Chính giữa lúc Võ Vương cùng quần thần đang tin tưởng vào cái thế bền vững và hưng phát của đại nghiệp, chính giữa lúc Phú Xuân đang tỏa rạng vẻ nghiêm lệ, huy hoàng, đắc ý với cái địa vị tôn quý của nó đối với các dinh trong toàn cõi, và chính giữa lúc Thiên Mụ tự đang hân hoan chứng kiến cái thành quả rực rỡ của công cuộc gầy dựng bá nghiệp do hiệu lực của long mạch ở gò Hà Khê, thì bỗng có rất nhiều điềm lạ xảy ra.
Trước tiên là một ngọn núi, ở cách Đô thành không xa, tự dưng rung chuyển, nổ tung và sụp đổ. Rồi một cửa bể bị cát bồi lấp, thuyền bè không thể nào còn qua lại được. Tiếp theo là nạn chuột hoành hành. Chuột bầy, chuột lũ, nhung nhúc từng đàn hàng nghìn, hàng vạn con, phá hại tất cả mọi thứ hoa lợi ở nơi lục dã.[1]
Tuy đắm say nữ sắc, triền miên trong thú yến ca giữa đám tả, hữu hành lang. Thế Tôn cũng không khỏi giật mình kinh ngạc và lo âu khi được nghe nội giám tâu bày về những hiện tượng dị thường như vậy. Chúa liền cho vời các bậc quốc thân và thượng quan vào Điện ban hỏi ý kiến về những sự việc xảy ra.
Theo một số các vị quốc thân thì những điềm gở này báo hiệu những tai họa còn đáng lo ngại hơn nhiều cho quốc vận, mà nguyên nhân là việc tà đạo của bọn người Tây dương đã được du nhập vào nội cảnh, được dung túng để có cơ bành trướng. Trong dân gian đã có một số đáng kể vì bị mê hoặc bởi tà đạo, dám cả gan dẹp bỏ bàn thờ gia tiên, quên chuyện hương khói, dám khinh mạn đối với chính giáo, coi nhẹ đạo nghĩa, luân thường. Muốn giải trừ hậu quả chẳng lành và khó tránh của những thứ hung triệu này thì việc cấm ngặt tà đạo chưa đủ mà còn phải trục xuất cả bọn người Tây dương ra khỏi đất nước mới yên.
Thế Tôn rất đỗi phân vân, khó nghĩ, vì nhà Chúa tuy không bao dung tà đạo của bọn ngoại nhân, nhưng vẫn có cảm tình với một số thương gia và giáo sĩ Tây dương. Hầu hết các vị triều thần cũng như các vị quốc thần thời đó vốn sùng mộ Phật giáo và giàu óc kỳ thị nên rất bất mãn về việc Thế Tôn thường cho bọn ngoại nhân ra vào vương phủ. Quần thần đã xôn xao nhiều về chuyện một thương gia người Phú Lãng Sa[2] được Chúa đón tiếp niềm nở, đưa đi xem khắp các điện, đường, am, các trong vương phủ và chỉ dừng lại ở trước hậu cung[3]. Trường hợp của giáo sĩ Koffler còn đáng phàn nàn hơn nữa. Giáo sĩ đã từng được Thế Tôn cho phép ở lại, được giữ nguyên giáo đường ngay trong lúc lệnh trục xuất các giáo sĩ, bắt bớ giáo dân và triệt hạ giáo đường được ban hành khắp trong toàn cõi. Và cũng đã hơn một lần, vị giáo sĩ này được gọi vào vương phủ để xem mạch, chữa bệnh cho Chiêu Nghi - tức Mệ Hòm - một cung phi rất được Chúa sủng ái, khi các tay ngự y, các danh y trong hàng tăng lữ và cả bọn pháp sư đã chịu đầu hàng. Tuy ngại nỗi giáo sĩ có thể trả thù về những vụ đàn áp đã xảy ra và mặc dù nặng thành kiến đối với phép trị bệnh và các thứ dược phẩm của bọn người Tây dương vốn thường được chế tạo bằng những chất độc địa, gớm guốc như bột xương người, rắn độc, nên có sức công phạt dữ dội đến độ con bệnh mà thoát chết được là chỉ nhờ ở phép lạ mà thôi... Thế Tôn vẫn phải dùng giáo sĩ này, và, khi thấy bệnh có chiều thuyên giảm đôi chút, Chúa đã vui vẻ hứa quyết với giáo sĩ là sẽ cho xây cất lại các giáo đường bị đập phá, nếu Chiêu Nghi bình phục hoàn toàn. Nhưng rủi thay cho giáo sĩ, vì bệnh tình Chiêu Nghi thuyên giảm để rồi lại trở nặng bất thần, và ngôi sao sáng chói trong giới cung phi ấy, vào một đêm thu, đã nghe theo tiếng gọi của rừng sao xa xăm, cỡi gió, nương mây tách lìa dương thế. Nỗi tiếc thương, đau đớn không những chỉ vò xé tâm can của vị chân chủ si tình mà còn làm bột phát cả một cơn lôi đình, thịnh nộ mà kẻ phải đón nhận, lẽ tự nhiên, không ai khác hơn là tên “ngoại nhân tà đạo” đã dùng bột xương người, xương rắn để sát hại bệnh nhân.[4]
Sự đoản mệnh của Từ Mẫn Chiêu Nghi - với những hậu quả chẳng lành xảy ra cho giáo sĩ Koffler - tuy đã làm hài lòng rất nhiều người, nhưng chưa đủ để làm nguôi được mối bất bình chung của phần đông triều thần và sĩ thứ cũng như của hàng tăng lữ vốn muốn phục hồi lại cái uy thế độc tôn của Phật giáo như dưới thời Quốc Chúa Nguyễn Phước Châu. Phải đàn áp quyết liệt hơn nữa, phải trục xuất ráo riết hơn nữa bọn người Tây dương, phải trừng phạt bằng những thứ cực hình tàn khốc hơn nữa bọn người chạy theo ngoại đạo. Hiểu rõ ý nguyện này, Thế Tôn càng tỏ ra dè dặt.
- Bọn người Tây dương nhập cảnh không phải là không có lọi cho ta. Còn đối với ngoại đạo, chính ta cũng đã nghiêm cấm chứ đâu có chuyện bao dung...
Một vị Quốc thân đã không ngần ngại tâu bày:
- Tâu chúa thượng, bọn người Tây dương cho đến nay vẫn còn tỏ ra ngoan cố, xảo quyệt, vẫn dùng tà thuật để mê hoặc nhân dân, lại khéo biết dùng tài lợi, của quý, vật lạ để mua chuộc lòng người. Tại nhiều địa phương chúng vẫn còn được dung túng để lén lút giảng truyền tà giáo, lại dám phổ biến những ngụy thư - từng bị cấm đoán triệt để dưới thời các tiên vương - bài bác việc thờ phụng tổ tiên, chế giễu Thần, Thánh, Tiên, Phật. Chúng còn dám khinh mạn chính giáo, coi Phật giáo, Lão giáo là dị đoan mê tín. Và sở dĩ có tình trạng như thế là vì nghiêm pháp chưa được áp dụng triệt để, cồn Dã Viên đã từ lâu không còn là nơi răn dạy chúng dân về việc giữ mình trước sự cám dỗ, lung lạc của bọn đạo sĩ Tây dương.
Cồn Dã Viên! Câu nói cuối cùng hàm chứa cả một đề nghị cực kỳ táo bạo, làm cho Thế Tôn cũng nhu số thượng quan, quốc thân, không có ác cảm nhiều đối với Thiên Chúa giáo, phải giật mình, sửng sốt. Đề nghị này gợi lại trong ký ức mọi người cảnh tượng ghê rợn từng xảy ra tại cồn Dã Viên dưới thời Minh Vương. Về thời đó, bãi cồn mát mẻ, chốn thừa lương[5] khá mơ mộng này thường được chọn làm địa điểm gia hình khổ nhục cho bọn thần dân chạy theo ngoại đạo. Tại đây, sĩ thứ ở Đô thành thỉnh thoảng lại được chứng kiến cái cảnh một số giáo sĩ hoặc giáo dân thọ nhận một thứ cực hình dai dẳng, trong một túp lều dựng lên giữa cồn. Cả bọn bị trói vào cọc, bị đánh đập tàn nhẫn và phải chịu đói, chịu khát, quằn quại, giãy giụa ngày này qua ngày khác cho đến khi kiệt sức. Từng loạt oan hồn kế tiếp nhau, thầm lặng, nương gió sông sương bến mà về cõi âm ty[6]. Cồn Dã Viên, đối với dân chúng thời đó, là một vùng âm phong, lãnh khí, đêm đêm xa vọng những tiếng gào rú, khóc than thê thảm, chập chờn dưới ánh trăng sao những hồn ma, bóng quế, và khách hành nhân thường phải tránh né việc qua lại nơi này vào buổi chính ngọ hay lúc canh khuya thanh vắng. Nhưng rồi, từ khi Phú Xuân được phục hồi cương vị thượng đô, Võ Vương chỉnh hang Đô ấp, cảnh sắc của cồn Dã Viên cũng được duồng theo vận hội mới mà thay đổi khác xưa. Không những bóng dáng ác tà, hơi hướng sầu lạnh của âm phong, lãnh khí bị tan biến vì những tiếng súng của trường bắn được Võ Vương cho thiết lập gần phủ Dương Xuân[7], mà chính tại đây dân chúng, thay vì phải chứng kiến những cảnh gia hình tàn khốc như xưa, lại thường được vui xem những cuộc tranh hùng giữa voi và cọp trong cái không khí hội hè tưng bừng, rộn rịp như đã nói trên.
Võ Vương vốn chẳng ưa gì ngoại đạo, nhưng những tặng phẩm và các nguồn lợi do người Tây dương mang lại, đã khiến cho Chúa, vốn nặng óc lý tài, vụ lợi, phải cân nhắc thiệt hơn trong mọi quyết định đối với bọn người này. Hơn nữa được nối nghiệp lớn giữa cảnh thịnh trị và trước cái bề thế phong quan, hoa lệ của Đô thành vừa tạo dựng cũng như trong cái không khí ưu nhàn, dật lạc, Võ Vương không muốn gây ra những gì có thể làm giảm vẻ mỹ tú, thanh lương của nơi thủ phủ.
Giữa lúc Thế Tôn đang đắn đo suy nghĩ, thì Lễ bộ kiêm Lại bộ Chuyết Trai Nguyễn Đăng Thạnh đã tâu:
- Theo chỗ hạ thần chiêm nghiệm thì tất cả những gì vừa xảy ra chỉ là những hiện tượng tự nhiên của trời đất mà thôi, không nên gán cho chúng những ý nghĩa chẳng lành. Về việc đối phó ngoại đạo, giữa lúc ân đức đang cần ban ra, tưởng cũng nên tránh những biện pháp quá ư tàn khốc đối với bách tính, như lối gia hình ở cồn Dã Viên thuở trước.
Ngoại tả Trương Phúc Loan từng được số thương gia Tây dương ve vãn, thờ phụng, tán đồng ngay ý kiến của Chuyết Trai. Và, từ đấy, chuyện những điềm lạ không còn được Võ Vương quan tâm đến nữa. Tin tưởng ở các kế hoạch của mình trong chủ đích cải đổi mạng trời, tin tưởng ở sự bền vững của đại nghiệp, Võ Vương càng đắm mình trong thú cung dưỡng bằng thanh sắc, yến tiệc linh đình suốt tháng, quanh năm.
Tuy vậy nhờ có sự phò tá tận tâm của nhiều trang lương đống, đáng kể trong số là Chuyết Trai Nguyễn Đăng Thạnh từng thi đậu hương tiến, làm Tri huyện Hương Trà, sung chức Thanh cung thị giảng, chức Đô tri, làm Ký lục Quảng Nam, sau được triệu về thăng Lễ bộ kiêm Lại bộ; Lưu thủ Long hồ Tống Phước Hiệp dòng dõi Luân Quận công, nổi tiếng là người có huệ chính được lòng dân cảm mến; Nguyễn Cửu Thống, học vấn uyên bác, từng được sung chức Thị học, dạy Thế tử Chương; Nguyễn Quang Tiền, học rộng, thơ hay, rất thông thạo về mặt văn thư thù ứng lân bang; Trương Phước Du và Nguyễn Cư Trinh là những tướng giỏi, nên không những công việc nội trị ngoại an vẫn được vững vàng, chu đáo, mà về mặt mở mang bờ cõi cũng thu đạt thêm nhiều thành tích vẻ vang. Năm 1753, nhân vụ Nặc Nguyên hà hiếp rợ Côn man[8], thông sứ với chúa Trịnh để mưu đánh chống lại chúa Nguyễn, tướng Nguyễn Cư Trinh được lệnh đưa quân sang đánh dẹp. Năm sau, Nặc Nguyên bại trận, bỏ thành Nam Vang, chạy sang Hà Tiên, nhờ Mạc Thiên Tứ tâu xin nộp dâng hai phủ Tầm Bôn, Lợi Lạp để chuộc tội và xin về nước. Nghe theo kế hoạch “tàm thực” của tướng Nguyễn Cư Trinh, Võ Vương chịu nhận lấy hai phủ. Qua năm 1759, Tổng trấn Trương Phước Du, nhân vụ Nặc Hinh giết nhạc phụ là Nặc Nhuận - chú của Nặc Nguyên vừa thay thế Nặc Nguyên mới chết - đưa quân sang đánh. Nặc Hinh bại trận rồi bỏ mình. Con là Nặc Tôn, nhân được Võ Vương nghe theo lời tâu của Mạc Thiên Tứ, lập làm vua Chân Lạp, xin dâng đất Tầm Phong Long để tỏ lòng tri ân. Dinh Long Hồ liền được Chúa cho đưa về xứ Tầm Bào, nơi đóng tỉnh lỵ tỉnh Vĩnh Long hiện nay, và cho đặt thêm ba đạo là Đông Khẩu đạo ở Sadec, Tân Châu đạo ở Tiền Giang và Châu Đốc đạo ở Hậu Giang.[9] Thêm vào đó, còn phải kể đến phần đất Chân Lạp gồm năm Phủ: Hương Úc, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt, Linh Quỳnh mà Nặc Tôn đã cắt để tạ ơn họ Mạc và Mạc Thiên Tứ lại đem dâng cho Nguyễn phủ, được Chúa cho thuộc về trấn Hà Tiên cai quản.[10]
Nhưng rồi cái thế suy vong vẫn không vì đó mà thiếu hẳn cơ duyên phát hiện, khi cái ưu thế trong chốn triều đường đã bắt đầu lọt dần vào tay một nhân vật giảo hoạt, giàu tham dục như Ngoại tả họ Trương.
Thực vậv, lợi dụng tính đam mê tửu sắc, yến ca của Võ Vương ngày càng trầm trọng đến độ xao nhãng, bỏ bê công việc triều chính, Ngoại tả Trương Phúc Loan tạo dần thế chuyên quyền, tác oai, tác phúc.
Ngoại tả vốn là dòng dõi thế phiệt. Tổ bốn đời của ông là Gia Sơn, Trương Công Điều - cũng có tên là Ca - từng giữ chức Điện tiền Đô kiểm điểm Lương Quận công tại triều nhà Lê; nhưng sau lại đưa cả gia đình vào Nam theo chúa Nguyễn. Lúc mới vào, Điều giữ chức Trấn thủ Quảng Bình, làm nhà ở ngay giữa lũy Trấn Ninh[11]. Vì có nhiều công trạng, được Chúa cho đổi chữ lót từ Công ra Phúc, bèn xưng là họ Trương Phúc từ đấy. Con Trương Phúc Điều là Trương Phúc Phấn, có võ lược hơn người, dưới thời Hy Tôn từng làm Cai cơ và Trấn thủ Bố Chính dinh, dưới thời Thần Tôn đã cùng con cả là Trương Phúc Hùng giữ vững lũy Trường Dục, khiến quân Trịnh phải khiếp phục mà rút lui[12]. Người con thứ của Phấn là Trương Phúc Cương sinh ra Trương Phúc Phan, thân phụ của Loan. Phan cũng là một tướng lãnh tài ba từng lập được nhiều võ công oanh liệt, nhất là trong cuộc tiễu trừ bọn hải phỉ ở đảo Côn Lôn. Phan lại có con gái gả cho chúa Túc Tôn Nguyễn Phước Trú. Trương thị sinh ra Võ Vương Nguyễn Phước Khoát, do đó, Ngoại tả Trương Phúc Loan là cậu của Võ Vương.[13]
Tuy thuộc dòng dõi thế phiệt, cha ông đều là hạng công thần trung nghĩa, nhưng Loan lại là người tham lam, tàn nhẫn, coi trọng sự nghiệp riêng tây hơn đại nghiệp của nhà chúa.
Theo sự nhận xét của một thương gia người Tây dương thuở đó, Loan là người “có tính hay khoe khoang, ươn lười, phách lối, ít thể thống và ít cao thượng”[14]. Nhưng nếu Ngoại tả họ Trương có ươn lười là ươn lười về cái trách vụ nặng nề của một hạng trọng thần trung nghĩa, tận tụy, chứ về mặt củng cố địa vị, phát triển thế lực, tạo vây cánh để chuẩn bị cái thế nắm dần quyền bính, lấn át trong triều ngoài quận, vơ vét tài hóa quốc gia, bóc lột máu mỡ bách tính để bước lên tột đỉnh vinh hoa, phú quý thì Ngoại tả lại tỏ ra rất tích cực và có đủ thủ đoạn gian hùng, biết lợi dụng đúng mức những công trạng lớn lao của cha ông và lòng tín nhiệm của cháu là Võ Vương Nguyễn Phước Khoát.
Dưới thời Võ Vương, sự chuyên quyền của họ Trương tuy còn dè dặt, nhưng một con người giảo hoạt như Ngoại tả thì cái lợi thế có giới hạn trong hiện tại phải được khai thác triệt để nhằm mở đường cho cơ hội thao trì quyền bính về sau.
Trong vương phủ, Loan tìm đủ cách để khích lệ Võ Vương về mặt hưởng lạc. Biết rõ cái bệnh hiếu sắc của cháu, Ngoại tà đã khéo gài cái bẫy “dâm loạn” để dễ bề lung lạc. Thuở đó có công nữ Ngọc Cầu - con gái của Dận Quốc công Nguyễn Phước Điền - là một trang quốc sắc, thiên hương. Dận Quốc công vốn là con của Quốc Chúa Nguyễn Phước Châu, em của Túc Tôn Nguyễn Phước Trú và là chú của Võ Vương. Ngọc Cầu và Võ Vương chính là anh em đồng đường. Người em gái chú bác có cái nhan sắc não nùng, diễm lệ như một giáng tiên này thường ra vào vương phủ và năng tìm cách gần gũi Võ Vương.
Một bên là trai đa tình, nịch sắc, một bên là gái ngọc, đã thanh tân, yêu kiều, duyên dáng lại bay bướm, lẳng lơ và đang độ xuân tình phơi phới, hang tối khao khát hơi dương thì cái thế “lửa gần rơm” chẳng mấy chốc đã đốt nồng tấm yêu và thiêu rụi cả khuôn khổ của luân thường đạo lý. Và tình ý trao đổi giữa đôi bên, qua hương trà, men rượu, tiếng nói, giọng cười, hẳn khó mà thoát lọt được cặp mắt tinh đời của Ngoại tả họ Trương. Nhưng ông cậu này đồng thời là một trong tứ trụ của triều đình họ Nguyễn vốn có cái trọng trách phải đóng vai “tránh thần” để ngăn chận kịp thời những lỗi lầm nguy hại của người cầm đầu giềng mối, đã cố tình làm ngơ giả điếc vì một chủ ý thâm độc, bất lương.
Và chuyện đáng tiếc phải xảy ra đã xảy ra trong vương phủ. Ngọc Cầu, sau nhiều phen lăn lóc ái ân vụng trộm với người anh đồng đường, đã mang thai và sinh được một công tử. Loạn luân! Cái tội đáng phải ném đá đối với chúng dân, lại là một chuyện có thể coi thường ở chốn vương cung, trong vòng hoàng thất. Ngọc Cầu không những nghiễm nhiên trở thành một cung phi được sủng ái vào bậc nhất trong các hàng tả, hữu hành lang, mà cả đến anh em nàng cũng được Võ Vương trọng dụng, ban cho quyền cao, lộc hậu. Người anh cả của Ngọc Cầu là Nguyễn Phước Viên được làm Chưởng thủy cơ, và em của Viên là Nguyễn Phước Nghiêm được giữ chức Nội hữu, Chưởng dinh quản Bộ Lại và Bộ Binh, lãnh Tả phủ Chưởng phủ sự dinh Quảng Nam, tuy Viên là môt người rất tầm thường, lười biếng chỉ thích rượu chè, còn Nghiêm thì càng bê bối hơn với cái phong thói xa hoa và bệnh hiếu sắc - hậu phòng thường có tới trên trăm người - quanh năm suốt tháng chỉ triền miên trong cái thú la đà say tỉnh với bạn rượu và gái đẹp, lơ là bỏ bê công vụ, phó mặc cho bọn thuộc hạ muốn làm trời làm đất gì đấy thì làm.[15]
Nhưng dù sao Võ Vương cũng không khỏi có ít nhiều mặc cảm tội lỗi về sự dâm loạn của mình, nên công tử - được đặt tên là Nguyễn Phước Thuần - chỉ được nuôi dưỡng khuất lấp ở chốn hậu cung và không được lập làm kế tử[16] như ý mong muốn của người đẹp được sủng ái.
Vả lại việc kế vị hầu như đã được định đoạt ngay sau khi Thế tử Nguyễn Phước Chương - công tử cả - bị thất lộc vì bệnh nặng. Con trai của Thế tử hãy còn thơ ấu. Võ Vương nhân nhận thấy công tử thứ hai là Nguyễn Phước Luân - tức là hoàng khảo của vua Gia Long - thông minh, dĩnh ngộ lại có nhiều đức tính tỏ ra xứng đáng để nối nghiệp lớn sau này, bèn mạng cho Nội hữu Cai cơ Trương Văn Hạnh - được phong làm Thái phó - và Thị giảng Lê Cao Kỷ lo việc dạy dỗ. Để công tử sớm có kinh nghiệm trị quốc, Võ Vương thường cho tham dự các cuộc họp bàn quân cơ, chính sự của các vị đại thần.
Thái phó họ Trương vốn là một người khí khái, cương trực, phò tá chúa Nguyễn rất mực trung thành. Trong nhà Thái phó có nhiều môn khách và trong số môn khách này, có Giáo Hiến[17], một xử sĩ phóng đạt, võ giỏi văn hay từng được Thái phó quý trọng và thường tỏ bày tâm sự mỗi khi có những điều bất ý, băn khoăn về tình hình triều chính.
Vốn đã hiểu rõ nỗi ưu phẫn của Thái phó trước những tệ trạng của triều đường và tình hình nội trị không mấy tốt đẹp do sự lạm dụng quyền hành của Ngoại tả Trương Phúc Loan và tính ham vui chơi, đắm nữ sắc của Võ Vương, nên khi được biết Chúa giao phó công việc dạy dỗ đệ nhị công tử cho Thái phó, Giáo Hiến cho đó là một điều may mắn:
- Tmh hình triều chính hiện nay tuy có nhiều chuyện đáng buồn, nhưng việc nước nên hư sau này lại là do người kế vị có xứng đáng hay không. Qua việc ủy thác này, chúng ta cũng đã đoán biết được cái ý chỉ của chúa thượng về vấn đề chọn người kế vị. Như vậy, với trọng trách dạy dỗ đệ nhị công tử, ít ra tướng công cũng đã có một phương thế may mắn để có ngày gây lại được một nền thiện chính.
Thái phó cũng tỏ vẻ lạc quan:
- Ta cũng mong như vậy. Đệ nhị công tử không những thông tuệ mà còn có khí độ cùng nhiều đức tính có thể đáp ứng kỳ vọng của ta. Cùng Lê quân[18] ta sẽ dốc lòng trong việc giáo đạo để giúp công tử trở thành một vị chân chủ dũng nghị, anh minh.
Nhưng chính trong lúc Thái phó họ Trương và Thị giảng họ Lê tỏ ra hết lòng với nhiệm vụ được ủy thác, thì một khởi niệm chẳng lành đã bắt đầu manh nha trong tư tưởng của Ngoại tả Trương Phúc Loan vốn đã có nhiều cảm tình đối với Ngọc Cầu, một phụ nhân thông minh, khôn ngoan, sớm biết mua chuộc thiện cảm của người mình có thể trông cậy nhằm thực hiện cái mộng lớn mà hạng phi tần được sủng ái thường hay ủ ấp. Hơn nữa, dưới cái nhìn của Ngoại tả, đệ nhị công tử Nguyễn Phước Luân, với bẩm tính thông tuệ và sự rèn cập tận tâm của hai vị phụ đạo thuộc hạng khôi nho, trung nghĩa như vậy, sẽ là một chướng ngại lớn lao cho ông trong sự dụng tâm lung lạc, tiếm quyền về sau. Trên con đường thăng tiến của hạng người giảo hoạt, mọi thức chướng ngại cần phải san bằng, bất chấp luân thường, đạo nghĩa. Cho nên những lúc ra vào vương phủ, với những dự phóng âm thầm về tương lai, cái nhìn đầy toan tính của Ngoại tả lại thường hướng về đứa trẻ thơ ấu được nuôi dưỡng kín đáo trong chốn hậu cung.
Tuy đó chỉ mới là cái tiềm ý còn ẩn tàng bên trong nhưng vẫn không thoát lọt được cái nhìn thấu suốt của hạng người có một nhãn quan mẫn ngộ.
Công tử thứ tư của Quốc Chúa Nguyễn Phước Châu là Nguyễn Phước Tứ - tức là Thiếu sư Luân Quốc công Tôn Thất Tứ, từng được sung chức Cai đội dưới thời Hiển Tôn, là người có khí độ, học rộng, văn hay, rất sở trường về thơ quốc âm[19], đã tự ý xin rút lui về vui hưởng thú điền viên sau khi Võ Vương lên kế vị ít lâu. Có người bạn tâm giao, nhân một dịp cùng đàm đạo về thời cuộc trên chiếu rượu, đã gạn hỏi:
- Người ta thường cho rằng nhân huynh sở dĩ xin rút lui khỏi chốn triều đường, tìm nơi vắng vẻ, là vì muốn tránh trước cái chuyện chẳng lành thế tất phải xảy ra do sự gièm sảm của bọn tiểu nhân vì ghen ghét đức tài. Nhưng trộm nghĩ đã có cái vốn kinh luân vững chắc như nhân huynh, thì lẽ nào chỉ vì sự tị hiềm mà quên nghĩ đến cái phần trách nhiệm của mình đối với đại nghiệp của cả dòng họ, để đành lòng chạy theo cái thú yên hà, tùng cúc mà không chút băn khoăn vì tình trạng pháp lệnh, giềng mối có bề lơi lỏng hiện nay?
Luân Quốc công ngậm ngùi bảo bạn:
- Khi lòng trời đã không tựa nữa thì dù hạng người có tài cất vạc, nhổ núi cũng đành khoanh tay huống nữa là một kẻ tầm thường như ngu đệ này. Đâu có phải là chẳng nghĩ đến điều nhân huynh vừa nói. Chuyện hiến sách của Siêu Quần tiên sinh là do ngu đệ thỉnh cầu, hối thúc. Nhưng một khi ở vương phủ bước ra, vừa gặp nhau, tiên sinh đã tỏ bày nỗi thất vọng và khuyên đệ nên hiểu rõ cơ trời để sớm lách mình ra khỏi vòng cương tỏa. Theo Siêu Quần tiên sinh cái thế suy vong, khuynh đảo tuy còn tiềm tàng nhưng đã súc tích như bát nước đầy. Việc trọng dụng Ngoại tả Trương Phúc Loan là thêm một cớ duyên đưa tới cái thế tràn giạt vào một ngày không xa.
Điều tiên tri của Siêu Quần tiên sinh được Luân Quốc công Nguyễn Phước Tứ nhắc tới trong chiếu rượu là chuyện về sau. Trở lại với những điềm lạ xảy ra trong cõi, thì sau cuộc hội họp triều thần, Võ Vương tỏ ra càng vững tâm, yên trí để lại triền miên, đắm đuối trong thú yến ẩm, tửu sắc giữa khung cảnh hoa lệ của Trường Lạc điện.
Nhưng sau đó ít lâu, tại Đô thành lại xảy ra một chuyện lạ, gây cả một luồng dư luận chấn động, xôn xao trong triều, ngoài quận.
Một đạo sĩ, chẳng biết từ đâu xuất hiện, mặc áo thụng gai, chân mang giày cỏ, chống gậy trúc, dung mạo phong độ có vẻ tuấn dật, oai vệ khác thường khiến dân chúng mỗi khi vừa thoáng trông thấy bóng đã đổ xô lại, vây quanh vòng trong, vòng ngoài để chiêm mộ và nghe lời khuyến giáo. Chính những điều đạo sĩ nói ra càng đánh động óc hiếu kỳ và lòng cảm phục của quần chúng nhiều hơn, vì toàn là những chuyện lạ lùng, huyền bí, dữ dội mà chỉ có hạng người dám coi thường uy quyền của vương phủ, dám xem nhẹ tù tội và tính mệnh của mình, mới có can đảm lớn tiếng loan truyền ngay bên cửa Khuyết.
Theo lời đạo sĩ, thì chẳng còn bao lâu nữa, tai họa sẽ giáng xuống khắp nơi trong toàn cõi phương Nam. Nạn đói lan tràn, ôn dịch thao túng, binh hỏa dấy khởi, đại nghiệp của họ Nguyễn sẽ sụp đổ trong cảnh rồng tranh hổ chọi, chính vì mưu toan cải đổi mạng Trời. Vì thiện ý muốn giúp lương dân thoát khỏi thảm họa, đạo sĩ bất chấp những nguy hiểm xảy đến cho bản thân mình, xa lìa lều tranh, quán cỏ, lặn lội khắp nơi, khuyến cáo chúng dân phải sớm lo tu tỉnh, lánh dữ làm lành, nghiêm nhặt giữ mình trai giới, noi theo con đường chính giáo mà đi.
Những lời tuyên truyền, đồn đãi về chuyện lạ này chẳng mấy chốc đã lọt qua vòng tường lũy sâm nghiêm của vương phủ. Vừa nghe qua, Võ Vương đã nổi cơn thịnh nộ. Lại vì những lời sàm báng xôn xao của một số mỹ nhân được nịch ái trong giới tả, hữu hành lang, Võ Vương liền ra uy sấm sét, cho lệnh bắt đạo sĩ, khép vào tội khi quân, đưa ra pháp trường, nhổ răng, cắt lưỡi, rồi chém đầu, bêu ngay giữa chợ để cảnh giới chúng dân hầu ngăn chận việc bàn tán xôn xao về những lời tiên tri huyễn hoặc, cũng như về câu sấm văn từng được truyền tụng trước đây.[20]
Ngay sau ngày hành quyết đạo sĩ, vào buổi sớm tinh sương, tại Thiên Mụ tự, một vị lão tăng - từ phương xa đến viếng thăm - trong lúc ngồi dùng thuyền trà với Hòa thượng trụ trì, bất giác như sực nhớ ra điều gì, nhìn ra phía trước chùa rồi chép miệng, ngỏ lời:
- Khuya nay lóng nghe âm thanh của Đại hồng chung có gì lạ lắm. Sức ngân nga du viễn có thể là khác hẳn ngày thường. Chuông này là của Quốc Chúa Nguyễn Phước Châu cho đúc phải chăng?
- Đúng như vậy.
- Đáng tiếc! Đáng tiếc! Âm thanh của tiếng chuông đã báo hiệu cái vận số chẳng may của đại nghiệp rồi đó.
Một thư sinh nghèo, nương náu cửa chùa, nhân có mặt trong tiệc trà, nghe thế tỏ vẻ kinh ngạc:
- Bạch thầy, có chuyện lạ lùng như vậy hay sao?
Vị lão tăng mỉm cười:
- Có gì đâu mà phải ngạc nhiên. Nhân kia tích lũy, quả nọ chín mùi, mầm ác đã cao dài thì dương phúc tự nhiên tiêu tán. Nghiệp vương, nghiệp bá xưa nay vốn khó thể xây dựng trên cơ sở thành, tín, nhân nghĩa, bác ái, từ bi, khó tránh được những thủ đoạn, cơ mưu tổn nhân, thất đức, hại tín, hại thành. Đại nghiệp họ Nguyễn cũng vậy.
Chuyên thêm thuyền trà vào chén, lão tăng nói tiếp:
- Lấy chuyện nhỏ mà luận, Nguyễn Hoàng xưa tuy được tiếng là “chính trị khoan hòa, rộng ban ân huệ”,nhưng trong lối xử kỷ, tiếp vật vẫn không thoát được cái tệ loạn đức, phi nghĩa của bọn tiểu nhân. Để tránh khỏi tình trạng “hổ bị cầm giữ xa rừng”, Tiên Chúa đã mật sử bọn thủy tướng Ngạn, Nga, Khuê nổi lên làm phản ở cửa bể Đại An, đẩy bọn người này - vốn xứng hàng con cháu - vào con đường lầm lạc và vào chỗ chết, chỉ vì cái lợi riêng cho bản thân mình mà chẳng chút xót xa, hối hận[21]. Quốc Chúa Nguyễn Phước Châu tuy được tiếng là sùng mộ giáo lý Phật đà, dày công trong việc che chở vườn Thiền, xương minh Đạo pháp, nhưng đến như chính sách trưng binh, chế độ sưu dịch thì quả là một lối hà chính của bọn người bá đạo. Đó là chỉ đơn cử một vài thí dụ điển hình trong muôn vàn chuyện khác. Còn lấy việc đại sự mà nói, thì cái thế phân tranh vì quyền lợi giữa hai họ Trịnh, Nguyễn đã gây ra bao cảnh khốn đốn, điêu linh cho đám lê dân, đã khiến cho biết bao người vì nạn đói khó liên miên, vì cảnh chết chóc như rơm rạ đã phải dắt díu nhau xa lìa nhà cửa, phần mộ, làng mạc, quê hương, đi cầu thực tha phương, chịu cảnh bơ vơ, luân lạc hoặc bỏ mình giữa vùng hoang địa lạnh lùng.[22]
Thư sinh như muốn nói gì, nhưng lại ngồi im lặng lóng nghe:
- Nguyễn Hoàng vào trấn Thuận Quảng, chú trọng chính sách thân dân, chẳng qua là vì cái thế bắt buộc lúc đầu. Nhưng khi cơ đồ đã có bề vững chãi, kể từ Nhân Lộc hầu Nguyễn Phước Lan trở đi thì cái đại nghiệp triển khai ngày càng trở nên một thứ gánh nặng trên vai trăm họ. Nền đắp càng rộng, thành xây càng cao thì cái thế gián cách giữa hạng thống trị với khối lê dân bị trị lại càng sâu rộng. Mối liên hệ giữa răng với lợi lần hồi trở thành mối tương quan giữa chủ nhân ông với nô bộc, nô tì, giữa người với trâu cày, ngựa cưỡi. Kho lẫm khắp nơi trong cõi tràn đầy không còn là huyết mạch của nhân dân để phú, giáo nhân dân, mà là máu mỡ của bách tính để xây đài hạnh phúc, bảo đảm đời sống vương giả, xa hoa cho cá nhân hoặc dòng họ.
Thư sinh nhíu mày, tỏ vẻ hoài nghi và ngắt lời lão tăng:
- Bạch thầy! Luận định như vậy e có quá đáng chăng. Sử quan, đời này qua đời khác, há đã chẳng ca tụng về lối vũ trị, thiện chính cùng những ân đức của các chúa đó sao?
Lão tăng để nở một nụ cười hiền hòa và nhìn thư sinh với cái nhìn đầy thương hại:
- Nên tránh cái bệnh tận tín ư thư[23]. Sử quan thường chỉ ghi nhận về mặt nổi, về cái lớp váng thanh bình, thịnh trị tạo nên bởi cái thế được ưu đãi của một tầng lớp nào đó mà thôi, chứ dưới cái bề mặt vàng son, hoa gấm ấy, chất chứa biết bao là uất hận, phẫn oán của đám thương sinh đông đảo khốn đốn, lầm than. Dưới thời Nhân Lộc hầu chẳng hạn, ngoài cái khổ sưu cao, thuế nặng, nhân dân còn phải điêu đứng vì cái họa bóc lột của một nàng Tống thị cấu kết cùng bọn ác bá, cường hào và cái bệnh hoang phí, hiếu sát của Thượng Vương trong cơn say đắm. Qua thời Dũng Lễ hầu, cái họa chinh chiến dài ngày đã nhiều phen khiến lòng dân chán nản, quân sĩ nhụt chí, và cuộc bại trận năm Vĩnh Thọ thứ ba, bảy huyện ở Nghệ An lọt vào tay họ Trịnh là vì cái lẽ sĩ thứ bất mãn hơn là vì các tướng bất hòa. Rồi đến thời Nghĩa Vương, nhất là thời Minh Vương thì hỡi ôi, tình trạng sa hầm, sẩy hang, lầm than, khốn khổ của bách tính lại đạt tới cái mức độ “bất khả thăng ngôn”. Dân nghèo thuở đó “kiếm đủ cơm ăn không phải chuyện dễ. Lúa thóc làm ra phải đóng góp vào công khố đến bảy tám phần. Hàng năm mỗi người dân phải nộp đến những hai quan tiền thuế thân cùng các thứ tre, gỗ, muối, gạo tùy theo thổ sản[24]. Ngay đến hạng bần cùng, vô sản, tay làm hàm nhai, khi đánh được cá, hái được củi cũng phải nộp cho bọn Cai, Trưởng, bọn chúng hoàn lại cho bao nhiêu thì được nhờ bấy nhiêu[25], đâu dám hé môi kêu ca, than thở. Và đó là hạng già nua, ốm yếu. Đến như hạng cường tráng thì phải lìa bỏ vợ con, cha mẹ, giã biệt nhà cửa, xóm làng để sung vào quân ngũ, làm phu, làm thợ lúc thường, xông pha trận địa khi có chiến tranh, phục dịch như trâu ngựa cho đến lúc đầu bạc, răng long mới được hoàn hương, coi như gần trọn đời chẳng được biết đến cái lạc thú sinh hoạt nơi gia viên, cố quận là gì. Hà chính tàn khốc đến độ, Đại Sán Hán Ông, một vị thượng khách của Quốc Chúa đã vì xúc động mà có những vần thơ cực kỳ bi thiết...
Nhắp một ngụm trà thơm, lão tăng ngâm lớn:
Dân làng toàn lão nhược,
Trai tráng ra tòng quân.
Nuôi trẻ đành nhờ vợ,
Thờ vua phải hiến thân.
Nhà hư sợ mưa dột,
Cây héo mặc sương nhuần.
Nỗi khổ trong làng mạc,
Ai tâu lên chín từng?!
- Những thực trạng như thế sử quan đâu có ghi chép. Và chính cái hà chính ấy còn làm hại lây đến chốn Thiền quan. “Cha mẹ sợ con phải đi lính, vừa lớn lên đã cho vào chùa làm sãi, hầu mong trốn tránh việc quan”[26]. Dưới thời Minh Vương, cứ nhìn bề ngoài, Phật giáo quả có vẻ sum sê, thịnh đạt, nhưng đi sâu vào bề trong thì đó là thời kỳ “Phật pháp trở nên hỗn loạn, chẳng những tôn phái không ai hỏi đến mà các việc Luật, Luận cũng đều xếp xó, bỏ qua”[27]. Ác nghiệp cứ thế mà gia tăng, tích lũy và cái “xâu ác” do sự hưng nghiệp tạo ra đã đầy, cán cân “công” và “tội” đã nghiêng lệch quá nhiều thì cái đảo vận của đại nghiệp cũng nương theo mà phát hiện. Lòng dân đã ly gián thì lòng trời đâu còn tựa nữa. Quả sắp đến độ chín mùi...
Rồi nhân cùng thư sinh ra trước sân chùa ngắm xem cảnh trí, lão tăng hướng nhìn xuống dòng sông rồi nhìn về phía Đô thành, trầm ngâm lặng lẽ giây lâu, quay lại đưa tay bẻ một cành trúc, tiến tới phía trước vách chùa phía đông, vận dụng một cành trúc như vận dụng một cán bút lớn, hoa tay theo cái thế phượng múa, rồng bay, viết vào khoảng không ở gần mặt vách hai dòng chữ vô hình.
Viết xong, nhân thấy vẻ ngạc nhiên của thư sinh, lão tăng ném cành trúc ngỏ lời với giọng trầm buồn:
- Long mạch ở Hà Khê dứt nhưng chưa tuyệt. Chín năm trời, một khoảnh khắc, mọi sự rồi sẽ tỏ tường.
Dứt lời, quay vào chùa cáo biệt, cùng một chú tiểu quẩy bầu, gánh níp ung dung lên đường. Thư sinh đứng lặng nhìn theo, và, chỉ trong thoáng chốc, đã thấy bóng lão tăng cùng chú tiểu biến tan mất hút giữa khoảng khói cuốn, mây vần.
Tương truyền chuyện này xảy ra vào tiết cuối xuân năm Cảnh Hưng thứ hai mươi sáu, tức năm Ất Dậu (1765).
❀ ❀ ❀
[1] Dựa theo “Võ Vương et la Prophétie d'un ermite” par L. Cadière, B.A.V.H. 1915. (TG)
[2] Tức người Pháp.
[3] Description historique de la Cochinchine par Jean Koffler, traduction frse de Victor Barbler. Revue Indochinoise 1911, tome XV. (TG)
[4] Les Européens qui ont vu le Vieux Hué: l’abbé de Choisy, B.A.V.H. No.3 Juillet 1929. (TG)
[5] Thừa lương: Hóng mát.
[6] Dựa theo “Le Quartier des Arènes” (Souvenirs des Nguyễn) par L.Cadière B.A.V.H. 1925, page 129. (TG)
[7] Voyage de Pierre Poivre en Cochinchine, Revue de l'Extrême- Orient, Vol. III, p.422. (TG)
[8] Nặc Nguyên: vua chân Lạp. Côn man: Người Chân Lạp gốc Chiêm Thành.
[9] Đông Khẩu, Tân Châu, Sa Đéc chính là ba đạo chia từ Tam Phong Long ra.
[10] Việt Nam sử lược, Lệ Thần Trần Trọng Kim (Mở đất Việt Nam và sự giao thiệp với Chân Lạp), tr.332, 333. (TG)
[11] Đ.N.N.T.C.. Tỉnh Thanh Hóa (tập hạ), mục Nhân vật: Trương Phúc Phấn, tr.129. - Đ.N.N.T.C.. Thừa Thiên phủ (tập trung), mục Nhân vật bản triều: Trương Phúc Phấn, tr.35. - Những bước đầu của anh em Tây Sơn của Gs. Nguyễn Phương (Triều Chúa thối nát), Tạp chí Đại học số 26, tháng 4-1962, tr.321. (TG)
[12] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập trung), mục Nhân vật bản triều: Trương Phúc Phấn, tr.35. (TG)
[13] Những bước đầu của anh em Tây Sơn của Gs. Nguyễn Phương. Tạp chí Đại học số 26, tr.322. (TG)
[14] Vovage de Pierre Poivre en Cochinchine. Voyage du vaisseau de la Compagnie le “Marchault” à la Cochinchine en 1749 et 1750. Journal d’un voyage à la Cochinchine depuis le 29 Aout 1749, jour de notre arrivée, jusqu’au 11 février 1750 - Revue de l’Extrême-Orient, Vol.III (trích dẫn trong “Những bước đầu của anh em Tây Sơn” của Gs.Nguyễn Phương). (TG)
[15] Vũ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (trích dẫn trong Việt sử: xứ Đàng Trong - Duệ Tôn Nguyễn Phước Thuần). (TG)
[16] Vũ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (trích dẫn trong Việt sử: xứ Đàng Trong - Duệ Tôn Nguyễn Phước Thuần). (TG)
[17] Giáo Hiến: Trương Văn Hiến, thầy giáo dạy của ba anh em nhà Sơn Tây: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, do vậy gọi là Giáo Hiến.
[18] Tức Lê Cao Kỷ.
[19] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập trung), mục Nhân vật, tôn thất bản triều: Tôn Thất Tứ, tr.18, 19. (TG)
[20] Dựa theo “Võ Vương et la prophétie d'un ermite” par L. Cadière, B.A.V.H. 1915. (TG)
[21] Đại Việt sử ký toàn thư (trích dẫn trong “Việt sử xứ Đàng Trong” của Gs. Phan Khoang): Thuận Đức năm đầu (1600), Tiên chúa mật sử bọn thủy tướng là Phan Ngạn, Ngô Đình Nga, Bùi Văn Khuê làm phản ở cửa biền Đại An, rồi tự mình xin đi đánh dẹp. Ngạn, Khuê vốn nhận Tiên chúa là cậu, dấy binh nổi loạn, vây đánh kinh thành rất gấp, phóng hỏa đốt kinh thành, phố xá, dinh trại, trăm họ kinh sợ, dắt mẹ bồng con đi trốn. Bình An vương phải phò vua Lê theo đường Mỹ Lương về Thanh Hóa để giữ vững căn bản. (TG)
[22] Việt Nam sử lược, Lệ Thần Trần Trọng Kim (Mở đất Việt Nam và sự giao thiệp với Chân Lạp), tr.329. (TG)
[23] Tận tín ư thư: Tin hoàn toàn vào sách vở (Mạnh Tử)
[24] Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán, tr.113. (TG)
[25] Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán, tr.113. (TG)
[26] Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán, trang 261 có chép: “… Vì việc bắt sung quân, dân còn lại đều ốm yếu tàn tật, ít có người tráng kiện. Cha mẹ sợ con bị bắt lính, con lớn tuổi liền cho đi ở chùa làm sãi may ra được khỏi. Vì cớ ấy tăng đồ rất đông, nhưng Phật pháp cũng do đó sinh ra hỗn loạn”. (TG)
[27] Hái ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán, trang 261. (TG)