Trong lúc Thiên Mụ tự được hưởng thụ dồi dào ân sủng, thì Phú Xuân, kể từ năm 1712, phải lâm vào cái số phận hẩm hiu như Kim Long thuở trước. Từ cái cương vị một thủ phủ rạng vẻ phồn vinh, đô hội, nó phải thầm lặng rút lui vào cái tư thế khiêm nhường của những lục dã, hoa thôn. Đã có lúc cuộc đất quý này đâm ra nghi ngờ cả những yếu tố “giai thắng” mà các nhà phong thủy tài danh từng gán vào cho nó. Phải chăng cái vị trí nó cung hiến cho thủ phủ chưa xứng và chưa đúng với điểm kết cục của long mạch ở gò Hà Khê để đảm bảo sự củng cố và trường cửu của đại nghiệp? Phải chăng Quốc Chúa đã bị ám ảnh, ngay từ ngày kế thừa nghiệp lớn, về sự thăng hà quá vội của Anh Tôn Hiếu Nghĩa Hoàng đế sau ngày xây dựng tân phủ Phú Xuân mới được ba năm?
Sử văn hoàn toàn thinh lặng về những nghi vấn trên đây. Chỉ biết Phú Xuân phải chờ tới trên một phần tư thế kỷ, qua hai đời chúa - Minh Vương và sau đó, Ninh Vương Nguyễn Phước Trú (1725-1738)[1] - mới thu hồi lại được ưu thế để vươn lên tột đỉnh thịnh đạt dưới thời Võ Vương Nguyễn Phước Khoát, tức Thế Tôn Hiếu Võ Hoàng đế (1738-1765).
Võ Vương Nguyễn Phước Khoát - công tử cả của Ninh Vương, mẹ là Trương thị, sinh năm Giáp Ngọ Lê Vĩnh Thịnh năm thứ mười (1714), hiệu là Từ Tế đạo nhân - kế vị năm hai mươi bốn tuổi, là một vị chúa thông minh, cương nghị, biết quan tâm đến chính sự, nhưng lại có tính tàn nhẫn, tham lam, và ham đắm cái thú yến ca, tửu sắc.
Ngay sau khi kế vị, một sớm, có một kẻ sĩ hào hoa, tuấn lãng, lấy tư cách là thư sinh đến xin bệ kiến để hiến sách. Võ Vương cho được bái yết. Xem qua sách lược và hỏi qua nhiều vấn đề quan trọng về chính sự, Võ Vương biết ngay kẻ hiến sách quả là hạng người xuất chúng, kiến thức uyên bác, kinh luân, thao lược gồm tài, lại tỏ ra tinh thông về Lý số, bèn hỏi họ tên. Được biết tên họ là Nguyễn Đăng Đàn, người huyện Hương Trà[2]. Võ Vương cả mừng, phán bảo:
- Thì ra chính là Siêu Quần tiên sinh đây sao? Ta đã từng được nghe chúng dân ca tụng tài đức của nhà thầy từ lâu, nay lại được nhà thầy hiến sách thực là một may mắn lớn cho ta...
Siêu Quần tiên sinh vội nghiêng mình, từ tốn:
- Thân chúa thượng, chẳng qua vì quá yêu mà có số người đã xưng tụng một cách quá đáng như vậy, khiến kẻ dật dân[3] này phải tự thẹn vì rất nhiều cái danh hư truyền của thiên hạ gán cho.
Nhân sẵn mối ưu tư vì một câu sấm truyền chẳng lành, Chúa hỏi:
- Gần đây trong dân gian có đồn đãi về câu sấm văn“Bát thế hoàn trung đô”, nhà thầy nghĩ sao về chuyện đó?
- Thân chúa thượng, quả có như vậy. Đó là sự chuyển vận của thiên cơ do rất nhiều nguyên nhân sâu xa tích lũy từ trước. Theo sấm văn, đại nghiệp này chỉ vững được tám đời, rồi mất. Nhưng bên cạnh cái lý “Thiên định” còn có cái lý “nhân định thắng thiên”. Chính vì đó mà kẻ dật dân này mới xin hiến sách, nhằm mong tránh được cái họa chung cho trăm họ.
- Nhưng có chắc là thành sự hay không?
- Thân chúa thượng, cổ kim đã từng chứng minh muốn được lòng Trời không gì hơn là làm đẹp ý dân, muốn làm đẹp ý dân không gì hơn là rộng ban đức nghĩa, xa truyền oai lệnh, lấy trung tín làm giáp trụ, lo cảnh yên vui, no ấm cho sĩ thứ như lo cho chính thân mình.
Võ Vương tỏ vẻ hoan hỉ:
- Nhà thầy đã vì ta mà đến, há chẳng vì ta mà vui lòng, vứt bỏ cần câu Vị thủy, ở lại giúp đời hành sự hay sao?
Siêu Quần tiên sinh vội tâu:
- Kẻ dật dân này vốn đã bén mùi hang mây, cành khói, quen vui với tơi, nón, cá, tôm, lại xét thấy những hạng khôi nho, lương đống phò tá đắc lực không hiếm gì người, xin chúa thượng thể tình mà tha cho cái khổ phải xa lìa trúc mai, rừng, suối. Khi cần, sẽ xin tìm đến.
Trong số môn đệ đông đảo của Siêu Quần tiên sinh từng theo thọ giáo từ ngày tiên sinh mở trường dạy học ở chân núi Thanh Thủy[4], có người hỏi tiên sinh vì lẽ gì đã chịu hiến sách lại không chịu phò tá Võ Vương, tiên sinh thở dài mà đáp:
- Khi chưa giáp mặt Chúa, ta có nhiều tin tưởng là những sách lược của ta sẽ được nghe theo. Nhưng trong lúc bệ kiến, thường để ý đến dung mạo, thần sắc, lại xét qua ngôn ý của Người, ta nhận ra Chúa không phải là hạng thực sự ưa chuộng vương đạo, nhất là không đủ kiên nhẫn để tin tưởng vào phương sách chuyển đổi vận số, cứu vãn nguy cơ bằng đường lối trung chính. Chúa là hạng quyền xảo, thích cơ mưu... chỉ cầu chuyện thành tựu ngay trước mắt mà không nghĩ được chuyện lâu dài về sau. Đã vận dụng cơ mưu thì dù có thành công cũng chỉ là tạm bợ. Ăn thua ở một chữ “thành“ mà thôi.
Người môn đệ cầu xúi được biết rõ hơn, Siêu Quần tiên sinh tỏ dáng ngậm ngùi:
- Con hươu đã đến lúc phải sổ, dù có trói buộc bằng xiềng xích chặt chẽ đến đâu rồi nó cũng thoát ra. Đại nghiệp của họ Nguyễn dù có được cố gắng duy trì bằng những cơ mưu đánh tráo thiên cơ, cũng chỉ kéo dài thêm một đời nữa là cùng.
Tương truyền rằng: đúng như điều dự đoán của Siêu Quần tiên sinh, Võ Vương, sau đó, vì nghe theo lời giải thích sấm văn của một thuật sĩ người xứ Nghệ An cho rằng qua tám đời chúa - chỉ tám mà thôi - đại nghiệp sẽ lọt vào tay người khác, phương Nam sẽ nằm dưới ách thống trị của những người lạ[5] và muốn thoát được cái họa này cần phải sớm có cơ mưu để cải đổi mạng Trời, đánh lạc được sự ứng nghiệm của Thiên cơ.
Võ Vương lại suy nghiệm kỹ về mấy chữ “hoàn trung đô” càng lo ngại về nỗi Đàng Trong sẽ có thể bị sáp nhập với Đàng Ngoài, thuộc uy quyền vua Lê, chúa Trịnh như xưa nên càng tin và nghe lời thuật sĩ.
Trị sở, từ xã Bát Vọng, huyện Quảng Điền, liền được dời trở về Phú Xuân. Phủ chánh được lập ngay bên tả phủ cũ và hoàn thành vào tháng Giêng năm Kỷ Mùi (T739). Vào tháng Sáu năm sau, triều thần dâng Chúa tôn hiệu Thái phó Quốc công.
Việc lập phủ chánh tuy đã hoàn tất, nhưng với cái ý hướng đổi mới theo cơ mưu của thuật sĩ, Võ Vương còn ra lệnh xây dựng Đô ấp. Công cuộc kiến tạo này kéo dài trên năm năm trời và được coi như là hoàn thành vào năm Giáp Tí (1744).
Từ cái thế bị thất sủng, Phú Xuân đột nhiên gặp tuần thái lai. Không những chỉ được phục hồi phong độ xưa, mà còn được tiến xa hơn theo vận hội thăng hoa, đạt tới cái bề thế tráng lệ, huy hoàng chưa từng có của một Thượng đô.
Xét về mặt phong thủy, cái khí tượng “thiên phủ” thực đã biểu hiện rõ ràng: “Đất bằng phẳng như bàn tay, rộng hơn mười dặm, ở giữa là chánh dinh - đất cao, bốn bề đều thấp - tức là chỗ nổi bật ở giữa đất bằng, ở vị Càn (tây bắc), trông về hướng Tốn (đông nam), đặt ngang sống đất (long tích), trông xuống bến sông, đằng trước là quần sơn, chầu về la liệt, thu hết nước ở bên hữu nên của cải và vật lực giàu thạnh”[6].
Lầu son, gác tía, điện các nguy nga, cảnh sắc trù mật, phồn vinh, phong khí văn vật, hoa lệ, so với xưa khác hẳn một trời, một vực[7]. Ngay tại vương phủ mọc lên biết bao công trình kiến trúc quy mô: nào điện Kim Hoa, điện Quang Hoa, điện Quang Văn, nào là Diên Trì các, Triều Dương các, nào là Tựu Lạc đường, Chính Quan đường, Trung Hòa đường, Di Nhiên đường, Sướng Xuân đường, nào là đình Thụy Vân, đình Giáng Hương lại có hiên Đồng Lạc, có am Nội Viện, lối kiến trúc rất công phu, cầu kỳ, phô diễn được tất cả vẻ cao sang, vương giả[8]. Khuôn viên của vương phủ hình vuông, có ba lớp thành bao bọc, có bảy cửa thành ra vào, cửa chính trông thẳng ra sông có xây vọng lầu. Một trăm năm chục đại bác cỡ nhỏ đặt rải rác quanh thành, ba khẩu thần công lớn đặt cách vương phủ không xa, về phía tả, làm tăng thêm vẻ uy nghiêm, đường bệ[9].
Vì dụng ý đổi mới, đổi lạ, lại ưa chuộng việc chỉnh nghi hình thức, khoa trương cái khí tượng vương giả của Đô ấp, nên ngoài những công trình kiến trúc này, Võ Vương còn cho sửa sang lại điện cũ ở phủ Dương Xuân - vốn được coi là Ấn phủ dưới thời Minh Vương vì vào năm Canh Thìn (1700), nhân trùng tu cơ Tả Thủy của Phủ, lính đào đất đã bắt gặp một ấn đồng có khắc chữ“Trấn Lỗ tướng quân chi ấn”[10] - và xây cất điện Trường Lạc cùng hiên Duyệt Võ ở phía thượng lưu sông Hương với hậu uyển có đặt giả sơn, kỳ thạch, đào ao vuông, hồ cong, cất nhà thủy tạ, chắp nối phi kiều, xây tường bao quanh có tạc hình cỏ hoa, long, hổ, lân, phụng để làm nơi thừa lương, yến hội.[11]
Phía trên cũng như phía dưới Đô ấp, quân trại, quan xá được xây cất la liệt, “... bày hàng như bàn cờ. Nhà của Thủy quân nằm trên bờ bên kia sông. Xưởng thuyền, kho lúa tọa lạc ở các xã Hà Khê, Thọ Khương. Nhà vườn của công, hầu, quý thần nằm men hai bờ thượng lưu... Các nhà đều lát nền bằng đá, trên lát ván kiền kiền, có xối thiếc để hứng nước”[12]. Tiếp theo là thị phố trù mật, đường sá rộng rãi, chợ búa đông đảo, nhà cửa san sát, mái ngói dăng hàng, quang cảnh trông thực tưng bừng, rộn rịp. Dưới sông ghe câu, đò, nốt, thuyền buôn, thuyền chài qua lại liên miên, tấp nập. Từ hữu ngạn sông Hương nhìn qua, hay từ Triều Dương các phóng xuống một cái nhìn bao quát, cảnh trí của vương phủ ở Phú Xuân thời bấy giờ quả là cảnh trí của một Thượng đô uy nghiêm, nằm giữa một vùng địa thế vừa hùng tráng lại vừa u nhã với sự phối hợp tuyệt mỹ của núi sông thanh tú.
Công cuộc kiến tạo đô ấp vừa hoàn tất thì tầm quan trọng của Phú Xuân lại được tăng thêm bởi một biến cố tốt lành xảy ra ngay tại Thượng đô. Biến cố này đã từng xảy ra một lần dưới thời Minh Vương, cách năm mươi mốt năm về trước, vào ngày Ất Mẹo, mười một tháng Ba năm Quý Dậu (13-4-1693). Vào ngày lành ấy, quần thần đã triều bái, tung hô vạn tuế và suy tôn Minh Vương lên ngôi vị Quốc chúa[13]. Cảnh tượng này lại được tái diễn ở vương phủ, tại Phú Xuân, vào tháng Tư năm Giáp Tí, tức năm 1744[14], trong một khung cảnh trang nghiêm huy hoàng.
Nhân vì đúng lúc công cuộc kiến tạo đô ấp vừa hoàn tất, có một cây sung trong vương phủ bỗng nở hoa chi chít đầy cành, trông cực kỳ rực rỡ, ngoạn mục, người người đều cho là cát triệu[15]. Quần thần, do Lễ bộ kiêm Lại bộ Chuyết Trai Nguyễn Đăng Thạnh[16] cầm đầu, bèn cùng dâng biểu xin Thế Tôn nghĩ đến việc chính thức đăng vương vị. Trước bệ ngọc bầy tôi cùng khẩn khoản tâu bày:
- Các sao đã chầu về Tử vi, mặt trời đã lên đến hoàng đạo. Chỉ với chục dặm bờ cõi, nhà Thương đã dựng nền “huyền điểu”, huống hồ ba nghìn dặm dư đồ, sao còn chịu đứng địa vị hoàn khuê.[17]
Điều thỉnh cầu này quả rất hợp ý của Võ Vương, nhưng bề ngoài Chúa vẫn cố tỏ vẻ khiêm nhường, từ tốn:
- Ta vừa kế thừa nghiệp lớn chưa được bao lâu, ngày đêm những còn lo ngại về nỗi đức tài non kém chưa xứng đáng vào đâu với cái trọng trách vỗ yên trăm họ, giữ vững giềng mối, làm sao ta đã dám nghĩ tới chuyện tự đặt mình vào một ngôi vị cao cả như vậy mà không sợ đắc tội với các đấng tiên vương.
Ngoại tả[18] Trương Phúc Loan vội tâu bày những lẽ thiệt hơn:
- Thân chúa, chúa thượng vì đức khiêm nhường mà phán truyền như vậy, chứ xét ra cho thấu lý thì việc thể theo ý nguyện của quần thần để chính thức đăng vương vị là một chuyện chính đáng, phù hợp với ý chỉ và di chỉ của các đấng tiên vương. Việc Quốc Chúa xưa đã cho đúc Quốc tỷ, dùng vương hiệu “Đại Việt Quốc vương” cách đây những bốn mươi tám năm về trước[19] là một bằng chứng. Vả lại hiện nay, tình hình nội trị, ngoại an, nhờ thánh đức của chúa thượng đã đạt tới chỗ ổn cố, vững chắc trong ngoài, đem lại cảnh hoan lạc, âu ca cho bách tính. Công cuộc mở mang bờ cõi cũng tiến triển khả quan, uy danh, thanh thế của chúa thượng đã lan rộng về Nam tận vịnh Xiêm La và dinh Long Hồ. Còn về phương Bắc, tình thế càng có lợi cho ta hơn trước. Trịnh Giang đã hoang dâm, bạo ngược lại kiêu căng, lộng quyền. Hiển Tôn thì ươn hèn, nhu nhược. Việc Trịnh Cương trước kia mưu lập Duy Phường làm Thái tử, ép buộc Dũ Tôn trao ngôi[20] không còn che mắt được ai. Rồi đến Trịnh Giang cùng tể thần Nguyễn Công Kháng âm mưu đổi thay chế độ, lại đoạt tước của Thái thường tự khanh Bùi Sĩ Tiêm vì cái tội dám vạch rõ mưu gian[21] sau đó lại ngang nhiên phế bỏ, ám hại Hôn Đức công cùng các triều thần có tiết tháo[22]. Những hành động này đã làm sôi sục căm thù khắp nơi ở Đàng Ngoài và đã tạo đoan cho nhiều vụ nổi loạn. Mặc dù âm mưu đốt phá kinh thành và vụ Lê Duy Mật[23] bị đàn áp kịp thời, nhưng cái cơ loạn lạc vẫn không vì đó mà ngăn chận nổi, trái lại có thể còn bành trướng vì tình trạng đói kém và cái thế thao túng của giặc Nguyễn Hữu Cầu ở khắp cả một vùng Đồ Sơn[24]. Tưởng đó cũng là thêm một lý do để có thể coi việc đăng vương vị của chúa thượng vào lúc này không những đã hợp lý, hợp tình mà còn rất đỗi hợp thời.
Võ Vương nghe xong liền đồng ý. Lễ chính thức đăng vương vị được định vào ngày mười hai tháng Tư[25] và được tổ chức với tất cả sự huy hoàng, long trọng chưa từng thấy ở Thủ phủ từ trước đến nay.
Chung quanh vương phủ, nhất là ở mặt tiền trông về phương nam, dưới sông cũng như trên bộ, cờ xí rợp đất, đèn kết, hoa đăng, nhan nhản phường môn, hương án. Năm chục thớt voi phủ nhung màu, thắt lụa màu[26] mang bành vàng có lót thảm đỏ, có tàn che, lính hầu, có quản tượng mặc đồng phục điều khiển và bốn trăm kỵ binh[27] nón dấu màu vàng, áo dấu đỏ màu ráng pha, xếp thành đội ngũ, đứng dàn hai bên cửa chính, phía dưới vọng lầu. Tất cả chiến thuyền đều được tập trung về Đô thành. Một chiếc hồng thuyền lớn cùng một đội thuyền hộ giá đậu ngay bến chính, trước mặt vương phủ. Quang cảnh sông Hương, từ phủ Dương Xuân, qua điện Trường Lạc, đến tận thôn Vĩ Dạ, trông thật là tưng bừng, hùng tráng.
Vào ngày nói trên, một chiếu đại xá ban ra khắp trong toàn cõi. Sau khi đã cử hành lễ đăng vương vị bên trong vương phủ, giữa những tiếng thần công vang nổ rền trời, Quốc vương ngự ra cửa thành, trên chiếc kiệu sơn son, thếp vàng có tám lính khiêng[28], có các thượng quan cưỡi ngựa theo sau hộ giá, đi giữa hai hàng cận vệ áo đỏ, mão đỏ thếp vàng và đoàn lính hầu đông đảo, mang tàn, lọng, cờ, quạt. Dẫn đầu xa giá là bốn thớt Kinh tượng cao lớn nhất và hai đội Thân quân gồm toàn những hạng lực sĩ, có trang bị đao thương.
Tiếng loa truyền lệnh dẹp đường, tiếng thanh la, tiếng trống long chuyển không khí thị phố, chen lẫn tiếng tung hô vạn tuế nổi lên như sấm dậy từ những rừng người chen chúc hai bên chính lộ, cách xa vệ đường những nảm sáu thước, và khép nép, thu hình phía sau đám bô lão, chức sắc mặc lễ phục, chầu chực bên các hương án nghi ngút hương trầm để bái nghinh xa giá.
Vì điện Trường Lạc là nơi được chọn để Quốc vương cùng quần thần hội yến, nên sau khi xa giá đã diễn hành qua khắp Đô ấp để chúng dân được thỏa lòng chiêm mộ, Quốc vương ngự xuống hồng thuyền cùng đám quốc thân và các thượng quan. Những cuộc vui chung dành cho sĩ thứ cũng được bắt đầu ngay từ giờ phút đó. Không khí rộn rịp, vui nhộn hơn cả ngày xuân, ngày Tết kéo dài suốt tháng. Tại điện Trường Lạc thực không còn bút mực nào tả xiết được cái cảnh sắc nghiêm lệ, xa hoa, lộng lẫy của những cuộc yến ẩm, ca vũ mà Quốc vương muốn dành cho quần thần vào dịp khánh điển cực kỳ trọng đại.
Và Phú Xuân lẽ tự nhiên phải được hưởng nhiều ân sủng. Cảnh nội toàn cõi chia làm mười hai dinh, riêng Phú Xuân được gọi là Chánh dinh, đô ấp được xưng là Đô thành[29]. Phong khí của Phú Xuân càng trở nên tôn nghiêm theo vận hội mới.
Võ Vương, sau khi chính thức đăng vương vị, với cái chủ đích cải đổi mạng trời, liền ủy thác cho Chuyết Trai Nguyễn Đăng Thạnh tham chước chế độ các triều đại, sáng định việc đổi mới chế độ[30]. Quốc tỷ được đúc. Các vị chúa đời trước được truy tôn và mạng cho xây cất nhà Tôn Miếu. Những danh xưng thuộc về chúa đều được đổi thay. Phủ gọi là điện. Khi khai trình lên chúa việc gì phải dùng chữ tấu thay cho chữ thân. Văn thư tuy vẫn dùng niên hiệu của vua Lê, nhưng đối với thuộc quốc thì xưng là Thiên Vương. Trong việc bổ quan lại vẫn dùng hai chữ thị phó hoặc lệnh truyền như trước, nhưng phía dưới kiềm ấn Quốc Vương chứ không kiềm dấu Thái phó Quốc công và Tổng trấn Tướng quân. Trước kia bà con của chúa dù được trọng dụng tín nhiệm đến đâu, khi còn sống vẫn không được tặng Quận công. Sau ngày đăng vương vị, cải đổi lệ này và phong tặng Quận công cho các bậc quốc thân. Con trưởng của chúa vẫn gọi là Thái công tử, nhưng vợ chánh của chúa trước kia gọi là Chánh phu nhân, nay đổi là Tà hành lang và vợ lẽ là Hữu hành lang.[31]
Để làm tỏ rạng phong thế của một vương quốc, Võ Vương ra lệnh tổ chức lại các cơ quan chính quyền ở Trung ương và định lại triều phục. Ở Chánh dinh, chức Ký lục đổi thành Lại bộ, Nha úy đổi thành Hộ bộ, lại đặt thêm Binh bộ và Công bộ. Thân quân đổi thành Vệ lâm quân, Văn chức đổi thành Hàn lâm viện[32]. Về triều phục, văn quan từ chức Quản bộ đến chức Chiêm hậu, Huấn đạo, võ quan từ chức Chưởng dinh đến Cai đội, mão đội phải trang sức vàng bạc, mãng bào phải dùng thái đoạn. Bậc bang thì áo mãng bào có thêu thủy ba, mão cũng dát vàng, dát bạc[33]. Việc thay đổi triều phục này càng làm rạng rỡ thêm vẻ văn vật của chốn Thượng đô và càng nâng cao giá trị của những ơn mưa móc ban ra từ cửa khuyết, đến độ những hạng hào phú ở xa xôi tận cùng bờ cõi, như cha con Lâm Tổ Quan - ông ngoại Trịnh Hoài Đức - ở Đại phố châu Nông Hải cũng nô nức dâng vàng lạc quyên để cầu được phong chức Nội viện thị hàn chỉ vì lòng hâm mộ sự vinh hoa của cân đai, áo mão[34]. Việc chiêu nạp hiền tài cũng vì đó mà càng được các tầng lớp sĩ thứ nô nức hưởng ứng đông đảo hơn xưa bội phần qua các khoa thi mở ngay trong vương phủ. Từ năm Canh Thân (1740), Võ Vương đã cho định lại phép thi. Những người đậu về đệ nhất gọi là Nhiêu học được miễn sai năm năm, đậu kỳ đệ nhị và đệ tam dược miễn sai chung thân, đậu kỳ đệ tứ gọi là Hương cống được bổ đi làm Tri phủ, Tri huyện[35]. Cũng về y phục, về phần nhân dân, Võ Vương đã cho thực hiện một sự cải cách lớn trong lối trang phục, trai gái đều mặc áo ngắn, theo kiểu gần giống như người Tàu[36]. Lại cùng với sự cải phục sắc, còn “đổi phong tục trong dân gian theo lối mới, trừ tập tệ ở Bắc Hà từ xưa nay “[37].
Phú Xuân không những được tăng thêm cái phong khí văn vật mà còn là một nơi đô hội rộn rịp vì cái không khí hỉ lạc, ưu du. Vì ngoài những cuộc yến hội, xướng ca trong vương phủ, Võ Vương còn cho tố chức nhiều cuộc hội hè hay những cuộc giải trí quy mô, đáng kể nhất là những trận đấu giữa voi với cọp tại cồn Dã Viên, mỗi khi các dinh bắt được mãnh hổ đem dâng cho Chúa. Không khí, quang cảnh của cuộc đấu sức giữa hai loài mãnh thú này là không khí, quang cảnh của một ngày đại hội. Từ các thôn mạc xa xôi, dân chúng cơm đùm, cơm gói đổ về. Võ Vương ngự đến đầu cồn trên một chiếc thuyền có lọng đỏ, đi giữa đoàn thuyền hộ giá. Chúa dùng hai thanh tre khỏ mạnh vào nhau để ra hiệu khai mạc cuộc vui. Trên cồn, một bên là hai hàng voi gồm bốn chục thớt, một bên là những mãnh hổ bị nhốt trong cũi lớn. Sau khi Võ Vương đã ra hiệu lệnh, mãnh hổ lần lượt được thả ra, và tùy theo số hổ, một số voi được rời khỏi hàng ngũ, hùng hổ tiến tói dùng vòi quật ngã địch thủ, và khi đã quật ngã được rồi, phải dùng ngà mà xúc, tung mãnh hổ lên cao và rất nhiều lần cho đến khi hổ chết. Những cuộc đấu sức này thực ra không gây được nhiều hồi hộp trong đám khán giả đông như kiến cỏ, và sự đắc thắng của đám thị tượng cũng không có gì vẻ vang, oanh liệt, vì mãnh hổ trước khi được thả ra để tranh hùng, đã bị nhổ sạch nanh, vuốt, buộc chặt mõm lại, đồng thời còn bị vướng vấp vì một sợi thừng buộc lòng thòng, đầu thừng lại cột chặt vào một cây trụ lớn.[38]
❀ ❀ ❀
[1] Tức Nguyễn Phước Chú, chúa thứ 7 nhà Nguyễn, sinh năm 1697, lên ngôi Chúa năm 1725.
[2] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập trung), mục Nhân vật bản triều: Nguyễn Đăng Đàn, tr.38. (TG)
[3] Dật dân: Kẻ nhàn rỗi, ẩn sĩ.
[4] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập trung), mục Nhân vật bản triều: Nguyễn Đăng Đàn, tr.38. (TG)
[5] Đại Nam thực lục tiền biên quyển 10 (trích dẫn trong bài “Võ Vương et la Prophétíe d'un ermite”, L. Cadière), B.A.V.H. 1915.
[6] Vũ biên tạp lục quyển II của Lê Quý Đôn (trích dẫn trong Việt sử: xứ Đàng Trong: Thế Tôn Nguyễn Phước Khoát (1738-1765)). (TG)
[7] Voyage de Pierre Poivre en Cochinchine. Revue de l'Extrême-Orient Publiée par M.H.Cordier, Volume III, p.442. (TG)
[8] Đ.N.N.T.C.. - Kinh sư, mục Thành trì, tr.18. (TG)
[9] Description historique de la Cochinchine par Jean Koffler, traduction frse de Victor Barbler des M.E. de la Revue Indochinoise, 1911, tome XV, P.572. (TG)
[10] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập thượng), Sơn Xuyên: Gò Dương Xuân, tr.56. (TG)
[11] Đ.N.N.T.C.. Kinh sư, mục Thành trì, tr.18. (TG)
[12] Vũ biên tạp lục quyển II, của Lê Quý Đôn (trích dẫn trong Việt sử: xứ Đàng Trong). (TG)
[13] Đại Nam thực lục tiền biên, quyển VII, 5a (trong “Les Européens qui ont vu le Vieux Hué: Thomas Bowyear”). (TG)
[14] “Thành trì chí của Trịnh Hoài Đức”, Gs. Trần Kinh Hòa dịch thuật, tr.155 (Tạp chí Đại học số 25).
[15] Vũ biên tạp lục quyển II của Lê Quý Đôn (trích dẫn trong Việt sử: xứ Đàng Trong: Thế Tôn Nguyễn Phước Khoát). (TG)
[16] Nguyễn Đăng Thạnh hiệu là Chuyết Trai.
[17] Huyền điểu: chim đen. Bà Giản Dịch nuốt trứng chim huyền điểu sinh ra ông Tiết là nhà tổ nhà Thương, nên người ta thường gọi nhà Thương là cơ nghiệp “huyền điểu”. (TG)
[18] Những bước đầu của anh em Tây Sơn của Gs. Nguyễn Phương, Tạp chí Đại học số 26, tháng 4-1962, tr.323. (TG)
[19] Theo bài “Bản sư Hải ngoại kỷ sự” của Thích Đại Sán thì Minh Vương Nguyễn Phước Châu đã xưng Đại Việt Quốc Vương vào năm Bính Tý (1696), như vậy là trước ngày xưng vương của Võ Vương Nguyễn Phước Khoát 48 năm (Xem Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán, phần khảo cứu của Gs. Trần Kinh Hòa, tr.251). (TG)
[20] Việt Nam nhân vật chí vựng biên (tập thượng): Bùi Sĩ Tiêm, tr.291 - của Hồ Đắc Hàm và Thái Văn Kiểm, Nha Văn hóa Bộ Q.G.G.D. 1962. (TG)
[21] Việt Nam nhân vật chí vựng biên (tập thượng): Bùi Sĩ Tiêm, tr.291 - của Hồ Đắc Hàm và Thái Văn Kiểm, Nha Văn hóa Bộ Q.G.G.D. 1962. (TG)
[22] Le Việt Nam: Histoire et Civilisation par Lê Thành Khôi (La Sécession du Nord et du Sud: Poeuvre des Trịnh dans le Nord), page 261, 260. (TG)
[23] Lê Duy Mật là con thứ của Lê Dụ Tông, sau khi Trịnh Giang giết Lê Duy Phường, Duy Mật định làm binh biến tại Thăng Long nhưng bị lộ. ông chạy về Thanh Hóa khởi nghĩa với tôn chỉ “Phù Lê diệt Trịnh”. Ảnh hưởng của ông khiến Trịnh Giang bị phế, em là Trịnh Doanh thay làm Chúa. Đến đời Trịnh Sâm (con Trịnh Doanh) mới điều danh tướng Hoàng Ngũ Phúc đánh và tiêu diệt hoàn toàn nghĩa quân. Cùng đường, Lê Duy Mật cùng vợ con tự thiêu mà chết.
[24] Le Việt Nam: Histoire et Civilisation par Lê Thành Khôi (La Sécession du Nord et du Sud: Poeuvre des Trịnh dans le Nord), page 261, 260. (TG)
[25] “Thành trì chí của Trịnh Hoài Đức”, Gs. Trần Kinh Hòa, Tạp chí Đại học số 25, tháng 2-1962, phần chú thích số 44. (TG)
[26] Les Eléphants royaux par L. Cadière, B.A.V.H. 1922. (TG)
[27] Les Européens qui ont vu le Vieux Hué: l’abbé de Choisy par L. Cadière - Annotation No.60, B.A.V.H. No.3 Juiliet 1929. (TG)
[28] Voyage de Pierre Poivre en Cochinchine - Revue de l’Extrême-Orient, volume III, page 422, cité dans “Le quartier des Arènes” par L.Cadière, B.A.V.H. 1925. (TG)
[29] Đ.N.N.T.C.. - Kinh sư, tr.15. (TG)
[30] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập trung), mục Nhân vật bản triều: Nguyễn Đăng Thạnh, tr.37. (TG)
[31] “Vũ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn, trích dẫn trong “Việt sử: xứ Đàng Trong”, tr.235, 236. (TG)
[32] “Vũ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn, trích dẫn trong “Việt sử: xứ Đàng Trong”, tr.235, 236. (TG)
[33] “Thành trì chí của Trịnh Hoài Đức”, Gs. Trần Kinh Hòa dịch thuật, phần chú thích số 44, Tap chí Đại học số 25, tr.155. “Vũ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn, trích dẫn trong “Y phục của người Việt qua các thời đại” cùa Thái Văn Kiểm, Tạp chí Đại học số 38 tháng Tư 1964, tr.242, 243. (TG)
[34] “Thành trì chí của Trịnh Hoài Đức”, Tạp chí Đại học số 25, tr.241. (TG)
[35] “Lược khảo về khoa cử ở Việt Nam” của Huyền Quang - Văn hóa Á châu số 8 tháng 11-1960, tr.99. (TG)
[36] “Vũ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn (trích dẫn trong “Y phục của người Việt qua các thời đợi” của Thái Văn Kiểm, Tạp chí Đại học số 38, 1964). (TG)
[37] “Gia Định thông chí” quyển III (Cương Vực) của Trịnh Hoài Đức. (TG)
[38] Les Eléphants royaux par L.Cadière, B.A.V.H. 1922.