Vùng đất Thuận Quảng, ngay khi Tiên Chúa mới vào, quả không phải là một vùng hoang vu, ác địa. Phủ Tân Bình, dân cư đã đông đảo “xóm làng trù mật, gà chó đầy đàn, cỏ nước ngon lành, trâu bò béo tốt”[1]. Tài nguyên dồi dào, phong phú “ở đồng bằng, nông tang vốn sẵn nghiệp nhà, bờ biển cá muối là kho vô tận... hải vị, sơn hào của nhiều chan chứa. Đất đai phì nhiêu, lúa thóc làm ra không khó nhọc”[2] nên đời sống của người dân không những no ấm dư dả mà còn có cái phong thú dật lạc, an nhàn.“Thổ nghi đã sẵn thứ rượu tăm ngon nổi tiếng, xuân sang thì mở hội bơi giải, hạ tới thì bày cuộc đấu thăm, dập dìu rộn rã, nơi ca, chốn múa, cách ăn uống hoang phí vô cùng, đến vài lẫm gạo cũng không đủ dùng mười hai tháng”[3]. Và phủ Triệu Phong, ở phía cực nam lộ Thuận Hóa thì“non sông kỳ tú, ruộng đất mở mang, nhân dân đông đúc, quả là một nơi đô hội lớn, cảnh tượng vui tươi, phong vật quý giá”. Còn huyện Điện Bàn - miền bắc tỉnh Quảng Nam hiện nay -“nhân dân làm giàu bằng thóc, nhà nông đạp lúa bằng trâu. Xã Mạc Châu trồng nhiều hoa hồng, xã Lan Châu sản xuất nhiều lụa trắng. Đàn bà mặc áo Chiêm, con trai cầm quạt Tàu, người sang kẻ hèn, bát đĩa đều vẽ rồng, vẽ phượng, kẻ hơn người kém, xống áo toàn đỏ màu hồng”[4],và chính vì cái mức sung thiệm phú túc sẵn có, mà vùng Thuận Quảng, sau năm mươi lăm năm trời “phá rừng bụi, đuổi hùm voi”[5] nhằm mở đường khai cơ, hưng nghiệp của Tiên Chúa, càng biểu lộ rõ hơn, dưới mắt dòng họ chân chủ phương Nam, cái khí tượng của một cõi kim thang[6] vô cùng bền vững, đúng như điều mà Thiên cơ đã mặc khải với Tuyết Giang phu tử[7] qua hòn giả sơn ông thường nhìn ngắm hằng ngày, bên mái Bạch Vân am. Sử văn đã ghi chép: “Đoan Quốc công vũ trị vài mươi năm, chính trị khoan hòa, thường ra ân huệ, dùng pháp luật công bằng, răn giới bản bộ, cấm trấp kẻ hung dữ, dân hai trấn cảm ân mến đức, dời đổi phong tục, chợ không hai giá, dân không ăn trộm, cửa ngoài không đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến buôn bán, quân lệnh nghiêm túc, mọi người đều cố gắng vì vậy không ai dám dòm ngó, dân trong xứ đều được an cư, lạc nghiệp”[8]. Cho nên ngay vào giờ phút dọn mình để “quay đầu về núi”, Tiên Chúa đã ân cần căn dặn người kế vị mình:
“Thuận Quảng, phía bắc có Hoành Sơn, một dãy trường thành chạy dài từ núi Khai Trướng xuống tận bể cả; có Linh Giang, rộng những một trăm bảy chục trượng với đôi bờ viễn cách và sức án ngữ mãnh liệt của ba đào; ở phía nam, có ải Hải Vân và núi Phù Nam hiểm yếu chẳng kém đường đi Ba Thục, là những thành lũy, then khóa cửa ngõ thiên nhiên, bảo vệ vững chắc cơ đồ. Núi non trùng điệp, vàng, sắt chất chứa cả một kho tàng vô tận, sông bể mênh mông, cá, muối, hào soạn tha hồ mà khai thác. Là hạng người dũng lược, nếu khéo biết lợi dụng đến cùng những đặc tính “kim thang, thiên phủ” của nơi này, bằng cách thu nạp trọng dụng hiền tài, chiêu luyện sĩ tốt, hết lòng vỗ thương trăm họ thì sự nghiệp sẽ bền bỉ, trường cửu muôn đời.”[9]
Lời trối trăn này của Cẩn Nghĩa công[10] trước khi ngon giấc nghìn thu ở núi Thạch Hàn, đã trở thành một ý chí chung của cả một dòng họ. Ngăn chận sức xâm tính của quân Trịnh ở phương Bắc, bành trướng thế lực bằng cách mở mang bờ cõi về phương Nam - cuộc Nam tiến của dân tộc đã từng được khởi niệm từ dưới thời Lê Đại Hành với con đường bộ do ba vạn dân công thực hiện, dưới quyền điều khiển của Ngô Tử An, khai thông từ nam giới đến châu Địa lý vào năm Nhâm Thìn (992) - quả thực đã là một thứ ý chí được nuôi dưỡng, truyền tiếp không ngừng qua chín đời chúa, được nung nấu ngày thêm kiên cường, mãnh liệt qua một cuộc trường chinh đầy thử thách, gian lao, kéo dài trên hai thế kỷ, để kết tụ ở Nguyễn Ánh sau này, thành một thứ chí khí thiết thạch khả dĩ thắng vượt nguy cơ hầu như tuyệt vọng và không những cứu vãn được một cơ đồ suy sụp, mà còn từ đó tạo thành một vĩ nghiệp huy hoàng.
Và qua cái quá trình “Bắc phòng, Nam tiến” ấy, vùng Phú Xuân, miền cát địa có long mạch ở đồi Hà Khê, có ải trời trục đất ở gò Long Thọ[11] tợ hồ đã là một cái đích nam châm, để trị sở của họ Nguyễn hướng lần từ Dinh, phủ, điện của các chúa cho đến Kinh đô vào thời trung hưng sau này.
Thực hiện cái di chí thiên dinh về Nam trước tiên là Sãi Vương hay Tế Vương - công tử thứ sáu của Thái Tổ Gia Dũ Hoàng đế, tức Hy Tôn Hiếu Văn Hoàng đế (1613 - 1635).[12] Tương truyền, trước giờ khai hoa mãn nguyệt, Thái Tổ Gia Dũ Hoàng hậu nằm mộng thấy có thần nhân đến bái yết và trao cho một tờ giấy có viết rất nhiều chữ Phước. Lúc tỉnh dậy, Hoàng hậu sinh được con trai là Hiếu Văn. Hoàng hậu đã định lấy chữ Phước đặt tên cho con, nhưng rồi lại nghĩ rằng nếu đặt như vậy thì chỉ con mình được hưởng phước mà thôi, trái lại dùng chữ Phước đặt thành chữ lót thì cả dòng họ sẽ được hưởng phước đời đời. Bèn đặt tên cho công tử là Nguyên, tức Nguyễn Phước Nguyên, và chính cái điềm mộng kiến này với sự suy rộng của một bà từ mẫu đã biến cải Nguyễn tộc của hoàng gia thành Nguyễn Phước tộc kể từ thuở đó.[13]
Sự kế vị của chúa Nguyễn Phước Nguyên tức Thụy Quận công xét ra cũng thực là thuận lý, hợp tình. Bốn người anh đầu, Nguyễn Hà, Nguyễn Hán, Nguyễn Thành, Nguyễn Diễn đã nối gót nhau, xa chơi miền U Minh, trước ngày Thái Tổ băng hà khá lâu. Người anh thứ hai là Nguyễn Hải thì neo thuyền bể hoạn đã vướng mắc ở bến Thăng Long. Lẽ tự nhiên người được chọn để kế vị phải là Phước Nguyên chứ không thể ai khác nữa. Đã thế, Thụy Quận công, ngay từ buổi thiếu thời, đã tỏ ra có nhiều tài đức, xứng đáng để nối được chí lớn, nghiệp lớn của người cha hào hùng từng dày công trấn cứ một vùng lĩnh thổ như Thuận Quảng thuở đó để mở đường cho cơ đồ vương bá về sau. Chỉ ngay cái danh hiệu Phật chủ hay Chúa Sãi mà thần dân thuở ấy đã dùng để tôn xưng Thụy Quận công[14] cũng đủ bảo chứng được, ở vị chúa quá ngũ tuần này, cái khả năng xứng đáng để kế tục Tiên Chúa trong công cuộc khai cơ hưng nghiệp và giữ vững giềng mối.
Nhưng theo công lệ tự nhiên, một cái nghiệp lớn của hạng người kinh quốc cũng như của hạng kinh doanh thường tự nó đã là tạo đoan, ngay từ lúc đã được hình thành, của mầm loạn nẩy sinh trong tình máu mủ, ruột thịt vì sức cám dỗ rất khó thắng vượt của tài lợi hay thế lực, quyền hành. Mầm loạn ấy đã bộc hiện ngay từ đời thứ hai của dòng họ chân chủ phương Nam, một lần với Nguyễn Hạp, con trai thứ bảy, và Nguyễn Trạch, con trai thứ tám của Thái Tổ, và là em cùng cha khác mẹ của Sãi Vương, vào năm Canh Dần, tức năm thứ bảy đời Hy Tôn (1620) và một lần nữa với Nguyễn Phước Anh, con trai thứ ba của Hy Tôn, vào năm 1633[15].
Hạp và Trạch mưu việc phản loạn, mật ước với Trịnh Tráng[16] - con của Trịnh Tùng và là chồng của Ngọc Tú, con gái đứng vào hàng thứ mười hai trong số các con của Thái Tổ - sẽ làm nội ứng, một khi Tráng đưa quân đến bờ sông Nhật Lệ. Tráng được mật thư liền hưởng ứng ngay. Nhưng điều đáng tiếc là cả Hạp lẫn Trạch và Trịnh Tráng, vì chóa mắt bởi tham vọng, mà quên rằng những mưu toan lật đổ Sãi Vương vào thuở đó chỉ là một chuyện manh động, không một điều kiện, yếu tố chủ quan hay khách quan nào có thể hỗ trợ hay bảo đảm được sự thành công. Sự kế vị ngôi chân chủ mà Thụy Quận công đã được Thái Tổ dành cho không những hợp tình, hợp lý như đã nói, mà cái tài trị nước an dân của vị chúa này, với sự phò tá của nhiều bậc hiền tài, sau bảy năm trời tại vị, đã được xác định trước mắt trăm họ.
Chỉ nhằm thỏa mãn tham vọng riêng tây, bất chính mà dám phản bội lại cái ý chí của cả một dòng họ - qua sự cấu kết ngay với kẻ thù là Trịnh Tráng - lại dám khinh thường di mệnh của tiên vương không vì một lý do nào khả thủ, bất hiếu, bất đễ và bất nghĩa như thế, Hạp và Trạch làm sao có thể tìm được sự ủng hộ, hưởng ứng của thần dân thuở đó. Hậu quả đáng tiếc và khó tránh đã xảy ra cho hai anh em phản nghịch là “cái chết nhục nhã trong xó ngục” và cho Trịnh Tráng là trên năm nghìn quân, dưới quyền điều khiển của Nguyễn Khải[17], băng ngàn vượt bể, tụ tập vào nơi “cát lạnh đất chai, sương mù gió thổi”[18] để chờ ngày xâm tính cơ đồ chúa Nguyễn, đã phải cuốn cờ, xếp trống, ngượng ngùng rút lui, tạo cho Sãi Vương một cái cớ để khước từ số cống thuế hàng năm.
Hạp và Trạch chết. Quân Trịnh rút lui. Nhưng ngọn lửa bốc dậy từ kho lương làng Ái Tử vào dịp phản loạn nói trên cùng với vụ khước từ việc nạp cống thuế do Trịnh chúa sai người vào đòi hỏi, đã khiến Thụy Quận công, vì sự phòng xa, trước những viễn tượng của một cuộc chiến tranh ác liệt có thể xảy ra, sớm nghĩ đến việc thiên di trị sở. Từ làng Trà Bát, huyện Đăng Xương (Quảng Trị), dinh chúa được dời vào xã Phước An, huyện Quảng Điền, trước đó có tên là Đan Điền - thuộc tỉnh Thừa Thiên, vào năm Vĩnh Tộ Nhị Niên, tức tháng Tư năm 1626. Tới đây dinh được đổi làm phủ. Và, tại trị sở mới, Sãi Vương càng quan tâm đến việc tổ chức guồng máy cai trị, tăng cường kế hoạch nội trị, ngoại an, với chủ trương “mở lưới vơ hiền, giăng chài vét sĩ”. Lại nhận thấy, về mặt quân cơ, binh bị, lối dụng nhân dưới thời Tiên Chúa có phần câu nệ, hẹp hòi vì các chức vụ như Chưởng dinh, Chưởng cơ, Cai đội[19] chỉ dành cho người trong vòng bà con của nhà chúa hoặc cho người Thanh Hóa cùng con cháu của họ mà thôi, Thụy Quận công đã cải cách bằng một chính sách rộng rãi hơn, cho mộ thêm những người có sức mạnh, tinh thông võ nghệ ở khắp hai trấn Thuận Quảng, bổ làm thân binh ở các cơ đội, và xét trong số này những người tỏ ra đắc lực, có công đều được lục dụng[20].
Đã sẵn những bực hiền tài từng phò tá Tiên Chúa trước kia, ngọn gió “chiêu hiền” còn đưa tới cho Thụy Quận công nhiều trang lương đống, đáng kể nhất trong số này: hoặc có tài lược sáng suốt khá sánh với Khổng Minh, Bá Ôn xưa như Nguyễn Hữu Dật và Đào Duy Từ - một kẻ sĩ ngay trong lúc“tạm ẩn bóng đợi chờ tri kỷ”[21], đã tự tin cái vốn thao lược gồm tài của mình phải có chỗ đắc dụng và chân chúa có ngày phải cầu hiền, để “nay tuy tạm trồng rau cuốc đất, nhưng có ngày cờ phất trên yên”[22], hoặc gan dạ, quả cảm, xứng danh hổ tướng, có thể là “thuyền khi cần qua sông, mơ muối khi cần nêm canh” như Nguyễn Hữu Tiến[23]. Thêm vào sự may mắn này, từ phương xa muôn dặm, những người Tây dương, nhất là người xứ Bồ[24], ngoài việc đem bán súng điểu thương, súng đại bác, vật liệu chế thuốc súng, còn mang tới cho Chúa kỹ thuật chế tạo vũ khí. Nhờ đó, từ ngày trị sở dời vào Phước An cho đến cuối đời mình, Sãi Vương quả đã làm đẹp lòng người cha an nghỉ giấc thiên thu ở núi Thạch Hàn, với rất nhiều thành quả triển khai nghiệp lớn.
Để tăng cường phương tiện chiến đấu, ngoài lò đúc súng do Jao Da Cruz[25], một người Bồ lai tới Đàng Trong trước năm 1615, thiết lập tại Phường Đúc[26], một lò thứ hai do lịnh chúa, được tổ chức và bắt đầu hoạt động vào năm Tân Vị (1631) cùng với trường bắn, mã xưởng và tập tượng trường[27]. Để phòng ngự sức xâm tính tràn vào từ phương Bắc - sau chiến thắng ở bờ sông Nhật Lệ với cuộc đại phá hai trăm chiến thuyền của vua Lê Thần Tông và Trịnh Tráng vào năm 1627, và nhất là sau cuộc tiến chiếm đất Bố Chính, từ Linh Giang về Nam, đặt làm Bố Chính dinh hay Ngõa dinh (dinh ngói) hay Nam Bố Chính châu vào năm 1630, một lũy dài hai nghìn năm trăm trượng (khoảng 10 cây số), cao non một trượng (3 mét), chân rộng hai trượng, tức lũy Trường Dục hay lũy Hồi Văn được xây từ làng Trường Dục, ở chân núi Trường Sơn, chạy xuống tận bãi cát Đông Hải, vào năm Canh Ngọ (1630) và một lũy thứ hai, lũy Thầy, cách lũy Trường Dục hai chục cây số về phía Bắc, về sau được mang tên là Định Bắc trường thành, chạy từ cửa Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu, nơi từng nổi tiếng có núi gò hùng vĩ, cao nhọn, có Tiên xuất hiện và có giếng sâu với một con cá thần quái dị. Lũy được hoàn thành vào năm Tân Vị (1631)[28], dài hơn ba nghìn trượng (khoảng mười hai cây số), cao một trượng năm thước (độ 6 mét), mặt ngoài đóng gỗ lim, bên trong đắp đất, xây làm năm cấp, xe cộ, voi ngựa có thể qua lại dễ dàng, và cứ cách một trượng có đặt một khẩu súng khóa sơn, cách ba hay năm trượng có xây một pháo đài, đặt một khẩu súng nòng lớn[29].
So với thời Thái Tổ Gia Dũ Hoàng đế, binh bị, thực lực, công việc chỉnh đốn nội trị, phòng vệ ngoại an tuy có phần khả quan hơn, ngay cả kế hoạch Nam tiến hầu như cũng đã thâu đạt thêm một thắng lợi đáng kể: việc xâm lấn bờ cõi Chân Lạp một cách hòa bình, êm thắm, qua mối lương duyên của Miên vương Chey Choettha với một công chúa Quảng Nam - Công chúa Ngọc Vạn hay công chúa Ngọc Khoa?[30] Và việc xin đất làm căn cứ ở miền nam Cao Miên và mở đồn quan ải ở Prey-Kor (tức Saigon) cho tiện việc thu thuế[31], nhưng phủ trị của Hy Tôn ở Phước An thì vẫn chưa được chú trọng nhiều về mặt chỉnh nghi hình thức, chưa có cái bề thế khí tượng đặc biệt của một đô ấp vương giả. Phải chăng cái ấn tượng chẳng đẹp của vụ phản nghịch, dấy khởi từ trong tình cốt nhục của hai người em trai, sự nhị tâm của một đứa con giàu tham vọng đến coi nhẹ cả tình phụ tử, sự dòm ngó, rình rập cơ hội phục thù, xâm tính của Trịnh Tráng sau ngày thay thế Trịnh Tùng, còn hứa hẹn nhiều đe dọa, nhất là từ ngày Hy Tôn đã thách thức một cách công khai bằng chuyện trả lại sắc thư trong chiếc mâm đồng hai đáy[32], đã không cho phép vị chúa cao niên này thảnh thơi tâm trí để nghĩ nhiều tới việc kiến tạo cung điện và phô trương nghi vệ?
Nhưng chính tất cả những nỗ lực và thành tích hưng nghiệp ở thời Hy Tôn đã chuẩn bị cho cảnh sắc phú thịnh và cái phong khí văn vật của thủ phủ ở Kim Long, dưới thời Thần Tôn sau này.
❀ ❀ ❀
[1] Ô Châu cận lục, bản dịch của Bùi Lương (trích dẫn trong “Việt sử: xứ Đàng Trong” của Gs. Phan Khoang, Khai Trí xuất bản, tr.118, 120). (TG)
[2] Ô Châu cận lục, bản dịch của Bùi Lương (trích dẫn trong “Việt sử: xứ Đàng Trong” của Gs. Phan Khoang, Khai Trí xuất bản, tr.118, 120). (TG)
[3] Ô Châu cận lục, bản dịch của Bùi Lương (trích dẫn trong “Việt sử: xứ Đàng Trong” của Gs. Phan Khoang, Khai Trí xuất bản, tr.118, 120). (TG)
[4] Ô Châu cận lục, bản dịch của Bùi Lương (trích dẫn trong “Việt sử: xứ Đàng Trong” của Gs. Phan Khoang, Khai Trí xuất bản, tr.118, 120). (TG)
[5] Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán (Bài tựa của Đại Việt Quốc vương Nguyễn Phước Châu, tr.9). Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam, Viện Đại học Huế xuất bản, 1963. (TG)
[6] Kim thang: Thang hình chữ Kim (金), tức hình tam giác cân, chỉ sự bền vững.
[7] Tức Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
[8] Đại Việt sử ký toàn thư (trích dẫn trong Việt sử: xứ Đàng Trong của Gs. Phan Khoang). (TG)
[9] Généalogie des Nguyễn avant Gia Long par S.E. Tôn Thất Hân, traduction de Bùi Thanh Vân, B.A.V.H. 1920. (TG)
[10] Nguyễn Hoàng mất vào năm Hoằng Định thứ 24 (1613), thọ 89 tuổi, ở ngôi năm mươi sáu năm. Vua Lê sai sứ đem lễ vật vào phúng và phong tặng tước Cẩn Nghĩa công (Đại Việt sử ký toàn thư). (TG)
[11] Các nhà phong thủy thường cho gò Long Thọ là “ải trời trục đất” (Xem Đ.N.N.T.C. Thừa Thiên phủ (tập thượng), mục Sơn Xuyên: gò Long Thọ, tr.56). (TG)
[12] Sãi Vương: Tức Nguyễn Phúc Nguyên, vị chúa thứ 2 của nhà Nguyễn, còn gọi là Tế Vương. Chúa sinh năm 1563, lên ngôi chúa năm 1613.
[13] Theo Généalogie des Nguyễn avant Gia Long, B.A.V.H. 1920. (TG)
[14] Généalogie des Nguyễn avant Gia Long: Troisième généalogie (hệ) qua-trième ligne (phòng): Hy Tôn Hiếu Văn Hoàng đế (1613-1635) Nguyễn Phước Nguyên. (TG)
[15] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập trung) mục Nhân vật Tôn Thất Vệ, tr.21 - Généalogie des Nguyễn avant Gia Long, p.320 - Le Việt Nam: Histoire et civilisation: Sécession du Nord et du Sud, p.244-251. (TG)
[16] Trịnh Tráng: Chúa thứ 2 của nhà Trịnh.
[17] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập trung) mục Nhân vật: Tôn Thất Vệ, tr.21 - Généalogie des Nguyễn avant Gia Long, p.320 - Le Việt Nam: Histoire et civilisation: Sécession du Nord et du Sud, p.244-251. (TG)
[18] Trong bài thơ của vua Lê Thái Tôn làm vào dịp đóng quân ở cửa bể Nhật Lệ có câu: Sa hàn địa lão tà dương ngạn, sương lẫm phong phi túc thảo khư (Cát lạnh đất chai khi bóng xế, sương mù gió thổi gò cỏ hoang). Đ.N.N.T.C.. Tỉnh Quảng Bình, mục Quan tấn: Hải tấn Nhật Lệ, tr.155. (TG)
[19] Chưởng dinh: Chức võ quan cao cấp nhất của Đàng Trong, xứ Đàng Trong có 5 dinh, mỗi dinh thường có từ một đến nhiều cơ quân. Đứng đầu dinh là chức Chưởng dinh.
[20] Đại Việt sử ký toàn thư (trích dẫn trong Việt sử: xứ Đàng Trong của Gs. Phan Khoang, tr.178). (TG)
[21] Ngọa long cương ngâm của Đào Duy Từ. (TG)
[22] Ngọa long cương ngâm của Đào Duy Từ. (TG)
[23] Năm Kỷ Vị (1619) Nguyễn Hữu Dật được tôn bổ vào làm văn chức, ông là người minh đạt có tài lược, làm tướng có mưu chước hay, đánh đâu được đấy, thường được người đương thời ví với Khổng Minh, Bá Ôn. Năm Đinh Mão (1617), Đức Hóa tiến cử Đào Duy Từ, Hy Tôn cho làm Nha úy Nội tán, tước Lộc Khê hầu. Sau khi Văn Khuông theo kế của Từ đem mâm đồng hai đáy có đựng sắc thư ra Đông đô và trở về vô sự, Hy Tôn bảo rằng: “Duy Từ thực là Khổng Minh, Trương Lương đời nay vậy.” Năm Tân Vị (1631) Nội tán Duy Từ tiến cử Nguyễn Hữu Tiến, Hy Tôn cho Tiến làm Đội trưởng và thăng Cai đội. Tiến cùng Dật thường đánh thắng quân Trịnh nhiều trận rất lớn. - Theo Đ.N.N.T.C.. Thừa Thiên phủ (tập trung), mục Nhân vật - Việt Nam nhân vật chi vựng biên (tr.38, 39 và 231) của Thái Văn Kiểm và Hồ Đắc Hàm, tập số 13, 14-1962. (TG)
[24] Xứ Bồ: Tức Bồ Đào Nha.
[25] Tức João da Cruz.
[26] Việt Nam Pháp thuộc sử (1862 - 1945) của Gs. Phan Khoang (người Âu châu đến buôn bán ở V.N.), tr.15, Khai Trí 1961. (TG)
[27] Le Việt Nam: Histoire et Civilisation, par Lê Thành Khôi: Les Nguyễn au gouvernement du Thuận Quảng. (TG)
[28] Đ.N.N.T.C.. Tỉnh Quảng Bình, mục Cổ tích: Lũy cũ Trường Dục, tr.142, mục Quan tấn: Trường thành Định Bắc, tr.154, mục Sơn Xuyên: núi Đâu Mâu, tr.107 - Việt Nam Nhân vật chi vựng biên: Từ (Đào Duy), tr.223. (TG)
[29] Việt sử: xứ Đàng Trong của Gs. Phan Khoang. (TG)
[30] Theo Généaiogie des Nguyễn avant Gia Long thì Sãi vương có cả thảy mười lăm người con, trong số có bốn con gái: Ngọc Liên, Ngọc Vạn, Ngọc Khoa, Ngọc Đỉnh. Ngọc Liên là vợ của Nguyễn Phước Vinh (con trai đầu của Mạc Cảnh Huống), Ngọc Đỉnh là vợ của Nguyễn Cửu Kiều tức Nghĩa Quận công. Còn Ngọc Vạn, Ngọc Khoa thì không thấy nói đến chuyện chồng con như thế nào. (TG)
[31] Histoire du Cambodge du ler siècle de notre ère par A.Leclère, p.339, 340 - Paris 1914 (trích dẫn trong bài chú thích) bài “Thành trì chí của Trịnh Hoài Đức” của Gs. Trần Kinh Hòa, Tạp chí Đại học số 24, tháng 12, 1961, tr.33. (TG)
[32] Việt Nam nhân vật chí vựng biên: Từ (Đào Duy), tr.232. (TG)