Phùng đang ở nước Trịnh, chắc chắn sẽ làm loạn, có thể cùng tôi thảo phạt Phùng.” Nước Tống đồng ý, cùng [nước Vệ] thảo phạt nước Trịnh, kéo đến cửa đông rồi rút. Năm thứ hai, nước Trịnh thảo phạt nước Tống, để báo thù việc nước Tống tiến quân đến cửa đông. Sau đó, chư hầu nhiều lần đến xâm phạt nước Tống.
Năm thứ chín, người vợ của Đại tư mã Khổng Phú Gia rất đỗi xinh đẹp, ra ngoài, trên đường đi gặp Thái tể Hoa Đốc, Đốc [thấy nàng thì] yêu thích, mắt nhìn chằm chằm. Đốc muốn chiếm đoạt vợ của Khổng Phủ, bèn sai người rêu rao trong nước rằng: “Thương công lên ngôi mười năm, mà đánh nhau mười một lần, dân khổ không chịu thấu, đều do Khổng Phủ gây nên, ta sẽ giết Khổng Phủ để dân được yên.” Năm đó, người Lỗ giết vua nước mình là Ẩn công. Năm thứ mười, Hoa Đốc đánh giết Khổng Phủ, cướp lấy vợ của Khổng Phủ. Thương công tức giận, [Hoa Đốc] liền giết Thương công, rồi đón con của Mục công là Phùng ở nước Trịnh về nước rồi lập làm vua, đó là Trang công.
Trang công năm thứ nhất, Hoa Đốc làm Tướng quốc. Năm thứ chín, bắt Sái Trọng nước Trịnh, yêu cầu lập Đột làm Trịnh quân. Sái Trọng đồng ý, cuối cùng lập Đột. Năm thứ mười chín, Trang công chết, con là Mẫn công Tiệp lên thay.
Mẫn công năm thứ bảy, Tề Hoàn công lên ngôi. Năm thứ chín, nước Tống bị lũ lụt, nước Lỗ sai Tang Văn Trọng sang hỏi thăm về thủy tai. Mẫn công ty trách rằng: “Do quả nhân không biết phụng thờ quỷ thần, không sửa sang chính sự, cho nên nước lụt.” Tang Văn Trọng tán dương những lời đó. Những lời đó là do công tử Tử Ngư dạy Mẫn công vậy.
Mùa hạ, năm thứ mười, nước Tống thảo phạt nước Lỗ, giao chiến ở Thừa Khâu, nước Lỗ bắt sống Nam Cung Vạn nước Tống. Người Tống đề nghị [nước Lỗ] thả Vạn, Vạn được trở về nước Tống. Mùa thu năm thứ mười một, Mẫn công cùng Nam Cung Vạn đi săn, nhân đó hai người đánh cờ, [Vạn] tranh nước đi, Mẫn công giận, sỉ nhục Nam Cung Vạn, rằng: “Ban đầu ta kính trọng ngươi; nay ngươi chỉ là tên tù binh của nước Lỗ thôi.” Vạn vốn là người có dũng lực, căm hận những lời đó, bèn dùng bàn cờ giết chết Mẫn công ở Mông Trạch. Đại phu Cừu Mục hay tin, đem quân đến tập trung trước cổng nơi Mẫn công ở. Vạn đánh nhau với Mục, Mục bị vập răng vào cổng rồi chết. [Nam Cung Vạn] nhân đó giết Thái tổ Hoa Đốc, rồi đổi lập công tử Du làm vua. Các công tử khác chạy sang ấp Tiêu, công tử Ngự Duyệt chạy sang ấp Hào. Em của Vạn là Nam Cung Ngưu đem quân bao vây ấp Hào. Mùa đông năm ấy, [đại phu của] ấp Tiêu và các công tử nước Tống cùng đánh giết Nam Cung Ngưu, giết vua mới của nước Tống là Du rồi lập em của Mẫn công là Ngự Duyệt lên ngôi, đó là Hoàn công. Nam Cung Vạn nước Tống chạy sang nước Trần. Người Tống xin đem của cải hối lộ nước Trần. Người Trần liền sai phụ nữ dụ dỗ rồi chuốc rượu ngon cho Vạn, [sau khi Vạn đã say, họ liền] lấy bao da gói lại, trả về cho nước Tống. Người Tống đem Vạn róc thịt làm mắm.
Hoàn công năm thứ hai, chư hầu thảo phạt nước Tống, kéo đến bên ngoài thành rồi rút đi. Năm thứ ba, Tề Hoàn công bắt đầu xưng bá. Năm thứ hai mươi ba, đón công tử nước Vệ là Hủy ở nước Tề về, lập lên làm vua, đó là Vệ Văn công. Em gái của Văn công là phu nhân của Hoàn công. Tần Mục công lên ngôi. Năm thứ ba mươi, Hoàn công ốm, Thái tử Tư Phủ nhường cho anh thứ là Mục Di làm người thừa tự. Hoàn công cho Thái tử là người có đạo nghĩa, rốt cuộc không nghe. Mùa xuân năm thứ ba mươi mốt, Hoàn công chết, Thái tử Tư Phủ lên thay, đó là Tương công. [Tương công] phong anh thứ là Mục Di làm Tướng quốc. Chưa an táng [Tống Hoàn công], mà Tề Hoàn công lại hội họp chư hầu ở Quỳ Khâu, Tương công đến hội kiến.
Tương công năm thứ bảy, ở đất Tống sao sa như mưa, cùng mưa trút xuống; chim nghịch[14] phải bay lùi, gió thổi rất mạnh.
Năm thứ tám, Tề Hoàn công chết, nước Tống muốn chủ trì hội minh. Mùa xuân năm thứ mười hai, Tống Tương công hội minh ở Lộc Thượng, nhằm đề nghị nước Sở thuyết phục chư hầu [ủng hộ mình], người Sở đồng ý. Công tử Mục Di can rằng: “Nước nhỏ tranh làm minh chủ, đó là họa vậy.” [Tương công] không chịu nghe. Mùa thu, chư hầu hội minh với Tống công ở đất Vu. Mục Di nói: “Họa là ở đây chăng? Dục vọng của vua thật thái quá, sao đáp ứng được!” Thế rồi nước Sở bắt Tống Tương công để thảo phạt nước Tống. Mùa đông, hội minh ở đất Hào, rồi thả Tống công. Tử Ngư nói: “Họa vẫn còn, chưa hết đâu.” Mùa hạ năm thứ mười ba, nước Tống thảo phạt nước Trịnh. Tử Ngư nói: “Họa chính ở việc này vậy.” Mùa thu, nước Sở thảo phạt nước Tống để cứu nước Trịnh. Tương công định đánh, Tử Ngư can rằng: “Trời bỏ nhà Thương đã lâu rồi, không đánh được đâu.” Mùa đông, tháng Mười một, Tương công giao chiến với Sở Thành vương ở bên sông Hoằng. Người Sở chưa qua được sông, Mục Di nói: “Địch đông ta ít, nhân khi chúng chưa vượt sông, hãy đánh ngay đi.” Trong công không nghe. [Đến khi quân Sở] đã sang sông, chưa kịp bày trận, [Mục Di] lại nói: “Có thể đánh được rồi.” Tượng công nói: “Đợi chúng bày trận xong đã.” Trận đã bày xong, người Tống tiến đánh quân Sở. Quân Tống đại bại, Tương công bị thương ở bắp đùi. Người trong nước đều oán hận Tương công. Tương công nói: “Người quân tử không thừa cơ lúc người nguy nan, không thúc trống đánh khi địch chưa bày trận xong.” Tử Ngư nói: “Việc binh cốt lấy thắng để lập công, sao lại nói lời tầm thường như thế! Nếu nhất nhất như lời ngài, thì chỉ làm nô lệ phụng sự người mà thôi, còn đánh làm gì nữa?”
Sau khi Sở Thành vương cứu nước Trịnh, nước Trịnh mở tiệc khoản đãi; lúc [Sở Thành vương] ra đi, còn lấy hai cơ thiếp ở nước Trịnh mang về. Thúc Chiêm nói: “Thành vương vô lễ, chẳng có kết cục tốt chăng? Dùng lễ mà rốt cuộc không biết phân biệt, theo đó thì biết ông ta không thành được nghiệp bá vậy.”
Năm đó, công tử nước Tấn là Trùng Nhĩ qua nước Tống, Tương công bị quân Sở đánh bị thương, muốn được nước Tấn chi viện, mới dùng hậu lễ tiếp đãi Trùng Nhĩ, tặng tám mươi con ngựa.
Mùa hạ năm thứ mười bốn, Tương công phát bệnh do vết thương trong trận chiến ở sông Hoằng, cuối cùng bị chết, con là Thành công Vương Thần lên thay.
Thành công năm thứ nhất, Tấn Văn Công lên ngôi. Năm thứ ba, [nước Tống] phản bội minh ước với nước Sở, kết thân với nước Tấn, vì từng có ân đức với Tấn Văn công. Năm thứ tư, Sở Thành vương thảo phạt nước Tống, Tống Thành công cấp báo với nước Tấn. Năm thứ năm, Tấn Văn công cứu nước Tống, quân Sở rút đi. Năm thứ chín, Tấn Văn công chết. Năm thứ mười một, Thái tử nước Sở là Thương Thần giết vua cha là Thành vương rồi lên thay. Năm thứ mười sáu, Tần Mục công chết.
Năm thứ mười bảy, Thành công chết. Em trai của Thành công là Ngự giết Thái tử cùng Đại tư mã của nước Tống là cháu của Tống Trang công là Cố rồi tự lập làm vua. Người Tống cùng giết vua nước mình là Ngự rồi lập con nhỏ của Thành công là Chủ Cữu lên ngôi, đó là Chiêu công.
Chiêu công năm thứ tư, nước Tống đánh bại Duyên Tư của tộc Trường Địch tại Trường Khâu. Năm thứ bảy, Sở Trang vương lên ngôi.
Năm thứ chín, Chiêu công vô đạo, người trong nước không theo. Em của Chiêu công là Bão Cách, hiền năng lại khiêm hạ với kẻ sĩ. Trước đây, phu nhân của Tương cũng muốn tư thông với công tử Bão, không được, [nhưng vẫn yêu quý Bão] bèn giúp Bão thi ơn huệ trong nước, nhờ phu nhân Hoa Nguyên nên [Bão được] làm Hữu sư. Chiêu công ra ngoài đi săn, phu nhân Vương cơ sai Vệ Bá đánh giết Chiêu công Chử Cữu. [Nhờ thế] em trai là Bão Cách lên ngôi, đó là Văn công.
Văn công năm thứ nhất, nước Tấn thống lãnh chư hầu thảo phạt nước Tống, khiển trách tội giết vua. Nhưng khi nghe tin Văn công được lập lên ngôi, [nước Tấn] bèn rút quân. Năm thứ hai, con trai Chiêu công dựa vào người em cùng mẹ với Văn công là Tu, cùng các tộc Vũ, Mậu, Đái, Trang, Hoàn làm loạn, Văn công giết hết bọn họ, trục xuất người của tộc Vũ và Mậu [ra khỏi nước Tống].
Mùa xuân năm thứ tư, nước Sở mệnh cho nước Trịnh thảo phạt nước Tống. Tống Văn công sai Hoa Nguyên làm tướng, nước Trịnh đánh bại nước Tống, bỏ tù Hoa Nguyên. Khi Hoa Nguyên làm tướng đánh trận, giết dê cho quân sĩ ăn, tên đánh xe ngay đến canh thịt dê cũng không được ăn, nên oán [Hoa Nguyên], phóng xe vào trong quân Trịnh, cho nên quân Tống thua trận, [quân Trịnh] bắt được Hoa Nguyên rồi bỏ tù. Nước Tống đem trăm cỗ binh xa, bốn trăm con ngựa được trang sức đẹp để chuộc Hoa Nguyên. [Ngựa và xe] còn chưa đưa hết sang nước Trịnh, Hoa Nguyên đã trốn về nước Tống.
Năm thứ mười bốn, Sở Trang vương bao vây nước Trịnh. Trịnh bá đầu hàng nước Sở, nước Sở lại giải vây.
Năm thứ mười sáu, nước Sở sai sứ sang nước Tống, trước đây nước Tống vốn có thù [với nước Sở], [nên mới] bắt giữ sứ giả nước Sở. Tháng Chín, Sở Trang vương bao vây nước Tống. Năm thứ mười bảy, nước Sở bao vây nước Tống năm tháng không giải vây, trong thành nước Tống nguy cấp, không có thức ăn, Hoa Nguyên bèn nhân ban đêm ra gặp riêng tướng nước Sở là Tử Phản. Tử Phản báo với Trang vương. Trang vương hỏi: “Trong thành thế nào?” Đáp: “Bẻ xương mà đun, đổi con mà ăn.” Trang vương nói: “Nói thành thực thay! Quân ta cũng chỉ còn hai ngày lương.” Vì sự thành thực đó, [Sở Trang vương] bèn bãi binh về.
Năm thứ hai mươi hai, Văn công chết, con là Cung công Hà lên thay. Bắt đầu hậu táng cho người chết. Người quân tử chê Hoa Nguyên không xứng phận bề tôi.
Cung công năm thứ mười, Hoa Nguyên thân với tướng quân nước Sở là Tử Trọng, lại thân với tướng nước Tấn là Loan Thư, kết minh với hai nước Tấn, Sở. Năm thứ mười ba, Cung công chết. Hoa Nguyên làm Hữu sư, Ngư Thạch làm Tả sư. Tư mã Đường Sơn đánh giết Thái tử Phì, muốn giết Hoa Nguyên, Hoa Nguyên chạy sang nước Tấn, Ngư Thạch ngăn lại, đến Hoàng Hà bèn trở về, giết Đường Sơn. [Hoa Nguyên] liền lập con út của Cung công là Thành, đó là Bình công.
Bình công năm thứ ba, Sở Cung vương đánh hạ Bành Thành của nước Tống, đem [Bành Thành] phong cho Tả sư nước Tống là Ngư Thạch. Năm thứ tư, chư hầu cùng nhau tru diệt Ngư Thạch, rồi đem trả Bành Thành về cho nước Tống. Năm thứ ba mươi lăm, công tử nước Sở là Vi giết vua nước mình rồi tự lập, đó là Linh vương. Năm thứ bốn mươi tư, Bình công chết, con là Nguyên công Tá lên thay.
Nguyên công năm thứ ba, công tử nước Sở là Khí Tật giết Linh vương, rồi tự lên ngôi, đó là Bình vương. Năm thứ tám, nước Tống bị hỏa tai. Năm thứ mười, Nguyên công không thủ tín, lừa giết các công tử, Đại phu họ Hoa, họ Hướng làm loạn, Thái tử của Sở Bình vương là Kiến chạy sang [nước Tống], thấy người họ Hoa tấn công làm loạn, Kiến bỏ sang nước Trịnh. Năm thứ mười lăm, Nguyên công [gặp được] Lỗ Chiêu công [khi Chiêu công] tránh họ Quý thị phải ra ở ngoài, mới xin cho Chiêu công về nước Lỗ, đi trên đường thì Nguyên công chết, con là Cảnh công Đầu Vạn lên thay.
Cảnh công năm thứ mười sáu, Dương Hổ nước Lỗ chạy sang [nước Tống], sau đó lại ra đi. Năm thứ hai mươi lăm, Khổng tử sang nước Tống, Tư mã nước Tống là Hoàn Đồi ghét Khổng tử, muốn giết, Khổng tử cải trang mặc trang phục dân thường rồi ra đi. Năm thứ ba mươi, nước Tào bội ước với nước Tống, lại bội ước với nước Tấn, nước Tống thảo phạt nước Tào, nước Tấn không cứu [nước Tào], [nước Tống] bèn diệt nước Tào rồi chiếm lấy đất. Năm thứ ba mươi sáu, Điền Thường nước Tề giết Giản công.
Năm thứ ba mươi bảy, Sở Huệ vương diệt nước Trần. Hỏa tinh xâm lấn vị trí của sao Tâm. Sao Tâm ứng với địa phận nước Tống. Cảnh công lo lắng về việc đó. Quan phụ trách quan sát tinh tượng là Tử Vi nói: “Có thể di họa sang Tướng quốc.” Cảnh công nói: “Tướng quốc như chân tay của ta.” [Tử Vi] lại bảo: “Có thể di họa cho dân chúng.” Cảnh công nói: “Vua phải dựa vào trăm họ.” [Tử Vi] nói rằng: “Có thể di họa đến mùa màng.” Cảnh công nói: “Mùa màng thất bát thì dân khốn khổ, ta còn làm vua của ai nữa!" Tử Vi nói: “Trời cao mà nghe dưới thấp. Nhà vua có ba câu nói của bậc nhân quân như thế, Hỏa tinh sẽ dịch chuyển vậy.” Thế rồi chờ xem, quả nhiên Hỏa tinh rời đi ba độ.
Năm thứ sáu mươi tư, Cảnh công chết. Công tử nước Tống là Đặc đánh giết Thái tử rồi tự lập, đó là Chiêu công. Chiêu công là chắt nội ngành thứ của Nguyên công. Cha của Chiêu công là Công tôn Củ, cha của Củ là công tử Đoan Tần, Đoan Tần chính là con út của Nguyên công. Cảnh công giết cha của Chiêu công là Củ, cho nên Chiêu công oán rồi giết Thái tử, tự lập làm vua.
Chiêu công năm thứ bốn mươi bảy thì chết, con là Điệu công Cấu Do lên thay. Điệu công năm thứ tám thì chết, con là Hưu công Điền lên thay. Hưu công Điền năm thứ hai mươi ba thì chết, con là Tích công Tích Binh lên thay. Tích công năm thứ ba thì chết, con là Dịch Thành lên thay. Dịch Thành năm thứ bốn mươi mốt, em Dịch Thành là Yển tập kích Dịch Thành, Dịch Thành thua chạy sang nước Tề, Yển tự lập làm Tống quân.
Tống quân là Yển năm thứ mười một, Yển tự lập làm vương. Phía đông đánh bại nước Tề, chiếm được năm thành; phía nam đánh bại nước Sở, chiếm được ba trăm dặm đất; phía tây đánh bại quân Ngụy, bèn trở thành nước đối địch với nước Tề và nước Ngụy. Dùng túi da chứa đầy máu, treo lên mà bắn, gọi là “Bắn trời”. Đắm chìm trong rượu và đàn bà. Quần thần ai can liền bắn kẻ đó. Bấy giờ chư hầu đều gọi là “Vua Kiệt của nước Tống.” “Vua Tống làm lại những việc vua Trụ từng làm, không thể không giết.” [Chư hầu] nói nước Tề thảo phạt nước Tống. Vương Yển tại vị đến năm thứ bốn mươi bảy, Tề Mẫn vương cùng nước Ngụy và nước Sở thảo phạt nước Tống, giết Vương Yển, rồi diệt nước Tống, chia đất Tống làm ba phần.
Thái sử công bàn rằng: Khổng tử khen “Vi tử bỏ Trụ mà đi, Cơ tử nguyện làm nô lệ, Tỷ Can can ngăn mà chết, nhà Ân có ba người có đức nhân.” Sách Xuân thu chê loạn của nước Tống là bắt đầu từ việc Tuyên công phế bỏ Thái tử rồi lập em lên thay, nước vì thế mười đời không được yên. Thời Tương công, tu chỉnh thực hành nhân nghĩa, muốn làm minh chủ. Quan đại phu [nước Tống] là Chính Khảo Phủ xưng tụng Tương công, cho nên truy thuật nguyên nhân hưng thịnh của triều Ân vào các thời của Tiết, Thành Thang, Cao tông, làm phần Thương tụng[15]. Sau khi Tương công thua trận ở sông Hoàng, mà bậc quân tử có người cho là đáng khen, cảm thương vì nước ở Trung nguyên mà thiếu lễ nghĩa, nhân đó tán dương ông, coi Tống Tương công là người biết giữ lễ và khiêm nhượng vậy.
[1] Tổ Y: bề tôi vua Trụ, thấy Trụ tàn ác, u tối, trong khi đó Tây bá nước Chu là Cơ Xương là người đức độ nên sau đó phản nhà Ân để theo Cơ Xương. Cơ Xương tức Chu Văn vương.
[2] Chu Văn vương diệt nước Kỳ, chứng tỏ thế lực của nhà Chu đã mở rộng đến tận phía đông của Sơn Tây, trong khi đó ấp của vua Trụ là Triều Ca lại cách đó không xa, thế lực của nhà Chu đã đến tận Trung nguyên rồi, cho nên Vi tử nhận thấy thời cuộc sắp chuyển biến lớn, đe dọa trực tiếp đến sự sống còn của nhà Ân. Hiền thần Tổ Y cũng đem việc đó nói với vua Trụ.
[3] Tiểu dân: chỉ dân chúng nói chung.
[4] Tháo: nghĩa là dù gặp phải họa nạn, tai ách khốn cùng, dù trong lòng oán hận, nhưng vẫn thủ tiết giữ lễ nghĩa, không sợ hãi, một lòng vui với đạo không đổi tiết tháo của bản thân.
[5] Ý nói vua có lỗi thì bề tôi phải dùng cái chết để tranh đấu đến cùng khiến vua phải sửa lỗi, nếu không dùng cái chết để giúp vua sửa lỗi thì vua không nhận ra lỗi mà giáng tai họa xuống trăm họ.
[6] Sử ký tập giải chú: khi ấy Vương tử Tỷ Can đã chết, mà ở đây vẫn ghi là Thiếu sư, hình như bị nhầm.
[7] Cổn: cha của vua Vũ nhà Hạ.
[8] Quan sát hệ thống thiên tượng để điều chỉnh lịch pháp cho phù hợp, giúp dân làm nông, mùa nào nên trồng cây gì?
[9] Quan niệm xưa cho là trời cao quan sát hành vi, đức độ của bậc quân chủ để từ đó giáng xuống những tiết khí khác nhau. Đức độ của bậc quân chủ tốt lành trời cao sẽ có chứng nghiệm tốt lành, và ngược lại.
[10] Ý nói có sao chủ về gió, có sao chủ về mưa. Người xưa quan niệm sao Cơ chủ về gió, sao Tất chủ về mưa.
[11] Người xưa quan niệm, trăng qua vị trí của sao Cơ thì nhiều gió, trăng rời vị trí sao Tất thì lắm mưa.
[12] Trẻ chưa đến tuổi thay răng sữa mà chết thì gọi là hung, chưa đến tuổi đội mũ mà bị chết gọi là đoản, chưa thành gia lập thất mà chết thì gọi là chiết.
[13] Sau thành một thiên trong Kinh Thư.
[14] Chim nghịch thuộc loài chim nước, có thể bay liệng trong gió bão. Đây nói gió thổi rất mạnh, chim nghịch cũng không sao bay ngược được hướng gió.
[15] Sau trở thành một phần trong Kinh Thi.