Nhưng sau những ngày tang khó, Kim Long lại thu hồi cảnh sắc trù phú, phồn vinh, để tiến triển thịnh đạt hơn, qua bảy năm trời yên bể lặng, lửa dập, khói tan, kể từ trận thảm bại của quân Trịnh nói trên.
Mức phú túc của đám dân thị tứ ngày càng tăng tiến, và, theo với cái đà thăng hoa này, phong thói xa xỉ, nề nếp đài các, phong lưu, cái văn vẻ của nền giáo hóa thiện hạnh chớm nở, lần hồi ăn sâu từ các giới quyền quý đến tận các từng lớp sĩ thứ, đồng thời lan rộng cả một vùng thôn hoa, lục dã, ít nhất là từ Kim Long đến tận phường Phú Hòa bên tả ngạn sông Hương hiện nay, đổ xuống thấu ranh giới Địa Linh, Thanh Hà, và ở phía hữu ngạn, tới mạn Phú Cam cùng các khu vực ven sông của những phường Phú Ninh, Phú Vĩnh.
Ngọn gió ngoại thương càng mang thêm về nơi này - qua sự chuyển vận, phân tiêu[1] của thương khẩu Thanh Hà - nhiều loại hóa phẩm ngoại lai quý lạ, dễ đánh động thị hiếu của đám người phồn hoa dư ăn, thừa để, do những thương thuyền từ các xứ Âu châu, hoặc từ Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, hay từ Phi Luật Tân, Malacca đổ về Hội An[2], một mã đầu[3] lớn về thời đó. Tơ lụa, gấm vóc, sa đoạn, đồ sành, đồ sứ, đồ đồng, họa phẩm, đao kiếm, giày, bít tất, các loại rượu và hào soạn, thuốc men cùng các chất bổ dưỡng hiếm lạ.
Cũng vào thời bấy giờ, một vài thứ công nghệ trong xứ đã bắt đầu phát triển, đáng lưu ý nhất là nghề dệt các thứ hàng quý như: thái đoạn, sa lăng, cẩm trừu cùng các loại hàng có hoa. Viễn tổ của các phường dệt nổi tiếng thuở đó là người phủ Thăng Hoa, thuộc Quảng Nam dinh[4]. Hội An, như vừa nói, là một mã đầu lớn có sức quyến rũ khá mạnh đối với bọn thương nhân từ phương xa tới. Mà sức quyến rũ của Hội An lại chính là sức quyến rũ của nguồn thổ sản sung thiệm ở Quảng Nam dinh, một vùng mà Lê Quý Đôn đã từng cho là “một xứ phì nhiêu bậc nhất trong thiên hạ” và một thương khách họ Trần, người Quảng Đông, từ Trung Quốc qua, đã phải nhìn nhận rằng: “... buôn ở Quảng Nam thì trăm thứ chẳng thiếu hàng gì, các phiên bang chẳng nơi nào sánh kịp.”[5]
Của núi, của rừng cống hiến thì có: trầm hương, tốc hương, sáp ong, mật ong, dâu sơn, cây gỗ, sừng tê, ngà tượng; của sông, của bể cung cấp thì có: cá, muối, đồi mồi, hạt trai; của đất đai thết đãi thì có: lúa, kê, đường, chè, hạt cau, hồ tiêu[6], toàn là những loại sản phẩm đáp ứng đúng sự thèm khát của những lòng thuyền cầu tài, cầu lợi từ mười phương viễn xứ đổ về. Cho nên rất sớm, kể từ buổi đầu thế kỷ thứ mười bảy, Hội An đã mở rộng cánh tay “chiêu khách”, đón tiếp các thương thuyền Âu châu, và sớm hơn nữa, từ cuối thế kỷ thứ mười sáu, Hội An đã là nơi tới lui, lưu trú của các thương gia Nhật Bản, Trung Hoa, nhiều nhất là Trung Hoa, với những thương thuyền Phúc Kiến cập bến khá tấp nập, kể từ mùa xuân Vạn Lịch thứ năm (1577)[7]. Nhờ có sự tiếp xúc, chung đụng sớm sủa như thế với đám người thiên triều, mà một số người địa phương ở Quảng Nam dinh đã học được nghề dệt các thứ hàng quý nói trên. Vì sẵn óc thông minh, sẵn có xảo tứ[8], lại giàu đức tính cần cù, chịu khổ công tìm tòi học hỏi cái khôn, cái khéo của người nên “người phủ Thăng, phủ Điện dệt được các thứ the đoạn, lụa là hoa hòe, tinh xảo chẳng kém gì hàng Quảng Đông”[9], và đời này qua đời khác, truyền cho con cháu, phổ biến ngày thêm sâu rộng. Cả một vùng Thuận Quảng, dưới thời Dũng Quốc công[10], đã có rất nhiều phường dệt lừng danh trong cõi. Ngay ở Thuận Hóa, gần Nguyễn phủ, có phường dệt Thái Nghệ, ở mạn sau Phú Cam, trong địa phận các làng Sơn Điền, Dương Xuân, Vạn Xuân, số thợ có tới non năm trăm người, chuyên sản xuất những loại cẩm trừu, sa đoạn đẹp nổi tiếng. Lại có làng Quang Xuyên, dân làng rất thiện nghệ về lối đan mũ mã vĩ, hay đan những con rồng, con phượng, các kiểu vạn thọ, tam sơn, bát bảo cùng các thứ hoa để chế khăn đạo sĩ, trông thấp thoáng như sa huyền[11]. Ngoài ra, ở huyện Phú Vinh - nay gọi là Phú Vang - có nhiều thợ thêu hoa vào cổ áo phụ nữ và các túi đựng trầu bằng hàng, gấm, đường nét thêu thùa trông thật tinh xảo. Cũng tại huyện này, lụa vàng, lụa trắng của làng An Lưu sản xuất rất được hạng giàu sang ưa chuộng.
Tơ lụa trong xứ sản xuất đã nhiều, nghề dệt lụa và hàng quý lại rất phát đạt, thợ thêu, thợ may khéo léo, nên lối ăn mặc của đám thị dân thị tứ thuở đó thực là diễm lệ, xa hoa. Ở Kim Long, hạng quyền quý “quần áo may thuần gấm vóc. Những người sắc mục ở dân gian, quần áo mặc thường cũng thuần sa đoạn chứ mặc áo vải thì lấy làm xấu hổ.”[12] Đến như nếp sống hàng ngày, thì cái phong khí xa xỉ, hào phóng quả đã tạo thành một trào lưu đua đòi từ trên xuống dưới, bày ra cái cảnh tượng “phượng hoàng đua, bìm bịp cũng đua”. Chẳng những hạng quan quyền đua tranh nhau khoa trương vẻ phú quý, sang trọng “nhà cửa chạm trổ, thềm đá tường xây, chăn màn toàn bằng sa đoạn, vung nồi thuần bằng đồng thau, sập ngồi, ghế tựa, mâm sứ chén hoa, yên cương ngựa nạm thuần vàng bạc”[13], mà đến hạng lính tráng cũng nhiễm nặng thói phong lưu, trưởng giả, cũng “ngồi chiếu mây, ghế tựa”, cũng nghiền cái thú thưởng thức trà Tàu bên cạnh đỉnh trầm nhẹ tỏa khói thơm, cũng dùng chén sứ bịt bạc, ống nhổ bằng thau[14].Hầu hết các thứ vật dụng tiện nghi sang trọng đều do Hoa thương cung cấp. Đàn bà con gái thì chăm chút tô điểm, chưng diện “áo quần toàn bằng tơ lụa, cổ áo thêu hoa, coi tiền bạc, thóc gạo rẻ như bùn”[15]. Cái cảnh “thương mãi giồi son phấn, quân dân diện áo xanh, khăn gấm đựng trầu, chân hoa trổ bước[16]” thường đập vào mắt Đại Sán Hán Ông[17] dưới thời Quốc Chúa Nguyễn Phước Châu sau này, có thể đã rất thịnh hành, phổ biến dưới thời Dũng Quốc công. Đàn bà, con gái Kim Long, vì đó, từng nổi tiếng quyến rũ, lẳng lơ, quen nết gió trăng, hoa liễu một thời. Cái di phong ấy còn kéo dài mãi về sau, để một nhà vua si tình - chừng như vua Thành Thái - đã đắm say đến độ quên mình đường đường là một đấng chí tôn trên ngôi cửu ngũ, lén lút vì hành vi lên xuống nhiều lần, làm nảy sinh trong đám dân gian một câu ca dao đầy giọng phúng thích sâu cay: “Kim Long lắm gái mỹ miều, Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều, trẫm đi.”
Phong thói sinh hoạt của Nguyễn phủ, vào thuở đó, lẽ tự nhiên, càng tăng thêm vẻ xa hoa, nghiêm lệ.
Công cuộc khai hoang, dinh điền phát triển, quan thuế cũng như sự đổi chác các loại hồ tiêu, vẩy cá, trầm hương, yến sào cho bọn khách buôn ngoại quốc để lấy hàng hóa, mang lại cho Nguyễn phủ một nguồn lợi không nhỏ. Công khố đã sung dật, các vật liệu, tiện nghi cần thiết cho nếp sống vương giả và triều nghi lại được cung cấp dồi dào hơn trước bởi đám Hoa thương. Thổ sản ngự tiến từ các vùng xa đổ về Kim Long thực chẳng thiếu gì của ngon, vật lạ. Thuế lụa Quang Lăng ở Quảng Nam dinh, thuế vải trắng Thanh Hào ở Quảng Ngãi, thuế gấm ở Thuận Hóa, và các loại châm kim đoạn, hồng phương ty, bạch phương ty, hồng sơ, bạch quyến hoa lăng do các Cai bạ tàu[18] dâng nộp vào các ngày chính đản[19], lễ lạc, hay do thương thuyền Trung Quốc thường mang từ Hội An tới, làm trội thêm vẻ hoa mỹ, thanh lịch, kiêu sa của lối phục sức trong phủ chúa. Thêm vào đó, còn có sự phục vụ rất tận tâm và đắc lực, vào những dịp khánh điền, của dân xã Minh Hương hay bọn khách buôn ở phố Thanh Hà, vốn là những người rất thành thạo, khéo tay về các công việc thường được Nguyễn phủ trao phó, như trang trí, trần thiết, xe đèn sáp, viết liễn đối, bày biện cỗ bàn, yến tiệc vv...[20]
Giữa cuộc đời “rồng bay, phượng gáy” ấy, Dũng Lễ hầu Nguyễn Phước Tần - công tử thứ hai của Thần Tôn, một vị thế tử thanh niên anh hùng, mới hai mươi chín tuổi, từng lập nhiều võ công oanh liệt trên bộ cũng như dưới thuyền, lúc Thần Tôn còn tại thế - sau khi thừa kế đại nghiệp, có thể vì quá say sưa với cảnh vinh quang, chiến thắng vừa thâu đạt, tưởng mình đã có quyền được nghĩ nhiều đến sự hưởng thụ các thú vui chơi hoan lạc, nên đã có lúc nhắm mắt, buông mình, đắm đuối trong nguồn ma lực của nữ sắc, đến độ xao nhãng cả di chí hưng nghiệp của các Tiền vương.
Chuyện chẳng lành ấy hầu như đã xảy ra vào năm thứ tư đời Dũng Quốc công, khi giữa đám ca nhi trong Nguyễn phủ đột nhiên xuất hiện một ngôi sao sáng chói.
Nàng Thừa hay ngôi sao ấy - một áng đào kiểm trổ sinh ở đất Nghệ An - vốn có một thứ diễm sắc thanh quý, lộng lẫy mười phân vẹn mười, và hào quang của nó đã làm tái nhạt lu mờ tất cả mọi vẻ thanh tân, mỹ tú của đám phi tần dày công trau luyện sắc, duyên. Cho nên Dũng Quốc công, một phen vừa giáp mặt và được thưởng thức tài nghệ, đã đem lòng sủng ái. Thế rồi, tiếng đàn ngọt hát hay phối hợp với cái mãnh lực ma túy của sóng khuynh thành, đã lôi cuốn một vị chân chủ anh hùng, minh mẫn như Dũng Quốc công vào giữa cái mịt mờ của đám mê vân sắc dục.
Nhưng với cái vận số đang lên, cái thế thăng tiến đang phấn phát, nghiệp lớn của họ Nguyễn vẫn còn mang sẵn những yếu tố khả dĩ giúp nó thoát vượt được những cạm bẫy làm đổ nát cơ đồ. Một ưu điểm rất may mắn của các chúa Nguyễn là, để đáp ứng nhu cầu nhân sự cần thiết cho công cuộc khai quốc, Nguyễn phủ đã có một chủ trương chiêu nạp hiền tài sâu rộng, không hề câu nệ về đẳng cấp, dòng dõi, quốc tịch, ngay trong đường lối tiến cử cũng như về đường khoa cử, và, để chứng tỏ tinh thần trọng dụng người hiền, đã tỏ ra rất hào phóng về tước lộc, áo mão, cân đai. Trong đám người phò tá vì thế không thiếu những hạng có tài kinh luân, mà cũng không hiếm gì những hạng nghĩa khí, trung trực, có can đảm nhẹ xem tính mệnh để đóng vai“tránh thần”, mỗi lúc xét ra cần thiết. Cũng như Viên Hiền hầu Nội tán họ Phạm trước kia đã dám can ngăn Chúa Thượng, một cựu thần - có thể là Chưởng dinh Nguyễn Cửu Kiều - một hôm, đã thẳng thắn tâu gửi những lời can gián, vạch rõ cái họa nữ sắc nguy hại cho vận mệnh đại nghiệp như thế nào, và khẩn thiết yêu cầu Dũng Quốc công phải sớm xa lìa con đường sắc dục, thu hồi tấc lòng sủng ái từng dành cho ả ca nhi xứ Nghệ. Dũng Quốc công nghe xong cả giận, và, trong một phút thiếu tự chủ vì cơn lôi đình, thịnh nộ, đã đập bàn, xẵng giọng phán bảo:
- Ta đã từng nằm gai nếm mật để bảo vệ cơ đồ, đến nay giềng mối vững vàng, trăm họ an lạc, há ta chẳng có quyền được cung dưỡng bằng cái vui thanh sắc, yến ẩm hay sao?
Tiếng nói của Chính khí đâu có chịu chùn bước trước cái uy sấm sét trên chín bệ cao:
- Thân chúa, cung dưỡng bằng ca vũ, yến diên[21] để thỏa cái thích tình của ngũ quan không hẳn là điều kiêng kỵ đối với quân đạo. Nhưng quá buông lung theo sở thích, mê đắm tửu sắc đến độ lãng quên trọng trách trị quốc, an dân, cổ kim chưa hề tránh được cái họa nghiêng đổ giềng mối. Vùng Thuận Quảng này mặc dù là nơi hổ ngồi, rồng nằm[22], quân Trịnh mặc dù bị thảm bại phải tạm nguôi ngoai tham vọng xâm tính, nhưng nếu vì đó mà kỷ cương buông lỏng, pháp lệnh bỏ bê, thì cái cơ suy vong chẳng mời gọi cũng tự nhiên tìm đến. Gương Oai Mục Đế và Tương Dực Đế[23] đâu đã phai nhòa, mai một, chúa thượng há sớm quên sao?
Và quả tiếng nói của Chính khí đã gây được cái tác dụng của một hồi chuông cảnh tình. Nó làm sống dậy trong tâm tưởng của một vị chân chủ những gì cần chiêm nghiệm như một bài học lịch sử quý báu cho hạng người trị quốc. Hình ảnh cung điện dọc ngang trên trăm sở, đài cao đến chín tầng, hình ảnh những chiếc long thuyền vàng son chói lọi, đủng đỉnh rẽ nước Tây Hồ rạng tỏa gấm sen, với những kiều nữ phô diễn vóc ngọc thân ngà lộ liễu, trần truồng, uốn lượn đường cong, nét mềm thanh tú theo nhịp mái chèo và ca nhạc, đi liền với hình ảnh một hôn quân dâm đãng bị phanh thây, xé xác trước họng thần công, hình ảnh một bạo chúa đắm đuối giữa bể truy hoan bị hạ sát một cách thảm nhục tại Bích Câu và xác bị ném vào lửa đỏ... vụt nhiên hiện ra, sống động, trước mắt Dũng Quốc công. Những lời trung ngôn chưa hẳn đã vui tai, nhưng trong men nồng của rượu quý, trong cái mãnh lực quyến rũ của thanh sắc đã nghe có thoảng qua những gì khác lạ. Và, đêm hôm ấy, chẳng biết bàn tay hữu ý nào đã đặt trên án thư một tập sử tích “Ngô Vương”[24]. Cảo thơm lần giở trước đèn, Dũng Quốc công hốt nhiên tỉnh ngộ. Và cuộc phản tỉnh cam go, đau xót, đã đưa tới một quyết định tàn nhẫn, não nùng.
Tựa cửa lầu khuya, hướng nhìn về phía núi Thạch Hàn xa xăm, và sau những phút vô biên trầm ngâm tư lự, Dũng Quốc công thở dài nhưng cương quyết:
- Chính kẻ đã can gián ta sẽ có đủ quyết tâm để thi hành ý định của ta.
Sáng hôm sau, nàng Thừa - người đẹp được sủng ái - thể theo mỹ ý của Dũng Quốc công, mang đến tận nhà vị Chưởng dinh họ Nguyễn một bộ triều phục mới tinh. Vui vẻ tuân hành mệnh lệnh, con người đáng giá nghìn vàng ấy có biết đâu rằng: gót sen, một khi đã tiến về phía tư thất của Chưởng dinh Nguyễn Cửu Kiều, là sẽ phải tiến thẳng vào thế giới u linh. Vì, hỡi ôi! Bức mật thư mà Dũng Quốc công đã lồng vào tay áo của bộ triều phục do nàng mang đến là một mật lệnh ủy thác cho Chưởng dinh họ Nguyễn cái nhiệm vụ kết liễu đời nàng bằng một thanh gươm sắc bén[25]. Vụ hành quyết âm thầm, tàn nhẫn ấy đã xảy ra tại nơi nào trong vùng Hương Ngự? Không có sử văn ghi chép rõ ràng. Nhưng trong lòng thuyền lạnh lùng cô tịch, giữa cảnh sương mờ, trăng xế, trên mặt sông Hương, mỗi lúc nhắc lại câu chuyện “phong tình cổ lục”, du khách như có thể còn nghe oan hồn của khách hồng nhan bạc mệnh, rũ tóc sầu, ôm ngực huyết, khóc than đâu đó bên cầu Bạch Hồ hay trên cồn Dã Viên.
Nhưng vụ nàng Thừa vừa giải quyết xong với mối ly sầu huyết lệ, thì một đại biến lại xảy ra vì một phụ nhân gian hoạt là nàng Tống thị.
Thất bại trong âm mưu năm Mậu Tí, Tống thị càng thêm lo ngại cho thân phận của mình. Nhưng vốn thông minh, giảo hoạt, có tài quyền biến, Tống thị liền nghĩ đến cái kế mê hoặc, lung lay ngay cả con người trước đây từng thù ghét và muốn diệt trừ nàng: Trung Tín hầu Nguyễn Phước Trung. Mượn tay họ Trịnh để trả thù không xong, nàng họ Tống lại muốn mượn tay chú của Dũng Quốc công để rửa hận và phá hoại cơ đồ họ Nguyễn.
Thực là cả một chuyện mạo hiểm, nhưng Tống thị vẫn dám nghĩ, dám làm vì nàng vững tin ở sắc đẹp và cái thuật quyến rũ bằng xâu chuỗi trăm hoa.
Bèn chọn một nữ tì duyên dáng, lanh lợi nhất - nàng Hoa, bày dạy cung cách phục dịch đúng theo khuôn phép ở chốn cao môn rồi nhờ người thân tín đưa vào hầu hạ trong dinh Trung Tín hầu. Trước khi vào dinh, Hoa đã được Tống thị dặn dò tỉ mi những điều cần thực hiện. Điều quan hệ là phải gây được lòng tin yêu và tìm hiểu sở thích của hầu.
Hoa quả đã đáp ứng được điều mong muốn của nàng họ Tống. Chỉ một thời gian ngắn, Trung Tín hầu đã phải chú ý đến Hoa và cho nàng chuyên giữ công việc hầu trà, chuốc rượu, sớm hôm gần gũi bên mình.
Đã biết Trung Tín hầu mỗi khi dùng trà thơm thường có thói quen thích dùng đồ ngọt, Hoa tin ngay cho Tống thị, và, một sớm, sau khi đã chuyên trà thơm vào chén, Hoa bưng lên, đặt cạnh khay trà một quả bánh khô rất đẹp và, cùng với quả bánh, một xâu chuỗi trăm hoa cực kỳ ngoạn mục.
Trung Tín hầu nhìn quả bánh, trầm trồ ngợi khen và khi ăn thử mấy cái, càng thấy khoái khẩu, vì hương vị của bánh thực là đặc biệt, khác xa với các loại bánh từng dùng xưa nay. Vừa thưởng thức, Trung Túi hầu vừa gật gù lẩm bẩm:
- Ngon lắm! Ngon lắm! Và lạ thực! Cái tài bánh trái đến như thế này thì quả là tuyệt diệu.
Rồi nhân lúc khoái trá vì hương vị của trà quý, bánh ngon, Trung Tín hầu vui tay cầm lấy xâu hoa ngắm nghía. Ngắm mãi không chán, hầu lại ngửi qua hương thơm. Bất giác, lòng nghe bồi hồi, rung động và tự dưng đâm ra khát vọng được trông thấy dung nhan của người tặng bánh, tặng hoa. Hầu liền gọi Hoa, căn vặn dập dồn:
- Bàn tay nào đã kết chuỗi hoa này? Đã làm ra những chiếc bánh này? Ta muốn biết rõ để đáp lại tấm thịnh tình đáng quý.
Hoa làm ra vẻ bối rối, run sợ rồi khép nép thưa:
- Kính xin Đức ông tha cho tội chết, con mới dám thưa.
- Sao vậy? Sao lại tội chết...? Ta chẳng bắt tội đâu mà sợ, nói đi.
- Thưa Đức ông, vì người dâng hoa, dâng bánh không xứng đáng được Đức ông biết tới. Con chỉ nhận quà để dâng lên chỉ vì biết Đức ông thích món này và biết bánh trái của kẻ ấy làm thì cái khéo, cái ngon không có tay nào có thể sánh kịp.
- Nhưng tại sao lại không xứng đáng được ta biết tới. Ta cần biết người ấy là ai? Ta cần biết ngay, mày phải nói ngay.
Hoa trộm liếc nhìn Trung Tín hầu, ấp úng giây lát, rồi hạ thấp giọng:
- Thưa... đó là người từng ước mong được làm hoa hướng dương để chầu vầng nhật là Đức ông, nhưng đã phải ôm một mối khổ hận từ lâu, vì chẳng những nỗi lòng thầm kín đã không được bóng huy quang soi thấu, mà còn phải chịu nhiều điều sàm báng của bọn người ác khẩu để bị hiểu lầm, ngộ nhận và phải lâm vào cái thế bơ vơ qua bao cảnh hổ chọi, rồng tranh...
Trung Tín hầu tỏ vẻ cảm động, kinh ngạc kêu lên:
- Thực sao? Nhưng kẻ ấy là ai? Ta muốn biết tên, biết mặt. Ta muốn gặp ngay. Mày phải nói mau.
Hoa cúi đầu, hạ giọng, thưa nhỏ cho Hầu biết kẻ đó chính là nàng Tống thị. Và, lạ lùng thay, vừa nghe đến tên nàng, Trung Tín hầu đã hớn hở mặt mày:
- Tống thị! Tống thị! Trời ơi, ta muốn gặp nàng. Ta muốn tin ngay cho nàng biết là nàng phải sớm gặp ta. Mày nghe rõ chưa. Đi gấp, tin gấp.
Ngay tối hôm ấy, Tống thị trang điểm cực kỳ lộng lẫy, theo Hoa mà lẻn vào dinh. Một phen gặp gỡ, cái nhan sắc kiều diễm, lối phục sức chải chuốt, thanh lịch, cái phong vận yểu điệu, thanh tân của nàng đã gây cho Trung Tín hầu cái ảo giác như đang đứng trước một giáng tiên vừa đội trăng sa, rẽ khói sương mà đến. Thi lễ xong, Tống thị khép nép thưa gửi:
- Trước kia, tiện thiếp vì khiếp sợ uy danh của bậc cao minh quân tử mà phải ẩn lánh, nay lại cũng vì nể sợ uy danh mà xin tìm đến khấu đầu dưới trướng.
Nhớ lại chuyện cũ, Trung Tín hầu vội vàng tạ lỗi. Và đêm hôm ấy, với cái thuật ái ân “tía rụng, hồng rơi”,Tống thị đã chinh phục được lòng nịch ái, đắm say của một võ quan hung bạo từng coi nàng như một loài yêu quái cần phải diệt trừ.
Và những gì phải xảy ra, đã xảy ra, đúng theo kế hoạch dự liệu của nàng họ Tống. Trung Tín hầu nghe theo lời nàng, xuất tiền kết nạp dũng sĩ, ngấm ngầm chuẩn bị một trận tập kích vương phủ vào khoảng tháng Tư năm Giáp Ngọ (1654). Những người gia nhập đảng của Hầu và Tống thị đều được ghi tên vào một sổ bộ do Tống thị cất giữ.
Nhưng thiên bất dung gian. Trong đám thuộc hạ của Trung Tín hầu, có tên Thắng Bố, khi biết được mưu đồ dấy loạn này liền mật báo ngay với Dũng Quốc công.
Được tin mật báo hôm trước, thì ngay sáng hôm sau, lệnh từ vương phủ được ban ra bất thần, cấm chợ búa không được họp, đường sá không cho người được đi lại. Khắp nơi từ điền dã đến sơn khê, binh cũng như dân, nam nữ, lão ấu tuyệt đối phải ở yên tại chỗ. Và trong lúc đó, tại Thượng đô, quân lính kéo tới bao vây dinh Trung Tín hầu, bắt hết người nhà, giam cầm, xét hỏi, Trung Tín hầu Nguyễn Phước Trung, không còn chạy chối ngả nào, phải cung khai sự thực.
Vì Trung Tín hầu là chú, nên Dũng Quốc công không nỡ nào khép vào tội chết, chỉ giam cầm ngục thất mà thôi. Nhưng rồi Hầu cũng chết trong ngục thất. Tống thị lần này quả đã đến bước đường cùng và phải đền tội một cách xứng đáng với những ác họa do thị gây ra. Thị bị chém và bêu đầu giữa chợ. Và theo lệnh Chúa, gia tài lớn lao của thị được đem cấp phát cho quân, dân trong vùng.[26]
Sau khi Trung Tín hầu đã bỏ mình trong xó ngục và Tống thị đã gửi hồn theo bóng kiếm, có người bắt được, ngay tại nhà nàng, sổ bộ ghi tên tất cả những người tham dự cuộc mưu phản của Trung Tín hầu, đem dâng cho Chúa. Nhưng thay vì khai thác để thanh trừng, Dũng Quốc công đã cho đốt đi.[27] Cử chỉ khoan hồng này của Chúa đã gây một cảm kích rất sâu xa trong đám bề tôi cũng như trong các tầng lớp chúng dân.
Cái họa nữ sắc được chặn đứng kịp thời, mầm phản loạn được hủy diệt ngay trong trứng nước, Dũng Quốc công như người tỉnh mộng, càng tỏ ra xứng đáng hơn trước trên cương vị chân chủ phương Nam.
Bảy năm hưu chiến giữa Nam Bắc thay vì trôi qua hoàn toàn trong cảnh an nghỉ vui chơi, đã được Dũng Quốc công, sau cơn hối ngộ, khai thác đủ mọi lợi thế để chỉnh đốn nội trị, ngoại an và xúc tiến công cuộc mở mang bờ cõi. Qua gần bốn chục năm trời tại vị, Dũng Quốc công hay Thái Tôn, Hiếu Triết Hoàng đế quả đã đáp ứng đúng kỳ vọng của các đấng tiền vương, nhất là của Tiên Chúa, từng đặt để ở những người kế thừa đại nghiệp.
Trong phủ chúa, sự kiệm ước được thay thế cho những phong thói xa hoa, lãng phí. Các công tác tu trúc lâu đài, cung thất cũng được hạn chế đúng mức.
Để phòng vệ biên cương cho hữu hiệu, Cai suất đại viên và binh đồn trú được đặt thường xuyên tại Lưu đồn đạo hay Dinh Mười (Thập Dinh)[28], lũy Trấn Ninh và lũy Sa Phụ được xây đắp (1662). Công việc thao luyện quân sĩ, cải tiến kỹ thuật và tăng cường phương tiện chiến đấu trên bộ cũng như dưới thuyền được xúc tiến thường xuyên, trong tinh thần nghiêm chỉnh, khẩn trương. Ở khắp các đồn trại hiểm yếu, quân số được bổ sung. Tại Quảng Bình, Thủy dinh Tham tướng Tôn Thất Tráng được mạng rèn thêm binh khí, huấn luyện sĩ tốt. Từ năm Vĩnh Thọ nguyên niên (1658), Chúa đã ra lệnh tập tuyển trường ở Nghệ An, duyệt dân bảy huyện chia thành ba hạng: toáng, quân và dân, chỉnh đốn việc thu thuế để cung cấp quân lương. Và sau trận thất bại năm 1660, khi bảy huyện Nghệ An lọt trở vào tay họ Trịnh, Dũng Quốc công rút kinh nghiệm, nhận thấy phép bắn của quân mình chưa được tinh thông, bèn ra lệnh phải luyện tập ráo riết[29]. Vào năm Quý Mão (1663), tại Thuận Hóa, núi đất ở bến đò Thanh Phước - đắp từ đời Thần Tôn được xây ụ cao thêm ba chục thước và trang bị xạ hầu (khung căng ở giữa có vẽ đích) cùng các vũ khí đầy đủ để thường xuyên tổ chức những cuộc thi bắn cho quân sĩ và các thủy sư[30]. Nhờ đó, phép bắn ngày cành tinh thêm. Ngoài ra, việc kiểm xét tình trạng tốt xấu, cùn, sắc của các thứ quân khí ở các dinh, các quận hay châu, huyện cũng được đặc biệt chú trọng[31]. Mặc dù đã nhiều phen chiến thắng quân Ô Lan trên mặt bể cả - ngay từ thuở còn là Thế tử - Dũng Quốc công vẫn không chủ quan khinh địch, trái lại càng quan tâm nhiều hơn về mặt chỉnh bị chiến thuyền. Vào năm 1674, tổng số chiến thuyền của Đàng Trong đã có tới 133 chiếc[32] với cái khả năng cướp gió, vượt sóng nhặm lẹ[33] phi thường, và cái khí thế chiến đấu táo bạo, dũng mãnh khiến cho địch quân thoạt thấy bóng đã khiếp vía, kinh hồn.
Thay vì những cuộc hội hè, vui chơi do Nguyễn phủ thường tổ chức vào các dịp khánh điền, nhân dân Kim Long được vui xem nhiều hơn trước các cuộc thao diễn của quân sĩ, phi ngựa, bắn cung, múa kiếm của giới công tử, vương tôn, những cuộc tập trận tại Tập tượng trường, hoạt động nhộn nhịp hơn xưa, với số thị tượng được gia tăng hoặc bằng lối săn bắt, dụ dỗ từ rừng già về, hoặc do sự triều cống của các man và nước Chân Lạp. Ngay tại các dinh, Chúa cũng ra lệnh cho đám văn thần, quan lại Tam Ty phải tập bắn cung, cưỡi ngựa.
Để mở rộng đường “săn hiền, đón sĩ”, ngoài các khoa thi Chính đồ và Hoa văn đã có từ thời Thần Tôn, Dũng Quốc công còn đặt thêm khoa thi Thám phỏng hỏi về tình trạng binh, dân và việc Lê Trịnh[34].
Vói ý chí thiết thạch và tài trị quốc, Dũng Quốc công còn được phò tá bởi một đám bề tôi tạn trung hầu hết là hạng “lương đống, can thành”[35], đáng kể nhất trong số như Chiêu Võ hầu Nguyễn Hữu Dật - từng được triệu bổ văn chức từ năm mới mười sáu tuổi, dưới thời Hy Tôn, và Quận công Nguyễn Hữu Tiến - vốn là Cai đội dưới thời Hy Tôn, cả hai có công đánh bại Trịnh quân nhiều phen, xây đắp lũy Trấn Ninh, Sa Phụ và được người đương thời xưng tụng là hai “hổ tướng”. Về hai bậc công thần này, sử văn có đoạn ghi chép, theo đó, vào năm Thịnh Đức thứ ba (1655), Trịnh Đào[36] sai Phạm Tất Đồng đem quân vượt sông Gianh để xâm lấn Nam Bố Chính. Dũng Quốc công quyết định đem quân đánh đuổi. Trong khi Chúa đang còn phân vân chưa biết nhân tài nào đáng chọn để giao phó việc quân thì một đêm, Chúa nằm mộng, thấy thần nhân trao cho một bài thơ:
Tiên kết nhân tâm thuận,
Hậu thi đức hóa chiêu.
Chi diệp kham tồi lạc,
Căn bản dã nan diêu.
Có nghĩa là:
“Trước đoàn kết lòng người cho hòa thuận, sau thi thố đức hóa cho rõ ràng. Cành lá có khi gãy rụng, nhưng gốc rễ khó thể chuyển lay.”
Lúc tỉnh dậy, Chúa nghiệm thấy bài thơ có hai chữ Thuận và Chiêu ứng với tên Thuận Nghĩa (Thuận Nghĩa hầu Nguyễn Hữu Tiến) và tên Chiêu Võ (Chiêu Võ hầu Nguyễn Hữu Dật), nên từ đó mọi cơ mưu về quân sự, Chúa đều đem bàn cùng hai người ấy[37]. Ngoài hai hổ tướng này, còn phải kể đến Chưởng dinh Nguyễn Cửu Kiều, từng phá được thủy binh họ Trịnh tại cửa bể Đan Nhai, có công triệu phủ các hạt Kỳ Anh, Thạch Hà, được quân, dân theo rất đông đảo[38]; Chương phủ trấn Nguyễn Dương Hưu có công đánh dẹp Chân Lạp; Chưởng cơ Nguyễn Đức Bảo, trấn thủ Quảng Nam, từng được Dũng Quốc công, hạ tỉ thư khen ngợi về cái đức thân dân, đồng thời ban thưởng cho kiệu đen, ấn đồng[39]. Và nhất là Chưởng cơ Nguyễn Phước Hiệp, công tử thứ tư của Dũng Quốc công, mới hai mươi hai tuổi đã lãnh mệnh Nguyên soái, đóng quân ở Cư Hà, chống cự anh dũng quân Trịnh xâm lăng, chiếm phần toàn thắng[40].
Chính vì những yếu tố trên đây mà về thời Dũng Quốc công, sử văn đã ghi nhận được rất nhiều thắng lợi của họ Nguyễn trong cuộc Nam Bắc phân tranh cũng như về mặt nới rộng bờ cõi, bành trước thế lực xa dần về Nam.
Năm Ất Vỵ[41] (1655) - sau bảy mươi năm hưu chiến nhân cớ Trịnh quân xâm lấn Nam Bố Chính, Dũng Quốc công liền từ thế thủ xưa nay, đột khởi thế công. Tiết chế Nguyễn Hữu Tiến và Đốc chiến Nguyễn Hữu Dật, một phen vượt sông Linh Giang, với cái khí thế đạp thành nhổ núi của đoàn quân Bắc phạt, đã thực hiện được cái chí “thành liền mong tiến bệ rồng”. Cả bảy huyện ở Nghệ An, nằm về phía nam sông Cả, lọt trọn vào tay chúa Nguyễn[42]. Mặc dù về sau, vì sự bất hòa giữa các tướng Nguyễn, Trịnh Cán[43] lại có cơ giành được ưu thế, thắng được nhiều trận, thu hồi bảy huyện nhưng cũng bắt đầu từ đấy, quân Trịnh phải lần lượt rước hết thảm bại này đến thảm bại khác, qua các cuộc Nam phạt do Trịnh Tạc[44] chỉ huy. Với cuộc Nam phạt vào năm 1661, Trịnh Tạc và vua Lê Thần Tôn, vì cái mưu cố thủ thành trì của Nguyễn Hữu Dật nhằm kéo dài ngày tháng để đánh úp một đêm bất ngờ, đã phải đại bại, kéo vội tàn quân sang sông, ôm hận quay về phương Bắc.[45]
Nhưng vẻ vang và quan trọng hơn nữa là chiến thắng năm Nhâm Tý (1672). Cũng như Trịnh Tráng trong cuộc chinh phạt năm Mậu Tý (1648) trước kia. Trịnh Tạc và vua Lê Gia Tông lần này, khi vượt qua Linh Giang, vây bức được lũy Trấn Ninh, lấp bằng được hào rãnh, những tưởng đã nắm chắc phần thắng trong tay, diệt trừ được họ Nguyễn, nhưng rồi, với cái tài điều khiển và hiệu lệnh nghiêm minh của Nguyên súy Nguyễn Phước Hiệp cũng như tinh thần quyết chiến, quyết thắng của tướng tá, binh sĩ, quân Trịnh lại thêm một lần đại bại, Trịnh Tạc và vua Lê Gia Tông đành phải rút lui[46]. Khói lửa của cuộc Nam Bắc phân tranh được dập tắt kể từ ngày ấy, và được thay thế bởi một cuộc hưu chiến kéo dài trên trăm năm, tạo thêm rất nhiều lợi thế cho sự củng cố, phát triển đại nghiệp của dòng họ Nguyễn Phước ở phương Nam.
Kim Long lại được khoác áo hoa gấm, mở hội liên hoan để đón tiếp đoàn quân chiến thắng. Dũng Quốc công còn muốn đi xa hơn trong việc chào mừng một thắng lợi đưa tới cho đại nghiệp vận hội long hưng. Quang cảnh khải hoàn, vì thế, càng tưng bừng, long trọng hơn mọi lần trước, với lễ tế Trời Đất và lễ Hiến phù[47] tại Từ đường. Đồng thời các lò ở xóm Phường Đúc, theo lệnh Nguyễn phủ, hoạt động rộn rịp ngày đêm. Bao nhiêu tay thợ lành nghề từng được học hỏi, trau luyện thuật đúc súng với người xứ Bồ, đều được huy động để trổ tài nghệ trong một công tác đặc biệt nhằm kỷ niệm ngày chiến thắng: những chiếc vạc đồng to lớn, tượng trưng cho sự uy quyền và sự bền vững của đại nghiệp họ Nguyễn bắt đầu xuất hiện kể từ ngày ấy.[48]
Không những chận đứng được tham vọng xâm tính của họ Trịnh ở mặt Bắc. Nguyễn phủ, dưới thời Dũng Quốc công, còn gây được ảnh hưởng, thế lực sâu rộng trên lĩnh thổ Chiêm Thành, Chân Lạp.
Về phía Chân Lạp, ngay những lưu dân Việt Nam, sống xen lẫn với dân Miên, mở mang đất ruộng, tại những vùng xa xôi như hai xứ Moi Xui (tức huyện Phúc Chánh, tỉnh Biên Hòa sau này) và Don Nai (tức Biên Hòa) ở địa đầu Gia Định, cũng được thổ dân kiêng nể, không dám tranh trở, nhường lánh đi nơi khác vì sợ oai đức của Triều đình.[49] Vùng Gia Định ao chuôm, rừng rú được bắt đầu khai thác, với sự xây cất đồn, dinh tại chợ Điều Khiển hiện nay, đặt dinh Phiên Trấn ở gần ấp Tân Thuận, cho dân được trưng chiếm đất dư chung quanh để lập làng mạc, chợ, phố.[50]
Về phía Chiêm Thành, bờ cõi được nới rộng trên lĩnh thổ xứ này với sự thành lập dinh Thái Khang và phủ Diên Khánh (tức Khánh Hòa) vào năm 1653. Sau khi đàn áp được vụ quật khởi của vua Bà Thấm.[51] Công việc duyệt tuyển hai phủ Diên Ninh và Thái Khương bắt đầu vào năm Cảnh Trị thứ bảy (1669). Bọn văn thần Hồ Quang Đại được Chúa giao phó công việc bao đạc những ruộng đất thực sự cày cấy của các xã dân, định làm ba bậc, lại chia các ruộng mùa thu cùng thổ khô thành nhiều hạng để lấy lúa tô. Ruộng khẩn ngày càng gia tăng nhiều nên Chúa cho đặt Ty Nông lại để trông coi thuế khóa[52].
Tinh hình Đàng Trong thuở đó, theo sử văn ghi chép thì: “... Trong cõi vô sự, thóc lúa được mùa. Chúa lo sửa sang chính trị, không xây đài tạ, không gần thanh sắc, giảm nhẹ sưu dịch, thuế má. Trăm họ vui vẻ, đều khen là đời thái bình.”[53]
Trong cái thế hưng thịnh của họ Nguyễn, dưới thời Dũng Quốc công, Thiên Mụ tự, lẽ tất nhiên không những chỉ được chứng kiến mà còn được chia sẻ cái vinh dự thăng hoa.
Với cảnh phồn vinh của Kim Long và ảnh hưởng Phật giáo về thời đó, Thiên Mụ tự phải là một cửa Thiền quan rạng tỏa bóng xuân. Đèn sáp, hương khoanh, các đồ tự khí bằng đồng do các thương thuyền Trung Quốc du nhập và qua sự cúng dường của khách thập phương đông đảo, càng làm tôn trưởng thêm vẻ trang nghiêm, tráng lệ của nơi cung Thiền, Phật tọa.
Nhưng cũng chính vì cái cơ duyên phát triển này của mây lành, mưa pháp, mà Thiên Mụ tự, xét về cơ cấu và lối kiến trúc đơn giản lúc đầu, quả không xứng đáng chút nào với cái phong thể ngày càng trọng vọng của một đệ nhất danh lam, nhất là sau trên nửa thế kỷ phải chịu đựng sự thử thách của phong sương, tuế nguyệt.
Người lưu ý đến điểm này trước nhất phải là Dũng Quốc công, vị chân chủ đã có sẵn lòng sùng mộ Đạo pháp, lại từng thoát vượt được cạm bẫy của lòng mê dục, tránh khỏi cái họa nghiêng đổ cơ đồ, giềng mối. Có thể những lúc nghĩ đến sự may mắn lớn lao này của đại nghiệp, Dũng Quốc công phải liên tưởng tới mối liên hệ huyền nhiệm kỳ bí giữa dòng họ mình với câu chuyện“trích tiên” và “long mạch” ở gò Hà Khê. Cho nên, chính dưới thời của Chúa, cùng vào một năm mà tại Bình Định, ngôi chùa Thập Tháp (Amitâbha) được xây cất tại phủ Quy Ninh do ý nguyện của một nhà sư Trung Quốc, Tạ Nguyên Thiều, đồ đệ của Khoáng Viên hòa thượng, từ Quảng Đông vượt bể qua Đại Việt, mở đường giác lộ[54], thì ở Kim Long, công tác tu trúc Thiên Mụ tự được khởi công vào tháng Bảy, năm thứ mười bảy đời Hiền Vương, tức năm 1665.[55]
Dự hưởng sự hưng thịnh của đại nghiệp họ Nguyễn dưới thời Dũng Quốc công, Thiên Mụ tự, với cái quy mô lớn lao hơn trước cùng vẻ lộng lẫy vàng son do công trình tu trúc lần này mang lại, càng được tôn trưởng thêm bề thế, phong độ để càng lưu ý khách thập phương nhiều hơn trước về cái kỳ tích phát nguyên đã dành cho nó sự đãi ngộ hậu hĩ của dòng họ chúa Nguyễn, qua cái huyền thoại:
Trích tiên chuyện cũ truyền Thiên Mụ,
Hồn mộng mơ màng trở lại đây.[56]
Và, cũng từ ngày ấy, cơ duyên phát triển của ngôi cổ tự ngày thêm tăng tiến, theo với cái đà hưng khởi của họ Nguyễn, để sau non nửa thế kỷ, càng trở nên huy hoàng lộng lẫy hơn, với công trình bồi đắp của Minh Vương Nguyễn Phước Châu, tức Hiền Tôn Hiếu Minh Hoàng đế.
❀ ❀ ❀
[1] Phân tiêu: Phân chia, tiêu thụ.
[2] Việt Nam Pháp thuộc sử (1862-1945) của Gs. Phan Khoang (người Âu châu đến buôn bán ở V.N.), tr.13. (TG)
[3] Mã đầu (Hán Việt): Bến sông, bến cảng.
[4] Y phục của người Việt qua các thời đại của Thái Văn Kiểm, tạp chí Đại học số 38, tháng Tư năm 1964, tr.244. (TG)
[5] Vũ biên tạp lục (quyển VI) của Lê Quý Đôn, mục Sản vật Phong tục (trích dẫn trong “Làng Minh Hương và thành phố Thanh Hà thuộc tỉnh Thừa Thiên”). (TG)
[6] Vũ biên tạp lục (quyển VI) của Lê Quý Đôn, mục Sản vật Phong tục (trích dẫn trong “Làng Minh Hương và thành phố Thanh Hà thuộc tỉnh Thừa Thiên”). (TG)
[7] Vũ biên tạp lục (quyển VI) của Lê Quý Đôn, mục Sản vật Phong tục (trích dẫn trong “Làng Minh Hương và thành phố Thanh Hà thuộc tỉnh Thừa Thiên”). (TG)
[8] Xảo tứ: Sáng ý.
[9] Toàn chiết binh chế khảo của Hầu Kế Cao (quyển II, phụ lục) Cận báo oai kính (Trích dẫn trong “Làng Minh Hương và thành phố Thanh Hà thuộc tỉnh Thừa Thiên”).
[10] Tức Chúa Hiền Nguyễn Phước Tần.
[11] Vũ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (Bản điều tra về công nghệ) trích dẫn trong “Y phục của người Việt qua các thời đại” của Thái Văn Kiểm. (TG)
[12] Vũ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (Bản hiểu thị của Nha môn quân Trịnh, tháng 7 Giáp Ngọ (1774)), trích dẫn trong “Y phục của người Việt qua các thời đại”). (TG)
[13] Vũ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (Bản hiểu thị của Nha môn quân Trịnh, tháng 7 Giáp Ngọ (1774)), trích dẫn trong “Y phục của người Việt qua các thời đại”). (TG)
[14] Vũ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (Bản hiểu thị của Nha môn quân Trịnh, tháng 7 Giáp Ngọ (1774)), trích dẫn trong “Y phục của người Việt qua các thời đại”). (TG)
[15] Vũ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (Bản hiểu thị của Nha môn quân Trịnh, tháng 7 Giáp Ngọ (1774)), trích dẫn trong “Y phục của người Việt qua các thời đại”). (TG)
[16] Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán (trích trong bài thứ 19 trong số 27 bài thơ “Khách trung khiển hứng”), tr.69. (TG)
[17] Tức Thiền sư Trung Quốc Thạch Liêm, nâm 1695, theo lời mời của chúa Nguyễn Phước Châu mà qua xứ Đàng Trong. Đến năm 1698 mới theo thuyền về lại Quảng Đông.
[18] Cai bạ tàu: Chức quan ngũ phẩm triều Nguyễn, thuộc Ty Tào vụ (ty quản lý tàu bè xuất nhập cảng).
[19] Vũ biên tạp lục, quyển VI, Lê Quý Đôn (Bản điều tra về công nghệ), trích dẫn trong “Y phục của người Việt qua các thời đại” cúa Thái Văn Kiểm. (TG)
[20] Làng Minh Hương và phố Thanh Hà thuộc tỉnh Thừa Thiên, Gs. Trần Kinh Hòa (Công việc dinh thương, thể lệ nạp thuế và các công vụ phải thừa hành của Thanh Hà phố), tạp chí Đại học, số 21, tháng 7, 1961, tr.107.
[21] Yến diên (Hán Việt): Tiệc tùng.
[22] Chỗ đất hiểm yếu (Long bàn, hổ cứ). (TG)
[23] Oai Mục Đế, Tương Dực Đế: Oai Mục Đế là vua thứ 7 nhà Hậu Lê (còn gọi là Lê Uy Mục), nổi tiếng tàn bạo, hoang dâm, tục gọi là Quỷ Vương, sau bị phế, uống thuốc độc tự sát, xác bị nhét vào súng thần công bắn cho tan nát. Tương Dực Đế là vua thứ 9 nhà Hậu Lê (còn gọi là Lê Tương Dực), trước chăm việc nước, sau bỏ bê mà mê xa hoa nên cuối cùng cũng bị phế và giết, xác bị đem thiêu.
[24] Đây nói Ngô Vương Phù Sai bên Trung Quốc chứ không phải vua Ngô Quyền nước ta.
[25] Liệt truyện tiền biên, quyển IV, 3a. Thực lục tiền biên, quyển IV, 4a (Trích dẫn trong Les Européens qui ont vu le Vieux Hué: le P. de Rhodes). B.A.V.H. 1922, p.231-249. (TG)
[26] “Nom triều Nguyễn Chúa khai Quốc công nghiệp diễn chí tân soạn” của Nguyễn Khoa Chiêm (Trích dẫn trong Việt sử: xứ Đàng Trong) của Gs. Phan Khoang.
[27] “Thực lục tiền biên - Nam triều Nguyễn chúa khai quốc công nghiệp” (Trích dẫn trong Việt sử: xứ Đàng Trong).
[28] Đ.N.N.T.C.. tỉnh Quảng Bình, mục Cổ tích: dinh cũ Võ Xá, tr,143. (TG)
[29] Việt sử: xứ Đàng Trong của Gs. Phan Khoang (Thái tôn Nguyễn Phước Tần (1648-1687)). (TG)
[30] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập thượng), mục Tân độ: Bến đò Thanh Phước, tr.107 - Việt Sử: xứ Đàng Trong: Thái tôn Nguyễn Phước Tần. (TG)
[31] Việt sử: xứ Đàng Trong của Gs. Phan Khoang (Thái tôn Nguyễn Phước Tần (1648-1687)). (TG)
[32] Le Việt Nam: Histoire et civilisation par Lê Thành Khôi (Sécession du Nord et du Sud: les Nguyễn au gouvernement du Thuận Quảng), p.244-251. (TG)
[33] Nhặm lẹ: Mau lẹ, nhanh nhẹn.
[34] Việt sử: xứ Đàng Trong của Gs. Phan Khoang (Thái tôn Nguyễn Phước Tần (1648-1687)). (TG)
[35] Lương đống, can thành: chỉ hạng có tài năng giúp việc quốc gia, cần thiết cho nước nhà như rường nhà (lương), như đòn nóc (đống), và hạng tướng gánh giữ được việc nước vững vàng như cái mộc đỡ binh (can), cái thành chống giặc (thành). (TG)
[36] Trịnh Đào: Tướng nhà Lê-Trịnh.
[37] “Nam triều Nguyễn chúa khai quốc công nghiệp diễn chí tân soạn” của Nguyễn Khoa Chiêm (trích dẫn trong Việt sử: xứ Đàng Trong). (TG)
[38] Đ.N.N.T.C.. - Tỉnh Thanh Hóa (tập hạ), mục Nhân vật bản triều: Nguyễn Cửu Kiều, tr.128. (TG)
[39] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập trung), mục Nhân vật bản triều: Nguyễn Đức Bảo, tr.36. (TG)
[40] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập thượng), mục Nhân vật bản triều: Tôn Thất Hiệp, tr.18. (TG)
[41] Năm Vỵ: Tức năm Mùi.
[42] Việt Nam sử lược của Lệ Thần Trần Trọng Kim (Sự chiến tranh: đánh nhau lần thứ năm) tr.298, 299 - Tân Việt xuất bản. Bảy huyện là: Kỳ Hoa, Thạch Hà, Thiên Lộc, Nghi Xuân, La Sơn, Hương Sơn và Thanh Chương. (TG)
[43] Trịnh Cán: chúa thứ 10 nhà Trịnh, con của Trịnh Sâm. Tuy nhiên chỗ này phải là Trịnh Căn (chúa đời thứ 4 nhà Trịnh, con của Trịnh Tạc) mới đúng. Sự kiện này xảy ra năm 1660, Trịnh Căn khi ấy chưa lên ngôi chúa, nhân biết Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Hữu Tiến bất hòa nên mang quân tiến đánh chiếm lại 7 huyện Nghệ An.
[44] Trịnh Tạc: Chúa đời thứ 3 nhà Trịnh, con của Trịnh Tráng.
[45] Le Việt Nam: Histoire et civilisation par Lê Thành Khôi (Sécession du Nord et du Sud: les Nguyễn au gouvernement du Thuận Quảng). (TG)
[46] Việt Nam sử lược: Lệ Thần Trần Trọng Kim (Sự chiến tranh: đánh nhau lần thứ bảy), tr.303, 304. (TG)
[47] Tướng trước khi ra trận thì được giao binh phù để điều binh, sau khi thắng trận về thì trả lại phù. Lễ Hiến phù là trả lại binh phù đồng thời làm lễ dâng tù binh trước triều đình, thái miếu.
[48] Le Việt Nam: Histoire et civilisation par Lê Thành Khôi (L’Art au XVIIème et XVIIIème siècle), p.283. (TG)
[49] Gia Định thông chí, cương vực chí, mục Phiên An trấn (trích dẫn trong phần chú thích “Thành trì chí của Trịnh Hoài Đức”, Gs. Trần Kinh Hòa, Tạp chí Đ.H. số 24, tháng 12, 1961, tr.54. (TG)
[50] Thành trì chí của Trịnh Hoài Đức, Gs. Trần Kinh Hòa dịch thuật (Gia Định thông chí, thành trì chí chú thích) tạp chí Đại học sổ 24, tháng 12, 1961, tr.36. (TG)
[51] Le V.N. Histoire et civilisation par Lê Thành Khôi (La Poussée vers le Sud), p.265. (TG)
[52] Việt sử: xứ Đàng Trong, Gs. Phan Khoang (Thái tôn Nguyễn Phước Tần (1648-1687)). (TG)
[53] Thực lục tiền biên (Trích dẫn trong Việt sử: xứ Đàng Trong). (TG)
[54] Đại Nam Liệt truyện tiền biên quyển VI (trích dẫn trong phần khảo cứu của Gs. Trần Kinh Hòa về quyển Hải ngoại kỷ sự, III: Cuộc du hành Quảng Nam của Thích Đại Sán), tr.257. (TG)
[55] Đại Nam thực lục tiền biên (trích dẫn trong La Pagode Thiên Mẫu: Historique, B.A.V.H. 1915, p.251-286). (TG)
[56] Trích trong bài thơ vịnh chùa Thiên Mụ của Thích Đại Sán, Hải ngoại kỷ sự, quyển III, tr.200. (TG)