Kim Long chiếm giữ địa vị một thủ phủ, tính ra trước sau có tới nửa thế kỷ, từ năm 1636 cho đến năm 1687.
Cái vinh dự này đã tới lúc phải được nhường lại cho nơi khác.
Tháng Ba năm Chính Hòa thứ tám (1687), Dũng Quốc công ngọa bệnh. Vào ngày Đinh Dậu, nghiệm biết là đã sắp đến giờ phút quay đầu về núi, Chúa bèn cho triệu công tử thứ hai là Hoàng Ân hầu Nguyễn Phước Trăn, ân cần phán bảo:
- Bình sinh, ta vì đại nghiệp không ngại xông pha ra vào những nơi gian hiểm để bảo toàn xã tắc, sơn hà. Con nối ngôi ta, phải nối chí ta, phải lấy nghĩa làm chèo lái, lấy nhân làm yên khấu để nắm vững mối giềng, giữ an bờ cõi. Hầu hết các quan văn võ đều do ta trạch dụng cần được con hết lòng tin dùng để chăm lo chính sự, tuyệt đối không được cho bọn tiểu nhân lẻn vào.[1]
Triều thần, vì nặng tình với Chúa, tâu xúi được cầu chết thay bằng cách nạp sách trong hòm kim đằng[2] nhu Chu Công xưa từng làm tờ sách cầu xin chết thay cho Võ Vương, nhưng Chúa mỉm cười, từ khước:
- Các khanh quá yêu ta, nhưng làm sao mà cải được mệnh trời khi số ta đã đến.
Nói xong nhìn khắp mọi người, ra dấu giã từ rồi nhắm mắt ngon giấc thiên thu. Dũng Quốc công thọ sáu mươi tám tuổi và trị vì ba mươi chín năm ở ngôi chân chủ.
Đại nghiệp của họ Nguyễn, kể từ ngày Tiên Chúa bắt đầu “chinh phục hoang vu, ác địa, đuổi hùm voi để giành chỗ ở” cho đến cuối đời Hiền Vương Nguyễn Phước Tần (1648-1687) đã trải qua trên một thế kỷ hưng phát không ngừng. Thủ phủ, lẽ tự nhiên, với tầm quan trọng và cái bề thế ngày càng lớn lao của nó phải cần đến một địa điểm tọa lạc hội đủ hơn Kim Long những điều kiện, yếu tố phải có của một thượng đô xét về địa thế cũng như về phong thủy, cảnh trí.
Có thể chúa Nguyễn Phước Trăn hay Nghĩa Vương, tục gọi là Chúa Ngãi, ngay khi còn là Thế tử, đã lưu ý nhiều về điểm này. Từ tả ngạn sông Kim Long thuở đó, cái nhìn của Chúa đã hướng về vùng Phú Xuân ở phía đông, nơi mà các nhà địa lý thời danh, từng được ra vào vương phủ, không ngớt lời ca tụng về cái đặc tính “giai thắng” của địa thế.
Nghĩa Vương lên ngôi, thủ phủ liền được thiên di qua làng Phú Xuân vào tháng Bảy năm Đinh Mão tức năm 1687.[3]
Kim Long, với sự thoái nhượng này, đã được đền bù lại bằng một vinh dự khác: trị sở cũ biến thành nơi thờ phụng Thái Tôn Hiếu Triết Hoàng đế, vị chân chủ đã từng đem lại cho nó một thời oanh liệt, vàng son.[4]
Từ tả ngạn sông Kim Long dời qua phía hữu ngạn, tọa lạc ở vùng Phú Xuân, trên tả ngạn Hương Giang, trị sở mới của chúa Nguyễn đã nằm vào cái vị trí lý tưởng của Kinh sư sau này. Với vị trí mới, thủ phủ của chúa Nguyễn được coi như đã tiếp thu tất cả những cái lợi của yếu tố phong thủy mà núi sông nơi này có thể cung hiến, đáng kể trước nhất là sông Hương Giang và núi Bằng Sơn.
Ngay từ thuở ấy, ngọn núi Bằng Sơn - được đổi tên là Ngự Bình từ thời Gia Long - đã được chọn làm án trước. Với hình thế bằng phẳng, vuông vức, đột khởi ở phương Nam về phía tây bắc huyện Hương Thủy, giữa hai núi đất ở hai bên: Tả Bật Sơn và Hữu Bật Sơn[5], Bằng Sơn là một ngọn núi từng được các nhà phong thủy coi như là một thứ “bảo chướng nguy nga” đem lại cho thủ phủ của các chúa Nguyễn ở thời khai quốc, cũng như cho Đế thành của các vua Nguyễn vào thời Trung Hưng, cái hiểm yếu không kém gì sự hiểm yếu của đất nước Tần bên Trung Quốc, cái thế hiểm yếu có thể giúp cho hai vạn quân của Thiên tử địch lại một trăm vạn quân của chư hầu. Đặc tính “bách nhị” này đã được chính vua Thiệu Trị, tức Hiến Tổ Chương Hoàng đế, một phen xa giá quang lâm, và trước cảnh múa dâng ngự tửu, tung hô vạn tuế ba lần của đám quân tiên xu, đã nhắc đến với một niềm tin trọn vẹn, qua mấy vần thơ sau đây, trong bài “Bình lãnh đăng cao”:
... Thừa ân vũ trụ thiên niên tại
Túng lãm kiền khôn vạn cảnh hàm
“Bách nhị” sơn hà tăng tráng cố,
Vân khai thụy khí ái tình lam.
... Thừa ân huệ ngàn năm vũ trụ còn lâu dài,
Cuộc du lãm thấy bao hàm cả kiền khôn muôn cảnh.
“Hai phần trăm” núi sông thêm bền vững,
Mây dăng khí tốt trên dặng núi tình minh.[6]
Cùng với cái thế bảo vệ của núi, hay của ngọn Bằng Sơn, còn có cái thế hộ vệ của sông. Và sông là dòng sông Hương hay dòng sông Thơm. Mà thơm là vì:
... Cỏ thơm có giống thạch xương bồ,
Sanh ở hai nguồn Tả, Hữu hạch,
Hơi thơm dầm nước, nước trong veo,
Hợp thành sông Thơm chảy róc rách...
VÂN BÌNH TÔN THẤT LƯƠNG
(Hương Giang hành)
Cũng chính với vị trí mới của thủ phủ họ Nguyễn, sông Thơm hay Hương Giang, núi Bằng Sơn hay Ngự Bình càng gặp được cái thế thuận lợi để chứng tỏ tất cả sự đắc lực trong nhiệm vụ hộ vệ Đế thành.
Từ cao mà phóng xuống một cái nhìn bao quát để thâu tóm cả muôn sải quanh co, rộng hẹp của dòng sông, cặp mắt đế vương hẳn phải nhìn nhận Hương Giang - dòng tú thủy được chọn để chầu hầu kinh khuyết - quả đã có đủ tác phong, cung cách phù hợp với sự đòi hỏi của triều nghi.
Thực vậy, ở ngay cái khởi điểm hình thành là ngã ba sông Bằng Lãng, dòng sông Hương uyển chuyển uốn mình quanh co giữa ruộng vườn, gò bãi của bao nhiêu lục dã, hoa thôn, qua lăng Cơ Thánh, đổ theo phía đông Hương Uyển sơn tức núi Ngọc Trản, tiến lần đến ngã ba sông Long Hồ để chuyển qua Lợi Tế kiều hay cầu Bạch Hồ. Và, đến đây, như một cung nữ đã thành thuộc triều nghi, Hương Giang dừng lại giây phút, chỉnh túc nghi dung, y thường, để kính cẩn tiến qua trên bốn dặm dài trước mặt Kinh thành, với cái dáng khiêm cung, khép nép của những gót chân hoa phi tần rón rén bên cạnh long sàng. Qua khỏi quãng lộ trình nghiêm cẩn ấy, dòng sông liền chuyển hướng về phía Tam giang khẩu Gia Hội, đổ xuống Bao Vinh, Triều Sơn, Thanh Phước, vượt cửa tấn[7] Thuận An để ngả mình vào lòng Bể Cả[8].
Hiền dịu, từ tốn, thầm lặng, khiêm cung, đó là những đức tính mà Kinh Khuyết đòi hỏi ở một dòng sông hộ vệ Đế thành. Để rút được những kinh nghiệm này, Hương Giang đã phải trả một cái giá khá đắt. Một cánh tay ngà ngọc của nó: dòng sông Kim Long - xưa kia chảy từ chợ Kim Long đến chợ Kẻ Vạn, băng ngang vùng thành nội, đổ ra phía đông theo ngả Đông Thành thủy quan hiện nay[9] - vốn rất trung thành, hăng hái trong nhiệm vụ hộ vệ thủ phủ về mặt Bắc vào lúc Nghĩa Vương dời trị sở về đất Phú Xuân, nghe đâu đã bị yểm trừ bởi chính Nghĩa Vương, lại bị chặt rụng dưới thời Thế Tổ Cao Hoàng đế, chỉ vì nó không biết khéo uốn mình theo khuôn phép, còn muốn giữ nguyên cái phong độ hiên ngang, man rợ, phóng túng của khe, thác và đã dám sỗ sàng xâm nhập vào gần nơi cung cấm.[10]
Bài học quý giá về cung cách phục vụ uy quyền phong kiến này, Hương Giang đã lĩnh hội thấu đáo và nhờ đó, nó càng ý thức rõ được tính cách vừa quan trọng, vừa khiêm nhường của vai trò nó đảm nhận. Đế thành không đòi hỏi ở nó cái ồn ào, hùng tráng, mênh mông. Phận sự của nó là túc trực ở đấy, đem cái duyên dáng của một dòng lệ thủy dịu hiền để hòa hợp các thức đẹp thiên nhiên với những công trình nhân tạo của nghiệp vương, nghiệp bá: cung điện, lăng tẩm, thành quách, đền đài, nhằm điểm chuyết thêm vẻ trang nghiêm, thơ mộng cho nơi kinh khuyết. Hương Giang đã đáp ứng đúng các yêu cầu này, đã làm vui đẹp lòng rồng, và vì thế đã được nhìn nhận là “nhất phái uyên nguyên hộ đế thành”[11], được chạm hình ảnh vào “nhân đỉnh”[12], đăng trật vào Tự điển[13] công trạng ngang hàng với ngọn Bằng Sơn án ngữ ở phương Nam. Cho nên, muốn thấy cái đẹp của dòng sông Hương thì phải nhìn nó bằng cái nhìn của bậc đế vương từ trên ngôi cửu ngũ nhìn xuống, hay bằng cái nhìn của hạng tao nhân mặc khách chỉ thích những nét thanh tú thơ mộng, hiền hòa, những vẻ êm đềm, trầm lặng. Trái lại, với cái nhìn của khách hải hồ từng quen ngắm cái dài thăm thẳm, rộng mênh mông của trường giang, quen nhìn cái cảnh “Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai” hay cái sức tuôn đổ ngang tàng của nước thác dưới ngọn bút danh họa của Vương Duy thì Hương Giang sẽ chỉ là một lạch nước hẹp hòi, nhỏ mọn.
Phụ lực vào cái thế hộ vệ của núi sông trên đây, các cồn Thanh Long ở đông bắc, Bạch Hổ ở tây nam, Giang Hến và Dã Viên còn góp thêm phần hiệu năng tốt lành về mặt phong thủy.
Chính trên dải đất nằm giữa sông Hương - ở phía nam - và sông Kim Long - ở phía bắc, ngay về phía đông nam kinh thành hiện nay, đường sá được mở ra, viên tường, cung thất được xây cất, ao lớn được đào, nhà cửa mọc lên san sát, nghi vệ và cái không khí thuần nhã, văn vật - nhen nhúm từ Kim Long - được chuyển về triển khai ở Phú Xuân, làm tăng thêm ảnh hưởng của nền giáo hóa thiện hạnh.
Tuy nhiên, các công tác kiến trúc cung thất, phủ đệ, cũng như công cuộc tu trúc phủ cũ ở gò Dương Xuân, Văn Miếu ở làng Triệu Sơn[14] dưới thời này, vẫn còn giữ theo tinh thần kiệm ước, chừng mực của thời Thái Tôn.
Nội vi của vương phủ rộng chừng một hai dặm, chung quanh có vòng tường thấp. Ngoài vòng tường có hàng rào tre gai. Bên ngoài hàng rào là một dãy trại súng, gồm nhiều trại lợp bằng tranh, “mỗi trại đều có đặt súng đồng, nặng từ vài trăm cân đến vài nghìn cân, đúc rất tinh xảo, khảm châu sa, phỉ túy, văn vẻ sáng ngời”[15]. Phía ngoài các trại súng lại có lũy tre bao bọc.
Thủ phủ được dời về Phú Xuân giữa cảnh phong điều, vũ thuận. Nối ngôi chân chủ vào năm Đinh Mão, Anh Tôn Hiếu Nghĩa Hoàng đế Nguyễn Phước Trăn (1687-1691)[16] được thừa hưởng một di sản sung thiệm, tráng quan biểu hiện cả cái thế long hưng của đại nghiệp xét về mọi mặt.
Ở phương Bắc, hiểm họa xâm tính của quân Đông kinh không còn là mối đe dọa trầm trọng như xưa. Về phương Nam, Chiêm Thành, sau cuộc quật khởi thất bại của vua Bà Thấm vào năm 1653, và sự thành lập dinh Thái Khang cùng phủ Diên Khánh dưới thời Thái Tôn, đã chịu khép mình trong cái thế thần phục và giữ đúng lệ triều cống hàng năm. Về phần Chân Lạp, sau cuộc nổi loạn bất thành của Nặc Ông Thu vào năm Mậu Thìn (1688)[17] xứ này cũng đành yên phận một phiên bang, biết kính nể uy đức của Nguyễn phủ.
Phú Xuân, cũng như Kim Long trước đó, hàng năm kiêu hãnh tiếp nhận những số cống thuế quan trọng, do các đoàn sứ giả từ Chân Lạp, Chiêm Thành và các man thành kính kéo về tiến dâng. Chỉ riêng Chiêm Thành, số cống thuế đã gồm có tới hai thớt voi, một trăm trâu, một trăm bò, năm trăm cây vải, rất nhiều ngà tượng, gỗ mun cùng nhiều thứ danh mộc khác[18]. Vua xứ Chân Lạp, Nặc Ông Thu, năm 1690, chỉ trong vòng hai tháng, đã tiến cống một số voi có trên ba chục thớt[19]. Các man thì có ngà tượng, sừng tê, mây song, kỳ nam hương, sáp ong, mật ong, khổng tước vv...
Dưới thời Nghĩa Vương cũng như Minh Vương, công việc binh bị, về mặt tổ chức cũng như thao luyện, tập dượt càng hoàn bị, chu đáo và nghiêm nhặt hơn trước bội phần.
Để có đủ quân số cần thiết, mỗi gia đình bách tính, có con trai được mười tám tuổi, phải đưa một người. Nguyễn phủ tuyển chọn toàn những người khỏe mạnh. Tân binh phải trải qua ba năm tập luyện, hoặc về mặt thủy, hoặc về mặt bộ, và, sau đó, phải phục vụ cho tới lúc mái tóc điểm sương, tuổi đến lục tuần mới được giải ngũ. Trong thời gian tại ngũ, ngoài áo quần được cung cấp, vũ khí được trang bị, mỗi binh sĩ hàng tháng được lãnh một số bạc, gạo, cá, mắm đủ dùng.[20]
Dưới thời Minh Vương, chế độ bắt lính càng có phần gắt gao hơn nhiều. “Trong nước trăm thứ thợ đều do quân làm. Mỗi năm, vào khoảng tháng Ba, tháng Tư, quân nhân đi ra các làng, bắt dân từ mười sáu tuổi trở lên, những người thân thể cường tráng, đóng gông lại bằng một cái gông tre hình như cái thang nhưng hẹp hơn, để giải về phủ sung quân. Vào quân đội rồi, mỗi người chuyên học một nghề, kế phân phái đi theo các chiến thuyền để luyện tập; có chiến tranh đem ra đánh giặc, lúc vô sự ở theo vương phủ làm xâu, tuổi chưa được sáu mươi chẳng được về làng cùng cha mẹ, vợ con đoàn tụ; hàng năm thân thích đem áo quần, vật thực đến thăm mà thôi.”[21]
Ngay lúc thường, số sĩ tốt tinh nhuệ, có mặt dưới bóng cờ cũng đã lên tới bốn vạn. Ngoài số một vạn rưỡi quân sĩ túc trực thường xuyên với nhiệm vụ biên phòng ở mặt bắc, còn có một vạn được phân phối các dinh, chín nghìn dành cho vương phủ, sáu nghìn đặt dưới quyền sử dụng của Thế tử, các công tử[22] cùng các thượng quan. Ở vương phủ thời đó còn có hai đội kỵ binh gồm bốn trăm kỵ sĩ.[23] Vào những dịp thao diễn hay khánh tiết, y phục của binh sĩ trông rất đẹp đẽ, ngoạn mục. Mỗi đội có một màu sắc riêng hoặc đỏ, hoặc xanh hay vàng. Các đội cận vệ của Chúa và của Thế tử mặc toàn đồng phục bằng nhung, mang khí giới nạm vàng, nạm bạc vào những ngày đại lễ.[24]
Thủy quân cũng có một khí thế hùng dũng không kém, với những đội chiến thuyền rất hùng hậu và tinh nhuệ. Thuyền lớn và khá dài, mỗi bên có tới ba chục mái chèo mạ vàng rực rỡ, và được trang bị ba khẩu đại bác lớn ở đằng mũi, hai khẩu nhỏ ở hai bên.[25] Ngoài ra còn có hai cỗ trống lớn, một mõ gỗ lớn để gõ nhịp, bắc ngang trên bốn cọc nạng sơn son ở giữa khoang thuyền, vỏ thuyền sơn đen, lòng thuyền sơn đỏ, láng và bóng bẩy đến soi rõ mặt người. Binh sĩ thủy quân lúc thường mặc quần đùi bằng thao trắng, đội nón dấu chóp lông. Khi chiến đấu thì mặc áo bó sát thân mình, dài tới đầu gối và đội mão gỗ thếp vàng. Mỗi chiến thuyền có một sắc áo riêng cho quân sĩ. Ngoài sáu chục binh sĩ chèo thuyền - có súng hỏa mai, đoản đao và cung tên đặt sẵn dưới chân - còn có ba võ quan điều khiển, sáu lính pháo binh, hai lính báo hiệu. Trong lúc chèo, binh sĩ đứng thành hàng dài ở giữa thuyền và phải tuyệt đối giữ im lặng - trừ lúc nào có lệnh phải cất tiếng hò - phải lắng nghe tiếng mõ gõ nhịp, mắt phải chăm chú theo dõi hiệu lệnh phát ra từ chiếc gậy điều khiển của vị chỉ huy. Vì được tập luyện đêm ngày rất thuần thục, nên hiệu lệnh được tuân hành một cách đúng đắn, rập ràng, không một tơ hào đơn sai. Cả một đoàn chiến thuyền khi tiến, khi thối, lúc cạy qua tả, lúc bát qua hữu[26], phân tán, tập trung, phóng tên, nã súng, nhất nhất đều nhanh nhẹn, lẹ làng, với sức cướp gió, vượt sóng nhanh và khỏe như ngựa phi trên bộ, chim bay trên không[27] và một khí thế chiến đấu trông đến phải kinh hoàng, khiếp phục.
Chẳng những lục quân, thủy quân được chỉnh bị chu đáo, mà cả Tượng binh cũng được tăng cường hùng hậu hơn xưa, nhất là dưới thời Minh Vương.
Vì lẽ sức voi đã góp phần rất nhiều vào các chiến thắng vẻ vang của quân đội Nguyễn phủ, qua các trận truy kích Trịnh quân, chinh phạt Chiêm Thành, nên việc diễn tập tượng binh, săn dụ voi rừng được Quốc Chúa đặc biệt chú trọng.
Ở Phú Xuân, thuở đó, nhân dân thủ phủ, đêm về, thường quen với tiếng chuông báo hiệu cho khách hành nhân qua lại được biết để tránh xa đám voi cái kèm những thớt voi đực vừa dụ được ở rừng già đưa về.
Xưởng tượng của Chúa có rất nhiều voi lớn[28]. Những cuộc thao diễn tượng binh thường được tổ chức vào tháng Tư, dưới quyền chủ tọa của Quốc Chúa. Và đây là cả một ngày hội vui của nhân dân Thượng đô nhưng lại là một ngày dài nhất, chứa chất đầy lo âu, đe dọa, đối với đám võ quan, quân sĩ tượng binh và đám quản tượng.
Cảnh tượng hùng tráng, ngoạn mục của cuộc thao diễn tượng binh đã được Đại Sán Hán Ông, một lão tăng từ Trung Quốc qua Việt Nam, thể theo lời mời của Quốc Chúa, ghi nhận thành một bức tranh linh động, trong bài Thao tượng hành sau đây:
“Tháng Tư ngày dài buổi ban mai,
Nón hồng, mũi bạc tuốt sáng ngời.
Đứng trên lưng voi ba võ sĩ,
Tay cầm xà mâu dáng hùng oai.
Phía đông mười voi làm một đội,
Phía tây quân sĩ năm trăm người
Cờ trắng phất lên, quân sĩ tiến,
Hò reo đốt lửa, khói mù trời.
Cờ trắng hạ xuống, phất cờ xanh,
Nài cứ đầu voi búa chan chát.
Voi quật bù nhìn cuốn đem về,
Mau thì có thưởng, chậm bị phạt.
Bỗng chốc tập xong định hơn thua,
Xiết bao máu chảy, thịt da nát,
Xiết bao khó nhọc quy sa trường,
Lính bị roi đòn, quan bị cách.”[29]
Quân bị đã vững vàng, hùng hậu, mà công việc điều hành nên công vụ cũng được chú trọng đúng mức qua việc mở rộng phương thế tuyển chọn, trạch dụng nhân tài. Về việc thi cử, lúc đầu lệ thi Nhiêu học trong các kỳ duyệt tuyển lớn vẫn giữ y như trước. Nhưng bốn năm sau, lại tổ chức thi riêng, chẳng hạn như trong khoa thi mở vào năm Chính Hòa thứ mười sáu (1695), cùng với các danh mục trúng tuyển đã có từ trước như Chính đồ, Nhiêu học, Hoa văn, Thám phỏng, còn có thêm những danh mục trúng tuyển mới như Giám sinh, Sinh đồ. Cũng trong năm ấy, cùng với khoa thi ấy, Minh Vương còn cho mở khoa thi Văn chức và Tam ty tại sân vương phủ, gọi là thi Đình. Thi Văn chức nhằm tuyển người có văn học, còn thi Tam ty là để tuyển chọn viên chức phục vụ tại ba Ty: Xá Sai, Tương Thần Lại và Lệnh Sử.[30]
Nguyễn phủ, vào thời này, còn nhờ ở cảnh “phong điều, vũ thuận”, đạt tới một mức phong phú, sung thiệm hiếm có vì các lợi nguyên trong cõi.
Khắp các dinh, kho lẫm tràn đầy lúa thóc. Công cuộc khẩn hoang, dinh điền, di dân, lập ấp ngày càng phát triển. Các nguồn tài nguyên được khai thác hữu hiệu hơn xưa, nhất là vàng, bạc và sắt. Vàng ở núi Kim Sơn, thuộc tỉnh Thừa Thiên[31] và nhiều hơn là ở Trà Tế Sơn cùng các núi ở phủ Thăng Hoa (nay là Thăng Bình) thuộc Quảng Nam dinh, nơi mà, sau này, Ngoại tả Trương Phúc Loan được chiếm cứ để làm ngụ lộc[32]. Theo Lê Quý Đôn ghi chép trong “Tạp lục” thì Trà Tế cũng như Trà Nô là “những ngọn núi có kim khí rất vượng, thường có một đường từ trong đất đi xiên xéo ra, khí vàng bốc nổi lên trên cũng có đường đi thẳng, có đường đi ngang qua núi khác. Núi nào có vàng thì đất mềm, không thì đất cứng. Chủ hộ đãi vàng tìm ở đầu núi thấy có mạch vàng thì đào lấy đất ấy, trữ làm một đống, làm nhà che trên rồi lấy nước đãi cho sạch đất. Chỗ đất đào ấy hoặc sâu đến một nghìn thước, đãi lọc trong một ngày thường được một nghé[33] vàng vụn, đem nạp cho sở nấu vàng.”[34]
Các khách du từ viễn phương lui tới thủ phủ không ngớt trầm trồ về việc chúa Nguyễn có rất nhiều vàng đãi[35] cũng như các thứ vật dụng bằng quý kim. Hai câu thơ:
Gạo thơm hơi bốc mây nhường trắng,
Vàng báo ân ban đất chói lòa.
của Đại Sán Hán Ông, tuy có phần nào thậm xưng về sự thù phụng hậu hĩ của Quốc Chúa đối với một vị lão hòa thượng người thiên triều được Chúa quý trọng, vẫn là một bằng chứng về cảnh hào phú rất mực của vương phủ thời đó, nhất là câu chuyện khoe của sau đây của Minh Vương, cũng do Đại Sán Hán Ông kể lại:
“... Ta bày dâng bài khải, bốn bài thơ và một ít trái cây. Nhà vua xem kỹ từng bài, rất tán thưởng. Chặp lâu, đem ra các đồ vật ngự dụng, chỉ từng món, hỏi ta có đẹp không? Xem ra các món đều toàn bằng vàng bạc, châu báu, chạm trổ công phu, tuy không văn nhã, thiếu chất phác, nhưng thảy đều lạ lùng, chóa mắt, có phong vị phú quý...”[36]
Với cảnh hưng thịnh, phú cường như thế, nghị vệ của vương phủ cũng được chăm chút tỉ mỉ và càng tăng thêm vẻ trang nghiêm, đường bệ. Thuyền của Chúa ngự chẳng hạn là loại Hồng thuyền, kiểu đóng rất đẹp và khá lớn, vì tả hữu có tới hai mươi lăm mái chèo. Thuyền sơn son bóng loáng. Lối trang trí rất thanh nhã. Cửa khoang cũng sơn đỏ và chạm long vân, phía trên che đệm có đằng văn. Trong khoang thuyền có trải chiếu lát mịn màu xanh lục, lại có đặt đỉnh trầm để xông kỳ nam hương và bày đủ các thứ tiện nghi như gối tựa bọc gấm, hộp đựng cau trầu, ống nhổ, toàn bằng vàng ròng. Lính chèo Hồng thuyền được tuyển chọn phải là những thủy quân lực lưỡng đã trải nhiều năm trong nghề.[37]
Trên bộ, mỗi lúc Chúa ngự ra ngoài thì có đội quân mão đỏ đi trước dẹp đường. Khách hành nhân qua lại phải tránh xa kiệu chúa những một hai dặm. Kiệu giống hình xe lừa, có mười sáu quân khiêng toàn là những binh sĩ cao lớn, vạm vỡ, mình trần, vận khố có vuông vải che phía trước, tóc bỏ xõa xuống lưng. Hai bên kiệu có đội quân hầu cầm kim đao, kim thương dài những năm, sáu thước, số hộ tốt[38] đã đông đảo, nghi thức chầu hầu, phòng vệ lại rất cẩn mật, nghiêm minh, như chúng ta sẽ thấy, qua sự mô tả dưới đây của Hòa thượng Thích Đại Sán về cuộc ngự giá của Chúa đến một đàn chay, vào buổi cuối xuân năm Ất Hợi (1695):
“... Quốc vương đội mão xung thiên cánh chuồn, mặc đạo bào màu huyền, đi giày nhung, không mang bít tất. Quốc cậu mặc áo mãng bào, cầm kim đao đứng hầu. Ngoài vách chùa, quân lính đứng vây hai lớp. Lớp ngoài toàn người cao lớn, râu ria. Ai râu ít thì vẽ thêm râu giả, đội mão bằng gỗ đỏ thếp vàng, mặc áo đoạn đỏ, cầm kim thương đứng thẳng hàng khít rịt. Lớp trong toàn thanh niên mạnh mẽ, chít khăn đà-la-ni đỏ, mặc áo nhung lục, cầm kim đao, cũng đứng như lớp ngoài. Cán đao và cán thương đều sơn màu anh đào. Mối khi Quốc vương trong điện bước ra, quân lính đều xây mặt ngó vào. Quốc vương đi vào thì sắp hàng đứng hai hên đối diện nhau rất thẳng. Ngoài dậu tuy có vài nghìn quân thế mà trong ngự tọa lặng thinh, chỉ nghe tiếng chim kêu, lá rụng mà thôi.”[39]
Việc cung dưỡng bằng thanh sắc, đền Vũ tạ, thú ca lâu, so với các thời tiền vương cũng có phần chấn khởi hơn nhiều. Trong vương phủ cũng như ở Thủy điện thường có ca vũ, hát tuồng để chúa, vương mẫu, thế tử, các công tử, công nương cùng các vị thượng quan thưởng thức, nhất là vào những dịp khánh điển. Những đoàn“Tiểu hầu” được thành lập, tuyển mộ toàn những ca nhi, vũ nữ tài hoa, có đủ thanh sắc, lại được luyện tập rất công phu về các vũ điệu hiến vui. Điệu múa được ưa chuộng nhất trong vương phủ là vũ khúc “Thái liên”diễn tả trạng thái cao nhã, trang trọng, tình tứ, dáng dấp mềm mại, bay bướm của người đẹp trong lúc dong thuyền hái hoa Quân tử. Những lúc trình diễn ca vũ, các vũ nữ đội mão vàng giống mão thất phật, vận áo hoa màu lục dài phết đất, tay cầm nhạc khí, thoa son, dồi phấn rất mực diễm lệ, não nùng.[40]
Đại nghiệp của họ Nguyễn ở phương Nam, vào thời này, quả thực đã đạt tới cái thế vững chãi và cái khí tượng tráng quan của một bá nghiệp, với cái uy phong bao trùm cả một bờ cõi rộng lớn “... hùng cứ tam giang bát trấn, thống trị bốn mươi bảy châu... bao la vạn thủy thiên sơn, thuộc hạt trăm sáu mươi quận.”[41]
Hoài bão lớn lao của Tiên Chúa, hoài bão xây dựng nghiệp lớn ngay trên gai góc, bụi bờ của vùng ô châu ác địa, mãi về lúc Tiên Chúa quay đầu về núi dưới bóng Thạch Hãn Sơn với cái phạm vi lãnh thổ “chuyên có hai châu, hẹp như một dải”[42] - vẫn đang còn là một cái mộng mơ hồ, thì đến lúc này đã trở thành sự thực hiển nhiên. Và chuyện phải đến đã xảy đến.
Trên danh nghĩa, họ Nguyễn, cho đến thời Hiếu Võ sau này, vẫn tỏ ra còn tôn trọng nhà Lê. Công văn, giấy tờ vẫn noi dùng Quốc hiệu và niên hiệu Lê Triều[43]. Ngay trong tư tưởng, nỗi niềm tư Lê[44] vẫn còn vương vấn vì mối liên hệ giữa dòng họ với Lê triều từ thời Nguyễn Kim. Quốc Chúa, trong những cuộc mạn đàm với Đại Sán Hán Ông, vẫn thường nhắc nhở đến chuyện này, nhất là chuyện Thái tổ Gia Dũ Hoàng đế, vì thiện ý phò Lê, đã từng kéo quân ra Đông Đô, ở lại những tám năm trời, góp sức với Trịnh Tùng diệt trừ quân Mạc, lập được biết bao công lớn.
Nhưng trong thực tế, cái cảnh “Triều đình riêng một cõi trời, gồm hai văn vũ” thì lại ngày càng phát hiện theo với cái đà long hưng của đại nghiệp. Kịp đến thời Minh Vương, tức Hiền Tôn Hiếu Minh Hoàng đế (1691-1725), công tử cả của Nghĩa Vương - một vị chân chủ trẻ trung, nối nghiệp lớn vào năm mười bảy tuổi, không những chỉ có “phú tính thông minh, độ lượng khoan hòa, dung mạo đoan chính”[45] chữ tốt, văn hay, mà còn sẵn có bẩm tính kiêu hùng, dũng lược, từng bao phen đánh đông, dẹp bắc, thâu phục được cả Chiêm Thành, nới rộng thêm bờ cõi xa hơn về phương Nam, thì việc tiến thêm một bước để tự xưng Quốc Chúa, đưa quốc thư và cống phẩm sang Thanh đình cầu phong và đúc Quốc tỷ “Đại Việt quốc Nguyễn Vương vĩnh trấn chi bửu”[46] là một sự đun dẩy[47] tất nhiên của cái cơ duyên hưng nghiệp đã tới kỳ cực triển.
Và chính giữa cảnh long thịnh ấy của Nguyễn phủ, Thiên Mụ tự lại, một lần nữa, được gia tăng ân sủng.
❀ ❀ ❀
[1] Việt sử: xứ Đàng Trong của Gs. Phan Khoang (Thái tôn Nguyễn Phước Tần (1648-1687)). (TG)
[2] Việt sử: xứ Đàng Trong của Gs. Phan Khoang (Thái tôn Nguyễn Phước lần (1648-1687)). (TG)
[3] Việt sử; xứ Đàng Trong của Gs. Phan Khoang (Anh tôn Nguyễn Phước Trăn (1687-1691)). (TG)
[4] Đất Việt, Trời Nam của Thái Văn Kiểm (Huế muôn thuở), tr.334, Nguồn sống, 1960. (TG)
[5] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập thượng), mục Sơn Xuyên: núi Ngự Bình, tr.45, 46. (TG)
[6] Cố đô Huế của Thái Văn Kiểm (Văn hóa tùng thư - Nha Văn hóa Bộ QGGD xuất bản), tr.121, 122. (TG)
[7] Cửa tấn: cửa sông đổ ra biển
[8] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập thượng), mục Sơn Xuyên: sông Hương Giang, tr.59, 60. (TG)
[9] Le Canal impérial par L.Cadière des M.E.de Paris, B.A.V.H., 1915. (TG)
[10] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập thượng), mục Sơn Xuyên: sông Bạch Yến, tr.60, 61 - Le Canal impérial par L.Cadière, B.A.V.H., 1915. (TG)
[11] Câu thơ trong bài “Hương Giang hiểu phiếm” của vua Thiệu Trị, có nghĩa: Một dòng nước có nguồn vực sâu thẳm hộ vệ Đế thành (xem Cố đô Huế của Thái Văn Kiểm). (TG)
[12] Nhân đỉnh: một trong chín cái đỉnh đúc dưới thời Minh Mạng vào năm thứ 17 (1836) và đặt trước Thế Miếu. (TG)
[13] Tự điển là điển lễ tế tự. Theo Thơ kinh: núi sông cũng có trật tự lớn nhỏ khác nhau. Năm núi lớn hay “ngũ nhạc” thì coi như vị thứ tam tông, còn bốn sông lớn hay “tứ độc” thì coi như vị thứ chư hầu. Ở Trung Quốc, năm trái núi cao được coi là tiêu biếu cho năm phương là: Hành sơn nam nhạc, Hoa sơn tây nhạc, Thái sơn đông nhạc, Hằng sơn bắc nhạc và Tung sơn trung nhạc. Các núi sông khác thuộc các tước Bá, Tử, Nam. Trật tự đã khác nhau nên vật phẩm cúng tế núi sông cũng tùy theo lớn nhỏ và trật tự mà có khác nhau. (TG)
[14] Văn Miếu không rõ được xây cất từ thời nào, chỉ biết dưới thời Minh Vương Nguyễn Phước Châu đã có tại làng Triệu Sơn, thờ thần tượng - tọa lạc tại nơi dựng miếng Hội đồng vào năm Minh mạng thứ bảy (1826). Vào thời Duệ Tôn, năm 1766, Văn Miếu được dời tới làng Lương Quán, phía hữu ngạn sông Hương. Đến năm 1770 lại dời đến làng Long Hồ phía tả ngạn. Qua năm Gia Long thứ bảy (1808), Văn Miếu được xây cất tại xã An Ninh, mai táng thần tượng để bài vị để thờ (theo Le Temple des Lettres par Ưng Trinh, B.A.V.H., 1917, p.259, 262 - Đ.N.N.T.C.. Kinh sư, mục Đàn miếu: Văn Miếu, tr.37-39). (TG)
[15] Hải ngoai kỷ sự của Thích Đại Sán, quyển I, tr.34. (TG)
[16] Tức Nguyễn Phước Thái (1650-1691), lên ngôi chúa năm 1687.
[17] Việt Nam sử lược, Lệ Thần Trần Trọng Kim (Công việc họ Nguyễn làm ở xứ Nam), chương VI, tr.330. (TG)
[18] Les Européens qui ont vu le Vieux Hué: l’abbé de Choisy par L.Cadière des M.E.de Paris, B.A.V.H., 16ème année, No. 3 Juillet 1929, p.114.
[19] Les Eléphants royaux (Provenance des éléphants des Seigneurs de Hué) par L.Cadière des M.E.de Paris, B.A.V.H., 1922. (TG)
[20] Les Européens qui ont vu le vieux Hué: l’abbé de Choisy par L.Cadière des M.E.de Paris, B.A.V.H., 1929, p.116. (TG)
[21] Hải ngoại kỷ sự quyển I, Thích Đại Sán, tr.43. (TG)
[22] Dưới thời các Chúa Nguyễn, con trai của chúa gọi là công tử. Con trai được chỉ định để kế vị được gọi là Thái công tử, thường là đệ nhất công tử. Sau khi chúa Nguyễn Phước Khoát xưng vương cũng vẫn gọi như vậy. Theo tu sĩ de Choisy, Thế tử được sử dụng 5.000 quân sĩ, đệ nhị công tử 3.000, đệ tam công tử 2.000. (TG)
[23] Les Européens qui ont vu le Vieux Hué: l’abbé de Choisy (Note No. 54) par L.Cadière, B.A.V.H., 1929. (TG)
[24] Mémoire de Bénigne Vachet sur la Cochinchine (Bulletin Comm. Arch. Indochine 1913, p.27), trích dẫn trong phần chú thích bài “Les Européens qui ont vu le vieux Hué: l’abbe ae Choisy”, B.A.V.H., 1929. (TG)
[25] Les Européens qui ont vu le Vieux Hué: l’abbé de Choisy, B.A.V.H., 1929, p.116. (TG)
[26] Cạy, bát: Cạy là lái thuyền qua bên trái. Bát là lái thuyền sang bên phải.
[27] Hải ngoại kỷ sự, quyển III, Thích Đại Sán, tr.113 - Mémoire de Bénigne Vachet sur la Cochinchine (Bulletin Comm, Arch. Indochine 1913, page 19), trích dẫn trong phần chú thích số 50 của bài “Les Européens qui ont vu le Vieux Hué”, B.A.V.H., 1929. (TG)
[28] Hải ngoại kỷ sự cúa Thích Đại Sán, quyển II, tr.91-94. (TG)
[29] Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán, quyển II, tr.91-94. (TG)
[30] Lược khảo về khoa cử ở Việt Nam của Huyền Quang - Văn hóa Á châu số 8, tháng 11-1960. Việt sử: xứ Đàng Trong của Gs. Phan Khoang (Hiển tôn Nguyễn Phước Châu, 1691-1725). (TG)
[31] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập thượng), mục Sơn Xuyên: núi Kim Sơn, tr.53. (TG)
[32] Ngụ lộc: Bổng lộc ở chỗ ngụ. (TG)
[33] Nghé: Vũ biên tạp lục bản Ngô Lập Chí dịch là bong bóng trâu, dễ hiểu hơn.
[34] Đ.N.N.T.C.. Tỉnh Quảng Nam, mục Sơn Xuyên: Trà Tế Sơn, tr.29. (TG)
[35] Mémoire de Bénigne Vachet sur la Cochinchine (Bulletin Comm. Arch Indochine 1912, trích dẫn trong phần chú thích số 47 của bài “Les Européens qui ont vu le vieux Hué: l’abbe de Choisy”, B.A.V.H. 1929, p.115). (TG)
[36] Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán, quyển I, tr.40. (TG)
[37] Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán, quyển I, tr.40. (TG)
[38] Hộ tốt: Vệ binh.
[39] Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán, quyển II, tr.82. (TG)
[40] Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán, quyển I, tr.40.(TG)
[41] Trích bài “Khải” của Thích Đại Sán, trong Hải ngoại kỷ sự quyển I, tr.36. (TG)
[42] “Hai bức thư chữ nôm mở màn cuộc phân tranh Trịnh-Nguyễn” của Bửu Cầm - Văn hóa Nguyệt san số 85, tháng 9-1963. (TG)
[43] Đại Nam thực lục tiền biên, quyển 8, 9 và 10 (trích dẫn trong phần khảo cứu “Hải ngoại kỷ sự” về tiểu sử của Thích Đại Sán, Gs. Trần Kinh Hòa, tr.251). (TG)
[44] Tư Lê: Nhớ tới nhà Lê.
[45] Hải ngoại kỷ sự, tr.35, quyển I. (TG)
[46] Xưng Quốc chúa năm 1692, rồi qua năm 1702 mới khiến bọn Hoàng Thần, Hưng Triệt mang quốc thư và cống phẩm gồm có: 5 cân 4 lượng kỳ nam, 1 cân 13 lượng tiền vàng sống, một cặp ngà tượng nặng 350 cân, 50 sợi mây song, qua nhờ Lưỡng Quảng Tổng đốc xin Thanh đình chính thức cầu phong (xem Đ.N.T.L.T.B. quyển 8, 9, 10 và phần khảo cứu “Hải ngoại kỷ sự” của Gs. Trần Kinh Hòa, tr.272, 273) chứ không phải vì việc cầu phong bất thành mới xưng Quốc chúa, như một vài tài liệu đã viết, chẳng hạn trong “Le V.N.Histoire et civilisation” của Lê Thành Khôi, ở phần Sécession du Nord et du Sud: La Seigneurerie Nguyễn au XVIIIème siècle. (TG)
[47] Đun dẩy: Đẩy