Bóng Trương Tần Cối như bóng một hung thần cao lớn, dữ dằn ngày càng lấn át và che khuất cả hình ảnh của Duệ Tôn, một vị chúa chỉ ngồi trên hư vị.
Và chính sức thao túng của quyền thần khát máu họ Trương đã làm cho triều chính, theo với thời gian, càng thêm thối nát. Số triều thần và bọn thuộc quan, nha lại thuộc vây cánh, bè đảng của Quốc phó ngày càng lộng hành, cấu kết nhau thành một hệ thống không những tại Phú Xuân mà ở hầu khắp các dinh để thực hiện ráo riết chủ trương buôn chức, bán ngục của Quốc phó. Luồn cúi, đút lót trở thành một đường lối tiến thân dễ dàng, nhanh chóng hơn là tài thao lược, kinh luân; tiền bạc là đạo linh phù để tự do phạm pháp. Trong giới công bộc, những người có tài đức thực sự, biết giữ liêm sỉ, chẳng chịu khuất thân xu phụ thì ngày càng chìm xuống, trái lại, những bọn bất tài vô tướng, nhưng khéo dựa thần, dựa thế, giỏi quỵ lụy, cầu cạnh, hoặc biết vung tiền chạy chọt lại được trọng dụng, cất nhắc, thăng tiến vùn vụt trên đường công danh, chiếm nhiều ưu thế. Vì vậy, những hạng lương đống, trung thần mỗi ngày mỗi thêm nhụt chí và, trước cái tình trạng “anh hùng ẩm hận, đồ điếu[1] phùng thời”, đâm ra ngao ngán, có người ngoài sự cố gắng với chức vụ được phần nào hay phần ấy, chỉ muốn giả điếc làm ngơ, tìm sự khuây khỏa nỗi ưu phẫn trong cuộc cờ, chén rượu, có người tìm cách lánh gót ra ngoài vòng cương tỏa, giữ gìn tính mệnh trong quán cỏ, lều tranh.
Nạn hối lộ, tham nhũng bành trướng từ trên xuống dưới, tình trạng mục nát lan rộng trong triều, ngoài tỉnh. Ở nơi điền dã, bọn ác bá cường hào khốc ngược được thể tung hoành, thao túng và, thêm vào đó, thuế má cao, sưu dịch nặng, vùi dập đám dân đen vào một cảnh lầm than đen tối cực kỳ thê thảm.
Trạng huống này chẳng bao lâu đã đưa tới cái hậu quả khó tránh cho trăm họ là, sau ba năm trị vì của Duệ Tôn, nạn thiếu ăn đã hoành hành, lan rộng. Nỗi cơ khổ cứ theo với năm tháng tăng dần. Cho đến năm Canh Dần (1770) thì sự thể lại càng nguy kịch. Một trong những nguyên nhân của nạn thiếu ăn trong dân chúng là tình trạng tiền tệ dễ hư hoại, mà lẽ ra nhà cầm quyền phải sớm tìm phương sách bổ cứu. Tình trạng này xảy ra từ lâu dưới thời Duệ Tôn và đã bắt nguồn xa hơn từ chủ trương đúc tiền kẽm dưới thời Võ Vương. Nguyên là vào thời Túc Tôn Nguyễn Phước Trú, tiền được thông dụng là tiền đúc bằng đồng. Nhân dân, vì thích có đồng để chế tạo các thứ vật dụng, đã nấu chảy tiền ra mà dùng, số tiền đồng mỗi ngày một hao hụt, vật giá vọt cao. Tình trạng vật giá leo thang càng trở nên trầm trọng dưới thời Võ Vương. Vào năm Bính Dần (1746) có người Trung Quốc họ Hoàng xin hiến phương sách bổ cứu. Theo lời đề nghị của họ Hoàng, Võ Vương cho mua kẽm trắng của người Tây dương và mở cục đúc tiền ở Lương Quán. Từ đấy tiền kẽm được thay thế cho tiền đồng, nạn khan hiếm tiền tệ chấm dứt. Nhưng về sau, và cần đúc thêm loại tiền “Thiên minh thông bửu” kẽm trắng được pha lẫn kẽm đen để có đủ vật liệu, vành tiền lại đúc quá mỏng nên dễ hư hoại, không thể cất giữ lâu ngày, nên dân chúng không thích dùng, vật giá do đó lại vọt lên cao[2]. Và đến thời Duệ Tôn, do sự kiện này mà có tình trạng đáng lo ngại như nho gia Ngô Thế Lân đã nêu ra trong bản sớ dâng lên cho Chúa vào năm Canh Dần: “Từ năm Mậu Tý (1768) đến nay giá lúa vọt lên cao, mức sinh hoạt của dân đói kém. Hỏi nguyên cớ tại đâu? Đó không phải là tại thiếu lúa nhưng là tại tiền kẽm quá nhiều. Nhân tình ai lại không ưa cái bền bỉ và ghét cái chóng hư. Nay người ta cho tiền kẽm là chóng hư mà tiền đồng là bền bỉ, bởi đó dân cứ muốn tích trữ lúa chứ không muốn tích tiền[3]”. Vì biết cái nạn tiền kẽm quá nhiều chưa có thể khắc phục ngay được, nhà nho họ Nguyễn đau lòng trước cảnh khốn khổ, đói khó của dân nghèo đã đề nghị phương pháp “lập kho thường bình, đặt Ty coi sóc, rồi định giá thường bình, lúa rẻ cứ giá đó mà bán, lúa đắt cũng giá đó mà bán”, hầu tránh sự thiệt thòi cho dân cày khi giá lúa rẻ, và sự thiệt hại cho phú thương trong trường hợp lúa đắt. Đó là phương pháp cấp thời có thể giúp dân thoát cơn đói khổ để rồi sau đó sẽ nghĩ đến chuyện trừ cái tệ tiền kẽm nhằm bình thường vật giá.[4]
Phương pháp tuy hay, lời sớ tuy tha thiết, nhưng triều đường đâu có lưu ý quan tâm. Quốc phó Trương Phúc Loan có thể đã gạt qua một bên bản sớ mà nội dung không có liên hệ chút nào đến công cuộc kinh tài, trục lợi của ông. Nhân dân lầm than đói khổ? Chuyện đó có nghĩa lý gì đối với một quyền thần gian ác, tham tàn. Tiền kẽm quá nhiều và dễ hư hoại? Nhưng vàng nén, bạc nén, châu báu ngọc ngà chất đầy rương, đầy hòm của Quốc phó thì vẫn bền gan cùng tuế nguyệt. Cảnh điêu linh, nguy ngập của quần chúng nếu có gây những xúc động sâu xa ở nhà nho họ Nguyễn thì lại chẳng lay chuyển được mảy may quả tim sắt đá của Quốc phó họ Trương.
Còn Duệ Tôn? Đến đây thì Duệ Tôn đã được mười bảy tuổi tròn. Cái tuổi mà xưa kia, Minh Vương Nguyễn Phước Châu, khi lên kế vị, đã tỏ ra có đủ bản lĩnh để lèo lái vững vàng “con thuyền đại nghiệp”, nắm chặt giềng mối trong tay. Nhưng Duệ Tôn thì khác. Duệ Tôn tuy đã khôn lớn, nhưng khôn lớn trong sự hôn ám, giữa đám mê vân kết dệt bằng thanh sắc, khoái lạc, do bàn tay của Quốc phó đã dụng công bố trí, an bài. Nhà chúa không những chỉ gián cách với đời sống của đám lê dân bên ngoài bởi những thành lũy sâm nghiêm, kiên cố bằng đá, bằng gạch, những cung điện kín đáo, thâm u, mà còn gián cách bởi những bức tường linh động, ngoạn mục nhưng tinh mật hơn nhiều, kết hợp bằng những màu sắc gấm hoa, nhung, lụa, kim, ngọc và đám vũ nữ, ca nhi yêu kiều, quyến rũ cùng những vương tôn, công tử bay bướm, thanh lịch, sành thú ăn chơi, những cận thần, cận vệ bảnh bao, chải chuốt, khéo biết chiều theo ý thích, chầu hầu, túc trực đêm ngày trong cái không khí yến hội, xướng ca tưng bừng, vui nhộn. Cho nên cái cảnh trạng cơ khổ, lầm than của trăm họ, chẳng những Duệ Tôn không thể hay biết mà còn khó thể tưởng tượng, hình dung. Đối với Duệ Tôn, cuộc sống bên ngoài thành lũy sâm nghiêm kia, ở chốn thành đô cũng như nơi sơn khê, điền dã, cũng phải tỏa rạng toàn một màu hồng và cũng diễn tiến trong cành ấm no, phú túc. Trong cái thế “thanh bình thịnh trị” như vậy, tại sao chúng dân lại chẳng biết tận hưởng lạc thú nhân sinh bằng những hình thức vui chơi, hội hè?
Chính vì cái quan niệm này mà, đau xót mỉa mai thay! Ngay trong khi những điềm tai dị xảy ra kế tiếp, liên miên, nào là: núi lở, sao sa, nào là nước trong hóa đỏ, đất bằng chấn động[5], ngay vào thời kỳ đám thương sinh trong toàn cõi phải nheo nhóc, quay quắt vì nỗi miếng cơm, manh áo không thể đánh đổi dễ dàng bằng mồ hôi, nước mắt, và cũng đúng vào lúc Hàn lâm Nguyễn Quang Tiền, chiêm nghiệm cơ Trời qua bóng sao xa và qua bao nhiêu tai biến, đã phải hoảng hốt kêu lên:”Than ôi, không quá sáu năm nữa, Quảng Nam sẽ có binh qua nổi dậy”[6], thì từ trên ngôi chân chủ, Duệ Tôn lại truyền lệnh cho các châu, các quận phải thành lập nhiều phường “Chơi Xuân”, và phải đóng góp tiền phường để gây quỹ nhằm tổ chức trò vui vào các dịp hội hè.[7]
Nhưng hưởng ứng cái lệnh này có chăng là hạng phú hào, hương lý có máu mặt, chứ đối với đám quảng đại quần chúng thì chính cái hảo ý của vị chân chủ trên ngôi cao chín bệ đã gieo cả một sự sửng sốt, thất vọng lớn lao đến độ họ phải cười ra nước mắt và sôi thêm uất hận trong lòng.
Tình trạng thiếu ăn cứ thế kéo dài mãi và trầm trọng thêm. Rồi tiếp theo là nạn đói thực sự. Lần này thì không phải là vì cái tệ tiền kẽm, không phải vì bọn địa chủ, phú nông, phú thương giàu thóc lúa vì chê tiền kém giá trị mà nhất định khép vựa, khép lẫm không chịu bán ra, mà vì nạn mất mùa, một phần do thiên tai, hạn hán, một phần do sự kiệt lực của đám bần dân phải chịu cơ cực quá lâu ngày để không còn đủ sức sản xuất như xưa. Sử văn đã ghi chép: từ năm Canh Dần (1770) đến năm Giáp Ngọ (1774), Thuận Hóa chịu cảnh cơ hoang[8] trong mấy năm liền.[9]
Vào những tháng cuối năm, năm Giáp Ngọ, gạo đắt như vàng và trạng huống đói khó bày ra lắm cảnh thương tâm không còn bút mực nào tả xiết. Đám thường dân không còn là những con người nữa mà là những bộ xương bọc da gẫy gập, vàng võ, hoặc kéo đi lang thang như những cô hồn, hoặc nằm quằn quại, giẫy giụa, thoi thóp trong xó nhà, ngoài đường lộ để chờ đợi sự giải phóng của lưỡi hái Tử thần. Xác chết nằm sắp lớp đầy đàng, đầy sá. Những kẻ còn sống, còn cử động được, tranh giành, cấu xé nhau như một bầy chó vì một dây khoai hay một mẩu sắn hiếm hoi tìm thấy. Có lắm người vì không chịu đựng nổi sức thiêu đốt của lửa cơ đã phải uống độc dược mà chết.[10] Có kẻ ăn đến thịt người và có hiện tượng thịt người được bày bán ngay giữa chợ. Số tử vong chiếm đến quá nửa dân số toàn miền Thuận Hóa.[11]
Nền hà chính đã gây lắm nỗi bất công, thối nát, bày ra cái cảnh “nhơ bẩn đầy rẫy núi sông”, tình trạng cơ cực quá ư trầm trọng lại tạo thêm cái thế bất an vốn là cơ duyên bốc dậy của men uất hận.
Mối căm thù Quốc phó Trương Phúc Loan bị dồn nén lâu ngày không những đã thoát ra bằng những lời ta thán, nguyền rủa mà còn gây thành cả một trào chống đối ngấm ngầm ăn sâu lan rộng từ chánh dinh Phú Xuân đến tận các vùng Nam Ngãi, Bình Phú và sẵn sàng bộc phát thành những cuộc phiến loạn khi thời cơ đã đến.
Ngay từ mùa hạ năm Canh Dần (1770) hiện tượng này đã được phát khởi với vụ nổi loạn ở tại Điện Bàn, khiến cho Quảng Nam Cai bộ[12] Trần Phước Thành - từng đậu giải nguyên khoa hương và là người có tài lược[13] - phải bao phen khó nhọc mới dẹp yên và phải thường xuyên tuần hành cả năm ở phủ Quảng Nam mới giữ vững được tình hình an ninh trong địa hạt[14]. Rồi tiếp đến vụ nổi dậy của các man ở Quảng Ngãi, tục gọi là mọi Đá Vách. Sáu đội quân Quảng Ngãi phải phối hợp với quân lính của hai phủ Quy Nhơn, Phú Yên và phải hành quân rất dài ngày mới đàn áp được.[15]
Nhưng những dấu hiệu này vẫn là vô nghĩa đối với Duệ Tôn cũng như với Quốc phó. Ở trong vương phủ, vị chúa bất lực vẫn đắm đuối trầm mê giữa cảnh vui say với các món thích tình, phó mặc việc triều chính cho Quốc phó toàn quyền định đoạt. Còn Quốc phó Trương Phúc Loan thì, với cái chủ quan của hạng người tin tưởng ở sức vạn năng của quyền uy, bạo lực, ông chỉ coi những biến cố này như sự bùng cháy chốc lát của đám lửa rơm, không có gì đáng phải bận tâm. Trọng tâm hoạt động của Quốc phó vẫn là sự thỏa mãn lòng tham dục, vơ vét, tích lũy tài hóa quốc gia, máu mỡ lê dân hầu xây cất cho ngày càng thêm cao lâu đài phú quý, mặc dù ngồi trên tột đỉnh của lâu đài ấy, ông vẫn chẳng hưởng thụ được những gì nhiều hơn là “một vài lưng cơm với một ít mắm vảnh và một bát nước chè” trong mỗi bữa cơm hàng ngày. Và cũng vì đã bị mờ ám bởi lòng tham dục không bờ bến thường thấy ở hạng “địch quốc phú gia, vị cực nhân thần”[16], cho nên cũng trên cái tột đỉnh của cảnh cao sang, phú quý, Quốc phó họ Trương không thể có cái mẫn nhuệ của lương tri, cái sáng tỏ của tai, mắt để tế nhận được những diễn biến đáng lo ngại của tình hình đang triển chuyển theo cái ám triều của men uất hận sôi dậy từ đáy hạ tầng cơ sở, dâng cao, lan rộng và sẵn sàng đổ dồn về, như nước thác đổ xuống vực sâu, bất cứ hướng nào có tiếng gọi của thứ chính nghĩa “trừ gian thần, hạ hôn chúa, giải phóng trăm họ lầm than”.
Chính vào thuở đó, ở Phú Xuân phát hiện những chiến dịch ca tụng, ủng hộ Hoàng tôn Nguyễn Phước Dương[17], khởi từ đám sĩ phu, triều thần từng căm phẫn về lối lộng hành và thái độ mục hạ vô nhân của Trương Tần Cối. Hoàng tôn Nguyễn Phước Dương, thông minh, nhân hậu, “đẹp như vẽ, có đức hiền”, không những tỏ ra có phong độ và tư cách để kế thừa đại nghiệp, mà xét theo thứ tự thế tập còn đáng được coi là thuận lý trong việc thay thế hôn chúa Nguyễn Phước Thuần ở ngôi chân chủ.
Nhưng chiến dịch ca tụng, ủng hộ Hoàng tôn Dương thực ra chỉ là một hình thức phản ứng tiêu cực - nhằm giải tỏa nỗi hận lòng - của một số người đã cảm thức rõ sự bất lực của mình trước cái uy thế khó bề lay chuyển của Quốc phó, nhưng không có đủ quyết tâm, bản lĩnh để mưu đồ đại sự. Nó có thể đã bị dập tắt một cách dễ dàng bởi Quốc phó họ Trương, và có thể không lôi cuốn được thực sự đại khối lê dân cùng khốn, nếu nó không được lợi dụng như một yếu tố biểu dương chính nghĩa của một lực lượng khởi nghĩa đang được thành hình ở ấp Tây Sơn thượng thuộc Quy Nhơn phủ.[18]
Đó là một sự trạng mà Quốc phó họ Trương không hề ngờ đến. Câu chuyện Giáo Hiến - từng làm cho Thái giám Chữ Đức lo ngại trước kia - đã vùi sâu vào quên lãng, hơn nữa, có thể Quốc phó cũng khó mà nhận thức được cái tương quan nhân quả giữa một sự kiện không nghĩa lý gì như vậy với cái hậu họa xảy đến cho ông.
Thực vậy, Quốc phó đâu có ngờ rằng tên môn khách của Y Đức hầu Trương Văn Hạnh mà Chữ Đức đã xin ra lệnh tầm nã - và dưới mắt ông chỉ là một đồ nho tầm thường - đã đóng một vai trò khá quyết định trong việc cổ xúy cho một cuộc khởi nghĩa, sau khi đã thoát khỏi Phú Xuân, vào Quy Nhơn phủ mở trường dạy học cả văn lẫn võ, ở tận Yên Thái một ấp hẻo lánh, xa xôi. Vì Giáo Hiến không phải chỉ cổ xúy ngấm ngầm bằng lối vạch trần âm mưu phế lập và sự tiếm quyền cùng những hành động gian ác của Trương Tần Cối, sự hôn ám, bất lực của Duệ Tôn, tình trạng mục nát, hư đốn của triều đình Phú Xuân. Ông còn đi xa hơn. Kết hợp mối thù hận riêng với mối thù hận chung của quần chúng và mối lo vì nghĩa lớn, Giáo Hiến đã khéo ký thác hoài bão, ý nguyện và cái chí mưu đồ đại sự của mình vào những môn đệ lỗi lạc xuất sắc nhất trong lò đào tạo của ông, những môn đệ tỏ ra sẽ có đủ khả năng, bản lĩnh để thực hiện cái sứ mạng “trừ gian thần, hạ hôn chúa, khuông phục ngôi vị cho Hoàng tôn Dương!” Và trong số môn đệ đông đảo, Nguyễn Nhạc, có thể là cả ba anh em Nhạc, đã đáp ứng đúng vào cái sở cầu ấy của bậc thầy đang băn khoăn vì đại nghĩa, đã làm cho vị sư trưởng, ôm hận từ Phú Xuân mà vào, không còn phải lo buồn vì nỗi “vô dược khả y ưu quốc bệnh”[19].
Và rồi... trong lúc ở Tây Sơn, cái tác dụng của câu sấm văn “Tây khởi nghĩa, Bắc thu công”[20] đã thúc đẩy Nguyễn Nhạc, nhân vì thâm lạm tiền thuế, muốn tránh tù tội, nhất định mạo hiểm vào rừng, mạnh dạn mưu việc lớn, tạo dần lực lượng để thực hiện cái sứ mạng khởi nghĩa thì, ở Phú Xuân, Duệ Tôn và Trương Phúc Loan vẫn thản nhiên, tự tại, không chút hay biết gì về những nguy cơ, hiểm họa đang tiềm tàng manh nha.
Đô thành Phú Xuân, một trung tâm mua danh, bán tước, vẫn bày ra cái cảnh xênh xang áo mão, rộn ràng ngựa xe của bọn đồ điếu phùng thời, với cái thế lấn lướt, khuynh loát của một lũ ươn hèn, vô hạnh chỉ giỏi chuyện bợ đỡ, đút lót, vào cúi ra luồn. Triều thần do đó, gồm hầu hết những bọn bất lực, bất tài, tham ô, sâu mọt, chỉ biết lo bảo vệ địa vị, tranh giành lợi lộc bằng tất cả mọi thủ đoạn, mánh khóe cầu cạnh, đục khoét, lừa dưới dối trên, và mặc dù cái họa suy vong đã sát bên lưng, cả Chúa lẫn đám bầy tôi vẫn quay cuồng lăn lóc trong cái mê võng của lợi, danh với cái ảo giác “thanh bình, thịnh trị”. Riêng những hạng khôi nho, lương đống, biết trọng liêm sỉ, vì là thiểu số, đành phải chịu thúc thủ trước cái thế lộng quyền của Quốc phó cùng bè lũ và sự bất lực, hôn ám của Duệ Tôn, tuy tất cả đều căm tức đến cực độ về những hành động tham lận, gian ác của Trương Tần Cối.
Nhưng mối công phẫn nơi triều đường thực chẳng thấm vào đâu với niềm công phẫn sôi chuyển trong khối thứ dân đông đảo quằn quại giữa cảnh lầm than. Và uất hận càng dâng cao, lòng dân càng thiết tha mong chờ những biến cố cứu độ. Với niềm khát vọng thiết tha này, lương tri quần chúng càng trở nên bén nhạy đối với cái ám triều diễn biến của thời cuộc, tình hình. Cho nên trong lúc cả Duệ Tôn lẫn Quốc phó cùng cái triều đình thối nát đang say sưa lặn hụp trong cảnh hoan lạc vương giả, thì đám lê dân lại chú tâm nghe ngóng, dò thăm mọi động tình qua những tin đồn đãi từ miền trong được chắp cánh bay về.
Trong khoảng thời gian từ năm Canh Dần (1770) đến năm Quý Tị (1773), nhân dân quả đã xôn xao nhiều vì những nguồn tin khá bất lợi cho vương phủ. Nào là một biện lại tên Nhạc ở Vân Đồn, vì máu mê cờ bạc, thâm lạm tiền thuế, “sợ tù tội trốn vào rừng làm kẻ trộm”, nào là một đảng cướp cũng do tên Nhạc cầm đầu đã lập sào huyệt ở thượng đạo Tây Sơn[21], rồi sau đó, đảng cướp ấy kéo xuống đóng ở ấp Kiên Thành, thao túng ở các huyện Phù Ly, Bồng Sơn, Huyền Khê, Tuy Viễn, vv..., bọn chúng còn liên kết với Thị Hỏa, nữ chúa Chiêm Thành hiện đóng ở trại Thạch Thành để cùng làm thế ỷ dốc, lại chiêu dụ kết nạp được hai tay cướp núi lừng danh ở nguồn An Tượng là Nhưng Huy và Tứ Linh.[22]
Nếu dưới cái nhìn của Duệ Tôn và Quốc phó, Biện Nhạc chỉ là một tên tiểu lại có tội lớn với triều đình và hành động của bọn Nhạc là hành động liều lĩnh của một bọn lục lâm, thổ phỉ, chỉ cần lực lượng võ bị ở địa phương cũng đủ tiễu trừ, trừng phạt như bao nhiêu đám giặc cỏ khác xưa nay, thì trong đầu óc của nhân dân, hình ảnh của Biện Nhạc, hoạt động của đảng cướp ở Kiên Thành lại có một ý nghĩa khác hơn. Tất cả những sự việc xảy ra được coi như là dấu hiệu của những tia sáng lóe lên ở bên kia con đường hầm lầm than, đen tối, sâu dài hun hút, hay ít nhất là một triệu chứng chẳng lành cho cái chế độ mà từ lâu họ tưởng chừng như không bao giờ rêm chuyển, lung lay. Vì quần chúng, qua lối rỉ tai, còn được thông báo nhiều chuyện lạ hơn, trái ngược hẳn với những luận điệu lên án của chính quyền về bọn cướp do Biện Nhạc cầm đầu.
Thực vậy, theo những lời đồn đãi, truyền tụng rỉ rả, được nhắc đi, nhắc lại một cách kín đáo chung quanh bếp lửa hay mâm cơm gia đình, trong các quán xá hoặc ở nơi chợ búa, thì đảng cướp của Biện Nhạc không phải là một đảng cướp tầm thường, không phải là một bọn lục lâm đáng sợ hãi, thù ghét, nhưng là một tổ chức hào hiệp chỉ chiếm đoạt của nhà giàu để giúp đỡ kẻ nghèo khó, hạ uy thế của bọn cường hào, ác bá để trả thù cho đám dân đen từng chịu cảnh bóc lột và chịu nhiều oan khuất. Hơn nữa, tổ chức này lại là một lực lượng có thực lực hẳn hoi từng dám công khai đương đầu với lực lượng của chính quyền, từng kiểm soát được những ba bốn huyện, và đã gây được một tiếng vang khá lớn với cuộc đụng độ quan trọng, ngay tại Quy Nhơn phủ vào khoảng tháng Năm năm Quý Mão, trong đó một viên quan thu thuế đã bị đâm chết, quân lính lớp thì bỏ mình tại trận, lớp thì vì quá khiếp đảm, tranh nhau tìm đường tẩu thoát. Cái chết của viên quan thu thuế và ngọn lửa bốc lên từ mớ văn thư, tài liệu của quan quân bỏ lại được quân Tây Sơn đem đốt tại đình làng, không những đã tạo được một tiếng vang khá lớn mà còn gây được một xúc động có ảnh hưởng tốt đối với đại chúng khắp trong toàn cõi. Vì ít ra thì sự kiện này cũng thỏa mãn được phần nào cái ý nguyện triệt hạ uy quyền thống trị của triều đình họ Nguyễn, từng được ủ ấp một cách tuyệt vọng và lâu ngày chầy tháng trong lòng chúng dân. Cái ảnh hưởng ấy càng lan xa tỏa rộng khi những tin đồn đãi còn cho biết sự dấy khởi của quân Tây Sơn không phải là chuyện “mở cờ làm loạn” như lối chụp mũ của chính quyền, mà là một cuộc “kéo cờ khởi nghĩa” nhằm trừ gian thần, hạ hôn chúa và khuông phục ngôi vị cho Hoàng tôn Dương, và, người cầm đầu cuộc khởi nghĩa này, Biện Nhạc, không phải là một con người tầm thường, không phải là một biện lại chạy trốn vào rừng vì sợ tù tội, nhưng là một trang hào kiệt xuất loại, siêu quần, được thần minh giao phó sứ mạng cứu độ nhân dân ra khỏi cảnh điêu linh cơ khổ, qua rất nhiều hiện tượng kỳ bí như chuyện trao kiếm thần ở núi An Dương, chuyện tấm biển đồng xuất hiện sáng chói vào lúc canh khuya, cũng trên đỉnh núi An Dương với sáu chữ “Tây Sơn Nguyễn Nhạc vi vương”, chuyện Biện Nhạc được thần minh kêu gọi vv...[23]
Một đồn mười, mười đồn trăm, hình ảnh của Biện Nhạc chẳng bao lâu đã trở thành hình ảnh của một cứu tinh đối với đám lê dân cùng khổ đang căm hờn đến tột độ nền hà chính của triều đình và nheo nhóc vì cảnh cơ hàn dai dẳng. Cái hình ảnh ấy không những chỉ hấp dẫn, quyến rũ vì được dội sáng bởi bóng cờ chính nghĩa, được viền bọc hào quang bởi những huyền thoại ly kỳ, mà còn vì lẽ nó có gì gần gũi, thắm thiết đối với đại chúng hơn là hình ảnh của bọn người cầm đầu giai tầng thống trị. Qua lương tri tất cả đều cảm thấy một mối liên hệ khăng khít giữa trang hào kiệt dựng cờ khởi nghĩa ở ấp Kiên Thành với cái khối thương sinh cơ cực, lầm than, có mình trong đó.
Cũng chính trong khi hy vọng đơm hoa trong lòng đại chúng, thì có rất nhiều tin cấp báo, từ xa bám theo vó ngựa truy phong, bay về kinh khuyết. Nhưng trong vương phủ, tiếng hoan ca, nhã nhạc vẫn không gián đoạn, cảnh yến hội vẫn giữ nguyên mức độ vui nhộn, linh đình. Và, tại dinh Quốc phó, quyền thần họ Trương, mỗi khi phải tạm gác công việc mưu đồ tư lợi để nghe lời bẩm báo về những tin dữ khẩn trương, lại nổi cơn lôi đình, vỗ án quát tháo:
- Cấp báo! Cấp báo! Động chút gì cũng cấp báo, cũng cho là khẩn trương và làm nhốn nháo cả lên. Chỉ là những đồ giặc cỏ mà không dẹp nổi hay sao để phải phiền đến binh lực của triều đình. Quả là một bọn vô dụng, bất tài. Cứ theo lệnh ta, truyền cho bọn chúng phải tự liệu lấy, nếu không đàn áp nổi thì khó toàn tính mệnh với ta.
Nhưng rồi chẳng bao lâu, không khí yên vui của Đô thành phồn vinh, nghiêm lệ cũng bắt đầu chộn rộn không phải chỉ vì cảnh xác chết của người đói nằm lăn lóc đầy đường, tại nhiều nơi ở vùng Thuận Hóa, cảnh người giết người vì miếng ăn, và người ăn thịt người thường xuyên tái diễn, mà còn vì những tin tức dồn dập về cái khí thế “trúc chẻ ngói tan” của quân khởi nghĩa Tây Sơn.
Dù hôn ám đến đâu trong cảnh hoan lạc, trầm mê đến đâu trong vũng lầy tài lợi, Duệ Tôn và Quốc phó họ Trương cũng phải giật mình trước một sự trạng bất ngờ, ngoài sức tưởng tượng, nhất là khi được tin cấp báo phủ lỵ Quy Nhơn phủ bị đánh chiếm, Tuần vũ Nguyễn Đắc Tuyên chạy dài, hai kho lúa ở Cần Dương, Đạm Thủy bị cướp đoạt, Đốc trưng Đằng và Khâm sai Lượng “dĩ đào vi thượng” nhưng rồi cũng không thoát khỏi tay địch, cả hai đều bị giết[24] và thảm hơn, cả họ Đằng đều bị tru di[25], một số quan lại ở các huyện từng có tiếng là độc ác, bị quân Tây Sơn lùng bắt đem về hành hạ, các tù phạm đều được phóng thích. Nguyễn Nhạc lập cờ hiệu Tây Sơn, chia quân làm năm đồn, và còn tiến chiếm cả tỉnh Phú Yên, đốt dinh, lấy của[26] lại đánh tan cả đạo quân tiếp cứu từ Quảng Ngãi vào[27].
Trước tình thế ấy, triều đình Phú Xuân khó thể ngồi yên. Ba đạo thủy quân liền được tung ra và bốn đạo lục quân được lên đàng tiến thảo dưới quyền điều khiển của Chưởng cơ Nguyễn Cửu Thống, Nguyễn Văn Sách, Tổng nhung Tống Sùng, Tán lý[28] Đỗ Văn Hoãng, Cai cơ Phan Tiến, Cai đội Nguyễn Vệ. Nhưng thủy quân gồm ba chiến thuyền chưa kịp đến nơi thì hai chiếc đã bị đắm chìm, tan rã ngay giữa bể vì một cơn bão táp. Còn về mặt bộ, Sùng và Hoãng đều cùng tử trận. Tây Sơn thừa thắng, đánh chiếm Quảng Ngãi và đi phá phách nhiều nơi.[29]
Triều đình Phú Xuân càng xôn xao, hốt hoảng. Chẳng những bọn quan lại bất tài, vì giỏi cầu cạnh, cúi luồn được dự hưởng đỉnh chung, tước lộc nay đâm ra lo sợ cuống cuồng, hoang mang, dao động mà ngay đến các tướng sĩ, phần đông vì sống lâu ngày trong cảnh an nhàn, vô sự chẳng còn biết mùi vị trận mạc là gì, nên chỉ mới nghe nói đến cái khí thế dũng mãnh của địch quân cũng đã mất hết tinh thần, và khi được chỉ định đi đánh dẹp là cố tìm đủ phương thế để trốn tránh nghĩa vụ. Mà phương thế hữu hiệu nhất lại vẫn là sự đút lót vào cửa Quốc phó họ Trương. Tuy đã biết rõ nguy cơ, hiểm họa gần kề, Quốc phó Trương Phúc Loan vẫn lại mờ mắt vì tài lợi, vẫn khư khư ôm giữ cái cao vọng “địch quốc phú gia” và lợi dụng triệt để tâm lý “tham sinh úy tử” của bọn người hèn nhát để hốt tiền, hốt của. Do đó mà ngay giữa lúc tình thế đã cực kỳ nghiêm trọng, lửa bỏng dầu sôi, địch quân mỗi ngày mỗi lấn đất và mỗi tiến tới gần hơn, thì ở chánh dinh Phú Xuân công việc điều binh khiển tướng, nhằm kịp thời đối phó vẫn nay lần, mai lữa, trì hoãn, trùng trình, mà lý do chính là vì Quốc phó luôn luôn thay đổi ý kiến trong việc chỉ định các tướng sĩ xông pha trận mạc. Dư luận Đô thành xôn xao hẳn lên vì cái không khí rộn ràng, xao xuyến trong giới võ quan. Xao xuyến vì tinh thần úy tử, rộn ràng vì sự tranh đua chạy chọt, vận động, và lần này không phải chạy chọt để được thăng quan, tiến chức, nhưng để cầu tránh được nhiệm vụ diệt địch, cứu nguy. Trong các tửu quán, trà đình, và bất cứ ở đâu có đông người quần tụ, cũng nghe chào xáo, dị nghị về tình trạng bất công, thiên vị trong việc chọn tướng, điểm quân xuất trận. Tiếng thán oán, nguyền rủa của các gia đình những kẻ vì cô thế hay không có đủ khả năng đút lót; bị đẩy ra chiến trường - thay cho bọn người đã được chỉ định nhưng lại sẵn bạc, vàng hay nhờ thần thế mua được sự yên thân - từ chỗ chùng lén, thầm vụng đã dám chuyển thành công khai. Và đám tướng tá, binh sĩ phải lên đường, phần đông vì đã mang sẵn một mối bất mãn, ưu phẫn, nên làm gì còn có tinh thần chiến đấu quyết liệt, hăng say, hay dù có chăng nữa thì cái tinh thần ấy cũng phải suy giảm phần nào vì cái mặc cảm “ngụy binh” gây nên bởi sức tác dụng của câu ví được truyền tụng khắp nơi trong dân chúng, trên đường hành quân: “Binh Triều, binh Quốc phó, binh Ó, binh Hoàng tôn”. Cho nên quân tính của triều đình, trước cái khí thế dũng mãnh, ào ạt như nước thác, dữ dằn như cuồng phong của những đạo “quân Ó” nhất là những đạo quân Ó dưới quyền điều khiển của bọn Tập Đình, Lý Tài - đã hung hăng, lại có vẻ cổ quái như một đoàn âm binh với những chiếc khăn đỏ vấn đầu, những tấm mình trần trùi trụi và những đạo bùa kết bằng giấy vàng bạc bọc quanh trên cổ, những bộ mặt đanh ác bừng bừng sát khí pha lẫn hơi men tay cầm khiên mây, đại đao[30] - thì thực chẳng khác gì bầy chuột phải chạm trán với đàn mèo, lũ thỏ gặp chúa sơn lâm, do đó những tin chiến bại càng được tới tấp bay về làm chấn động cả một vùng Thượng đô, gây hoang mang cho cả triều đình lẫn đám sĩ thứ Phú Xuân.
Một số công tộc, đại thần còn biết quan tâm đến đại cuộc không thể nào đành chịu khoanh tay ngồi nhìn, nên cùng ngấm ngầm liên kết để tìm phương sách cứu nguy.
Trong một cuộc họp mật, tất cả đã lên án gắt gao về hành vi tham lận của Quốc phó ngay trong cơn quốc biến. Ngoại hữu Chưởng dinh Nguyễn Cửu Pháp, sau khi đã quy tất cả trách nhiệm về tình trạng triều chính thối nát và quân cơ bê bối cho Quốc phó Trương Phúc Loan, đã yêu cầu cần phải có biện pháp loại trừ gian thần mới mong cứu vãn được nguy cơ đã quá ư trầm trọng. Chưởng dinh Tống Phước Khuông[31] - cha của Thừa Thiên Cao Hoàng hậu sau này - góp ý:
- Điều cần kíp là phải tranh thủ lại lòng dân, gây lại niềm phấn khỏi cho tướng sĩ, giúp cho chúa thượng thoát khỏi vòng hôn ám để có đủ sáng suốt ban ân, thi huệ, giữ vững mối giềng. Muốn được như thế thi điều trước tiên là phải loại trừ ra khỏi triều đường tên quyền thần gian ác họ Trương.
Các vị trong hàng công tộc đều tán đồng ý kiến. Nhưng loại trừ được Quốc phó hay triệt hạ được uy thế của ông ta thực không phải là chuyện dễ, vì Quốc phó đã chiếm trọn lòng tin cậy của Duệ Tôn, đến độ dù là hạng công tộc, công thần được Duệ Tôn trọng nể cũng khó mong dùng lời lẽ để thuyết phục được vị chúa trẻ trung nhận rõ sự mê hoặc, lung lạc nguy hại của con người mà Chúa đã đinh ninh tin tưởng là một trang lương đống tận trung, tận lực trong việc khuông phò.
Một kế hoạch ly gián liền được đề ra và được ủy thác cho Hàn lâm Ngô Đinh Thứ cùng Tri phủ Trần Giai. Hàn lâm họ Ngô có nhiệm vụ soạn thảo một bức thư của Quốc phó ngầm gửi cho Nguyễn Nhạc, ước hẹn sẽ cưỡng bách Duệ Tôn đầu hàng khi quân Tây Sơn kéo đến Phú Xuân. Tri phủ Trần Giai, vì thường được ra vào dinh Quốc phó, có nhiệm vụ dùng trộm ấn đóng vào thư rồi đem bỏ ngoài đường. Thuở đó có Tham mưu Tá[32], thường chầu hầu, túc trực về đêm trong vương phủ và có lệ về nhà vào lúc tinh sương. Tá vốn không ưa gì Quốc phó. Biết rõ điểm này, Tri phủ Giai tìm cách bỏ rơi phong thư ngay ở quãng đường gần nhà của Tá. Quả nhiên Tham mưu Tá nhặt được, đem trình ngay với Nội tả Chưởng cơ Nguyễn Phước Văn. Xem thư, Nội tả Chưởng cơ xiết bao kinh ngạc, liền đem trình lên Chúa. Chẳng may, Duệ Tôn đã không nghi ngờ lại cho vời Quốc phó vào, trao thư rồi cười mà phán bảo:
- Có người nhặt được thư này dâng lên ta. Nhưng ta chắc đây chỉ là trò mạo cáo của bọn tiểu nhân, chẳng nghĩa lý gì.
Quốc phó Trương Phúc Loan mừng rỡ, tạ ân về sự sáng suốt và lòng tín nhiệm tuyệt đối của Chúa dành cho mình, nhưng lòng riêng rất đỗi căm tức, lo ngại, vì không ngờ trong triều lại có bọn người dám lập mưu để hãm hại mình. Khi đã biết thư do Tham mưu Tá bắt được, đưa cho Chưởng cơ Nguyễn Phước Văn rồi Văn dâng cho Chúa, Quốc phó đinh ninh chính Tham mưu Tá là kẻ chủ mưu, liền hạ lệnh tống ngục rồi sai người giết chết. Lại vì oán giận Nội tả Chưởng cơ Nguyễn Phước Văn về chuyện trình thư lên Chúa, Quốc phó quyết trả thù, bèn cũng làm giả mạo một bức thư của Nhạc gửi cho Văn hỏi dò về kết quả của vụ ly gián và bàn nhiều kế hoạch thông mưu, rồi ngầm khiến người đứng ra tố cáo Chưởng cơ Nguyễn Phước Văn làm phản. Quốc phó đem thư lên trình Chúa và khéo lựa lời tâu bày để Duệ Tôn tin là sự thực:
- Tâu chúa thượng, lòng Trời còn tựa, vận số đại nghiệp còn vững, nên mưu gian của bọn tạo phản trước đây, nhờ đức anh minh của chúa thượng “soi sáng đến tận nơi chậu úp”, đã thất bại và chính tôi cũng tránh được hậu quả chẳng lành. Và cũng nhờ vậy, tôi càng lưu tâm theo dõi, nên đã phát giác được các mưu cơ tiềm ẩn của chúng. Kế ly gián bất thành, Nội tả Chưởng cơ Nguyễn Phước Văn lại được Nhạc ngấm ngầm liên lạc hầu bố trí nhiều mưu mô khác. Và đây là tang trạng xin trình lên Chúa.
Duệ Tôn xem thư xong, cả giận, phán bảo:
- Chúng nó đã tìm kế ly gián ta với Quốc phó, lại dám cả gan thông mưu với Nguyễn Nhạc, tội trạng đã rõ ràng như vậy, Quốc phó còn ngại gì mà không chiếu luật thi hành.
- Tâu chúa thượng, dù sao Nội tả Chưởng cơ cũng là người trong công tộc nên xin để lượng trên quyết định. Vả lại, việc mưu phản chắc hẳn không phải chỉ một mình y, nên cần tâu sự việc lên để xin chúa thượng cho tiến hành cuộc tra xét sâu rộng trong hàng công tộc, đại thần, để diệt trừ cho sạch mầm gian.
Duệ Tôn đồng ý. Quốc phó định lợi dụng cơ hội, thanh toán tất cả những người từ lâu có ý chống đối, không chịu ngả theo bề phái của mình. Cùng với Chưởng cơ Văn, người đáng để ý nhất trong số này phải là Nguyễn Phước Dục, như đã nói ở phần trên. Chính Dục đã bị tố cáo và bị bắt giam vào dịp này. Nhưng trong lúc Quốc phó đang còn bàn bạc với bọn dõng sĩ, thì có người từ trong vương phủ nhanh chân mật báo với Nội tả Chưởng cơ Nguyễn Phước Văn. Biết khó tránh được tai họa, Chưởng cơ Văn đang đêm lẻn trốn, một mình một ngựa chạy về phía đông bắc. Hay tin, Quốc phó liền sai Cai đội Nguyễn Phước Hương đuổi theo truy nã, và hứa sẽ trọng thưởng nếu bắt được hoặc giết được Chưởng cơ Văn.
Tuy đã chạy được khá xa, nhưng rủi thay cho số phận, khi đến bờ phá Hạc Hải - tức phá Tam Giang - vì đêm khuya nên chẳng có đò, Chưởng cơ họ Nguyễn vừa định cho ngựa chạy theo hướng khác thì Cai đội Hương đã đuổi kịp, lớn tiếng gọi Văn phải xuống ngựa nộp mình. Văn bảo:
- Tôi cùng anh là người trong công tộc, anh há vì tên gian thần mà hại tôi sao?
- Nhưng ngươi mưu phản!
- Đó chỉ là một trò mạo cáo của Trương Tần Cối. Trung thành làm gì với một tên quyền thần gian ác như vậy để rước lây cái nhục về sau.
Cai đội Nguyễn Phước Hương vốn là tay chân tâm phúc của Quốc phó và biết rõ việc hạ sát được Văn sẽ là một công trạng rất lớn, nên bất chấp tình thân thuộc, dùng đại đao chém xả vào người Chưởng cơ họ Nguyễn. Liệu thế không địch nổi, Chưởng cơ Văn cho ngựa chạy nhào xuống phá, rồi định lặn mà tìm đường tẩu thoát. Nhưng Cai đội Hương là một tay bơi lội có tài, liền nhảy xuống, đuổi theo, và chẳng mấy chốc đã tóm được Văn, dìm chết ngay giữa phá.1[33]
Chuyện này tuy được giấu kín nhẹm, nhưng rồi chẳng bao lâu cũng bị bại lộ. Cai đội Hương nhân được thăng chức và được thưởng một số bạc vàng, vì quá vui mừng, đã tiết lộ cho người vợ biết công việc của mình đã làm. Mà ở đời còn có phương thức quảng bá tin tức nào mau lẹ, nhanh chóng cho bằng lối bí mật rỉ tai với phụ nhân trong chốn khuê phòng kín đáo. Nên sau đó, không những chỉ trong hàng đại thần, công tộc mà đến cả chúng dân cũng biết rõ, lòng oán giận, căm thù Quốc phó càng tăng thêm dữ dội.
Trước cái thế ngày càng nghiêm trọng của tình hình và những lời dị nghị, thán oán náo động khắp nơi, Duệ Tôn hầu như cũng bắt đầu nhận thức được nguy cơ và quan tâm đến việc đối phó hiểm họa thay vì khoán trắng vào tay Quốc phó. Theo lệnh Chúa, một đạo quân lớn được chỉnh bị, chọn toàn những binh sĩ khỏe mạnh và các tướng súy dõng lược. Đạo quân này được đặt dưới quyền tiết chế của Nguyễn Phước Hương. Có thể nhờ đó mà chuyến tiến thảo lần này đã gây được một nhuệ khí tốt đẹp cho quân sĩ, lại nhờ tài thao lược của nhiều tay kiện tướng - nổi bật trong số đó là Du Quận công Nguyễn Cửu Dật, từng được quân sĩ sánh với Hàn Kỳ Phạm Trọng Yêm đời Tống, trải mười trận đều thắng cả mười[34] - nên quân triều thắng lớn, quân Tây Sơn phải rút vào Quảng Ngãi, rồi tiếp theo, vào mùa xuân năm Giáp Ngọ, quân Triều lại tiến chiếm hai phần ba Quy Nhơn phủ.[35]
Nhưng rồi sau đó, lại có tin cấp báo trận thảm bại tại núi Bích Kê - ở phía bắc huyện Phù Mỹ - vì phục binh của bọn Tập Đình, Lý Tài. Nguyễn Phước Hương tử trận. Quân triều tổn thất có tới một nghìn sáu trăm binh sĩ, lại bị mất rất nhiều vũ khí cùng một số voi. Chỉ trong bảy ngày, quân Tây Sơn lại tái chiếm tất cả những tỉnh họ vừa bị mất, lại tiến chiếm thêm từ Phú Yên đến Bình Thuận.
Những tin cấp báo này làm chấn động cả Đô thành Phú Xuân, Duệ Tôn cấp tốc mạng cho Nguyễn Phước Thăng đem quân tiếp viện. Nhưng khổ nỗi Thăng là hạng võ quan thiếu hẳn khí cốt, chưa giáp mặt địch đã sợ oai, đang đêm lẻn trốn quay về. Duệ Tôn bèn chọn tướng khác, quân Triều vẫn lại thất bại nặng nề. Và đến tháng Năm năm Giáp Ngọ, hai đạo quân cùng nhiều chiến thuyền lại được tung vào Quảng Nam. Chiến cuộc khai diễn gần dinh Chàm, và, lần này, quân Tây Sơn đại bại[36]. Nhưng trong lúc rút lui họ vẫn mang theo trên đường về rất nhiều chiến lợi phẩm: tám mươi hai khẩu đại bác, bốn mưoi lăm thớt voi, rất nhiều khí giới, lương thực và mười hai chiếc thuyền chở đầy của cải. Ngoài ra họ còn đốt phá rất nhiều nhà cửa của bọn quan lại, dinh chúa và chín đền thờ trong vòng thành.[37]
Tuy nhiên, vào lúc Duệ Tôn nhận được tiệp báo về những thắng lợi này, thì cũng chính là lúc hiểm họa lại bắt đầu nhen nhúm lên từ phương Bắc. Vì cũng vào tháng Năm năm Giáp Ngọ, ở Bắc Hà, Chưởng phủ Đại tư đồ quốc lão Việp Quận công Hoàng Ngũ Phước, đang nghỉ việc ở nhà, và Tham tụng Đại tư đồ Xuân Quận công, đang đêm được lệnh Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm triệu gấp vào triều bàn việc cơ mật.[38]
Vừa giáp mặt, Tĩnh Đô vương đã cho hai vị trọng thần biết rõ lý do của cuộc họp bất thần:
- Vừa rồi, Trấn thủ Nghệ An đã đệ trình lên ta bản báo cáo của Trù Vũ Bá[39] trình rõ về tình hình Thuận Hóa. Nam Hà quả đang rối loạn không phải chỉ vì quân Tây Sơn hoành hành, mà còn vì tình trạng cơ hoang, dân tình đã khốn đốn vì nạn đói lại oán hận vì những hành động gian ác tham tàn của quyền thần họ Trương, sự nhu nhược của Duệ Tôn. Ngay trong hàng triều thần còn có khuynh hướng khuông phục ngôi vị cho Nguyễn Phước Dương, truất phế Nguyễn Phước Thuần. Ta xét thấy đây là thời cơ để thâu gồm giang sơn vào một mối, các ông nghĩ sao?
Vỉệp Quận công cùng Xuân Quận công đều tỏ ý tán thành. Tĩnh Đô vương cả mừng, bèn nói rõ hơn chủ ý:
- Chỉ vì thương dân, muốn tránh cái họa binh đao cho bách tính, nên cuộc hưu chiến giữa Nam Bắc mới được phía ta duy trì cho đến ngày nay. Nhưng xét kỹ Nam Hà vẫn là đất đai của Triều đình thì khi đã có cơ hội vừa xóa bỏ được cương giới, thống nhất được lĩnh thổ lại vừa giải phóng được nhân dân khỏi cảnh điêu linh, tưởng không nên bỏ lỡ. Vả lại ngoài cái tình hình rất thuận lợi cho ta ở Nam Hà còn có một yếu tố khác để nắm vững sự thành công, đó là khí thế của tướng sĩ ta đang lên cao vì những chiến thắng vừa thu đạt được ở Trấn Ninh, Hưng Hóa[40], nên cuộc Nam Phạt theo ý ta cần tiến hành ngay.
Bàn qua việc quân cơ, Tĩnh Đô vương chỉ định Hoàng Ngũ Phúc làm đại tướng, cho điều động ba vạn quân gồm những tướng sĩ thủy binh, bộ binh thuộc ba mươi dinh và các đạo Thanh Hóa, Nghệ An. Theo giúp Hoàng Ngũ Phúc còn có một số tướng tá có tài thao lược.[41]
Về phía Nam Hà, ở Phú Xuân, sau những ngày có tiệp báo thắng lợi chẳng bao lâu lại có tin cấp báo là quân Tây Sơn tái chiếm Quảng Nam, cửa Hàn, sáu thuyền đạn dược bị địch tịch thu, và địch quân đang ráo riết phong tỏa về mặt kinh tế, cắt đứt các đường giao thông thủy, bộ giữa Quảng Nam với Phú Xuân. Những thuyền lúa của Mạc Thiên Tứ chở ra theo đường biển đã bị chận đánh ngoài khơi Quy Nhơn phủ.
Đang lâm vào tình cảnh đói khó trầm trọng, được tin này, Phú Xuân càng xôn xao, chộn rộn hẳn lên. Duệ Tôn kinh hoàng và thấy đã đến lúc phải thân chinh, bèn phong cho Nguyễn Phước Kính - công tử thứ bảy của Võ Vương - chức Quyền giám quốc sự rồi tự mình chỉ huy một đạo quân, có Hữu chưởng cơ Nguyễn Phước Nghiêm phụ tá, lên đường xuất chinh vào ngày hai mươi chín tháng Bảy năm Giáp Ngọ. Nhưng khi đoàn quân của Chúa vừa ra đến cửa Tư Dung - tức cửa Tư Hiền - thì bỗng được tin quân Trịnh lăm le kéo vào xâm tính. Duệ Tôn liền trao quyền cầm quân cho Tả quân Đại đô đốc Du Quận công Nguyễn Cửu Dật rồi cùng Nguyễn Phước Nghiêm bôn bả[42] quay về, cấp tốc hội họp triều thần trù nghị việc đối phó.[43]
Danh nghĩa do Hoàng Ngũ Phúc nêu ra trong thư gửi cho biên tướng Nam Hà - theo đó Phúc chỉ vâng lệnh Tĩnh Đô vương kéo quân vào Nam để giúp chúa Nguyễn diệt trừ Tây Sơn - không che đậy được cái manh tâm “buông câu nước đục” để thực hiện mộng xâm tính Nam Hà, nên theo đề nghị của Triều thần, việc cần kíp phải lo là tìm cách chận đường quân địch ngay khi họ Hoàng còn đóng trú ở Hà Trung. Duệ Tôn nghe theo, bèn đặt Tống Hữu Trường làm Thống suất lưu đồn ở Quảng Bình và Nguyễn Phước Hiệp[44] là Trấn thủ Bố Chính.
Đến tháng Chín, Hoàng Ngũ Phúc kéo quân vào Bắc Bố Chính châu. Nhân có Tri phủ Trần Giai, người trước kia từng tham dự vào việc làm mạo thư để hại Loan, vì sự việc bất thành, lại nhân vụ Loan sát hại Tham mưu Tá và Nguyễn Phước Văn, lòng càng mang nặng một mối thâm thù, nên nhân dịp này tìm đến Hoàng Ngũ Phúc tình nguyện việc chỉ đường, đưa lối. Nghe theo ý kiến của Giai, Hoàng Ngũ Phúc quyết định vượt qua cương giới tiến vào Nam Hà, nên truyền cho Ngô Dao đóng quân ở làng Đại Đan, rồi thừa lúc đêm tối, Phúc đưa quân vượt Linh Giang và đóng ở làng Cao Lao.[45]
Được tin này, Duệ Tôn và Quốc phó họ Trương càng thêm bối rối. Trong đám đình thần có người hiến kế tìm cách mua chuộc bọn Hoàng Ngũ Phúc.
- Tinh hạng binh bị của ta lúc này thực khó mà đối phó ngay với quân lực Bắc Hà. Phải có thời gian chuẩn bị. Vậy cần chọn sứ giả ra tận nơi, lấy cớ là vì thâm cảm thiện ý của Tĩnh Đô vương và của họ Hoàng cùng sự khó nhọc của tướng sĩ, mở tiệc khoản đãi cực kỳ trọng hậu, lại dùng châu báu, quý kim mua chuộc, thuyết phục họ Hoàng kéo quân trở về Bắc. Nếu xem chừng việc này khó thành, thì khéo liệu cách cầm chân Trịnh quân tại đấy, càng lâu càng tốt, để triều đình có đủ thời giờ chuẩn bị.
Duệ Tôn bèn chọn Cai đội Quý Lộc và Câu đê[46] Kiêm Long để ủy thác sứ mạng. Hai sứ giả được sử dụng một ngân khoản rất lớn trong chuyến đi này, không cần ngại tốn kém miễn là được việc thì thôi.
Quý Lộc và Kiêm Long phụng mạng ra đi và đã tổ chức yến tiệc rất linh đình, trọng thể, nhưng không phải để thuyết phục, mà để ngấm ngầm mời gọi Trịnh quân tiến tới. Duệ Tôn đã chọn lầm người. Lộc và Long vốn đã oán ghét tình trạng thối nát của triều đường từ lâu, nhất là oán ghét Quốc phó họ Trương, nên cũng như Tri phủ Giai, họ muốn nhờ sức Trịnh quân để trừ gian thần, hạ hôn chúa. Cả hai vốn không phải là người trong công tộc, đại nghiệp của họ Nguyễn có mất vào tay họ Trịnh, chuyện đó thực chẳng có gì đáng băn khoăn, đau xót. Nhưng khác với Trần Giai, bọn Lộc và Long không trở mặt một cách công khai, chỉ khéo tìm cách để xúi giục bằng lối thác ý vào những lời bóng gió xa xôi. Giữa tiệc vui, Hoàng Ngũ Phúc đã ngỏ lời dọ dẫm với hai sứ giả:
- Ta rất hoan hỉ về việc Định Vương vì đã thông cảm thiện ý của ta mà có sự đãi ngộ trọng hậu như thế này. Nhưng cũng vì thế, ta muốn biết rõ thực lực của Nam Hà có đủ sức dẹp yên được loạn Tây Sơn hay không? Liệu ta rút quân về có hại gì cho Định Vương chăng? Hay là ta cần phải tiến tới để hoàn thành sứ mạng yểm trợ?
Quý Lộc liếc nhìn Kiêm Long:
- Nhân huynh là hạng cao kiến hơn tôi xin hãy trình bày cùng Quận công những lẽ thiệt hơn.
Kiêm Long vén tay áo, tự rót thêm rượu vào cốc của Hoàng Ngũ Phúc, nhìn quanh đám tiệc, tò vẻ dè dặt:
- Quận công đã vì nghĩa lớn, không nề đàng sá xa xôi, kéo đại binh vào đây tất đã nắm rõ tình hình và cái thế của Nam Hà. Bọn chúng tôi là hạng bầy tôi thiển tài, thiển trí, vâng mệnh trên ra đây chỉ biết có bổn phận bày tỏ niềm tri ân của chúa chúng tôi đối với Quận công và cái ý chỉ của Chúa không muốn phiền hà đến quân lực của ngài quá dài ngày, chứ đâu dám lạm bàn đến những điều ngài vừa hạ vấn.
Nhưng nói xong trong giây lát, Kiêm Long lại giả vờ quá chén, vui đùa, dùng đũa gõ nhẹ vào thành bát, ngâm câu:
Chung bất khấu bất minh...
Chung bất khấu bất minh, lộ bất hành bất chí.[47]
Hoàng Ngũ Phúc lộ vẻ hân hoan, cười lớn.
❀ ❀ ❀
[1] Đồ: Đồ tể. Điếu: câu cá. Chỉ hạng người thấp kém trong xã hội xưa.
[2] Việt sử: xứ Đàng Trong, Gs. Phan Khoang (Duệ Tôn Nguyễn Phước Thuần, 1765-1776). (TG)
[3] Thực lục tiền biên quyển 11,12ab (trích dẫn trong bài“Những bước đầu của anh em Tây Sơn”, Tạp chí Đại học số 26, tháng 4-1962, tr.326). (TG)
[4] Thực lục tiền biên quyển 11,12ab (trích dẫn trong bài“Những bước đâu của anh em Tây Sơn”, Tạp chí Đại học số 26, tháng 4-1962, tr.326). (TG)
[5] Việt sử: xứ Đàng Trong, Gs. Phan Khoang (Duệ Tôn Nguyễn Phước Thuần, 1765-1776). (TG)
[6] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập trung), mục Nhân vật bản triều: Nguyễn Quang Tiền, tr.56) (TG).
[7] Việt sử: xứ Đàng Trong, Gs. Phan Khoang (Duệ Tôn Nguyễn Phước Thuần, 1765-1776). (TG)
[8] Cơ hoang: Nạn đói.
[9] Khâm định Việt sử thông giám cương mục quyển 44, 11a (trích dẫn trong Những bước đầu của anh em Tây Sơn), Tạp chí Đại học số 26 tr.327. (TG)
[10] Thư của Linh mục La Bartette viết năm 1776 do L. Cadière, trích dẫn trong Le Mur de Đồng Hới (B.F.E.O) tập VI, 1906, tr.238 - Tạp chí Đại học số 26, tr.327. (TG)
[11] Thư của Linh mục La Bartette viết năm 1776 do L. Cadière, trích dẫn trong Le Mur de Đồng Hới (B.F.E.O) tập VI, 1906, tr.238 - Tạp chí Đại học số 26, tr.327. (TG)
[12] Cai bộ: Quan trông coi ngân khố của một trấn.
[13] Thực lục tiền biên quyển 11, 11ab (trích dẫn trong“Những bước đầu của anh em Tây Sơn”, Đ.H. số 26, tr.327. - Đ.N.N.T.C.. Tỉnh Quảng Nam, mục Nhân vật (triều Nguyễn): Trần Phước Thành, tr.105. (TG)
[14] Đ.N.N.T.C.. Tỉnh Quảng Nam, mục Nhân vật (triều Nguyễn): Trần Phước Thành, tr.105. (TG)
[15] Việt sử: xứ Đàng Trong, Gs. Phan Khoang (Duệ Tôn Nguyễn Phước Thuần). (TG)
[16] Địch quốc phú gia: người giàu lắm có thế địch lại với Nhà nước. Vị cực nhân thần: người làm quan đến chỗ tột bực quyền quý.
[17] Nguyễn Phước Dương có cha là Nguyễn Phước Chương, con cả của Võ Vương, nhưng mất sớm.
[18] Theo Chính biên liệt truyện quyển 30, 2b, Nhạc và đồng bọn thường nói: “Con của Thái Bảo là Hoàng tôn Dương nhân hậu, thông minh, ta nên rước lập làm Chúa để ổn định vương thất”. (TG)
[19] Dịch: Không thuốc nào chữa được bệnh lo âu việc nước.
[20] Theo Chính biên liệt truyện: Sau Nhạc làm tuần biện ở Vân Đồn, tiêu lạm tiền thuế, Đốc trưng Đằng đòi hỏi gắt gao, nên Nhạc vào núi làm kẻ trộm. Hiến gọi Nhạc đến nói riêng rằng: “Sấm có câu: ‘Tây khởi nghĩa, Bắc thu công’. Mày là người Tây Sơn, hãy gắng lên.” Nhạc cho là phải và mừng thầm. (TG)
[21] Việt sử: xứ Đàng Trong, Gs. Phan Khoang (Duệ Tôn Nguyễn Phước Thuần, 1765-1776). (TG)
[22] Những bước đầu của anh em Tây Sơn, Gs. Nguyễn Phương (Đặt một cơ sở để bành trướng), Đại học số 26 tháng 4-1962, tr.335. - Việt sử: xứ Đàng Trong (Duệ Tôn Nguyễn Phước Thuần, 1765-1776). (TG)
[23] Dã sử quyến 6, 6b, Lê Kỷ - Chinh biên liệt truyện quyển 30, 1b (trích dẫn trong “Những bước đầu của anh em Tây sơn”, Đại học số 26, tr.331).
[24] Chính biên liệt truyện quyển 30, 3a, B.S.E.I. tập L.5 1940, 75 (trích dẫn trong “Những bước đầu của anh em Tây Sơn”, tr.337-339). Khâm định Việt sử thông giám cương mục (trích dẫn trong “Việt sử: xứ Đàng Trong”). (TG)
[25] Khâm định Việt sử thông giám cương mục, trích dẫn trong “Việt sử: xứ Đàng Trong” (Duệ Tôn Nguyễn Phước Thuần). (TG)
[26] Những bước đầu của anh em Tây Sơn, Gs. Nguyễn Phương (III - Đặt một cơ sở để bành trướng), Đ.H. 26, tr.338. (TG)
[27] Thấy Qui Nhơn thất thủ, quan cai trị Quảng Ngãi, một đàng phi báo triều đình, đàng khác cất quân vào tiếp cứu kẻo sợ phong trào nổi dậy chóng lan đến tỉnh nhà. Chính quan ra cầm quân, có 5 voi dự chiến. Quan gặp địch quân khi vào đến chừng nửa tỉnh Qui Nhơn. Cuộc xung đột xảy ra với sự thiệt hại nặng nề về phía quân Quảng Ngãi. Quan Bố phi ngựa tẩu thoát. Tây Sơn thâu được nhiều khí giới và voi. (TG)
[28] Tán lý: Chức quan văn giúp việc binh khi đánh trận.
[29] Tây Sơn lấy Nam Hà, Gs. Nguyễn Phương (“Bước đầu”, Mặt trận năm 1773, Tạp chí Đại học số 27, tháng 6-1962, tr.435 - Việt sử: xứ Đàng Trong (Duệ Tôn Nguyễn Phước Thuần)). (TG)
[30] Tây Sơn lấy Nam Hà, Gs. Nguyễn Phương (“Bước đầu”, tr.433 - Tây Sơn làm tôi họ Trịnh, tr.456). (TG)
[31] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập trung), mục Nhân vật bản triều: Tống Phước Khuông, tr.39. (TG)
[32] Quan Tham mưu, tên Tá, chưa rõ tên họ đầy đủ là gì.
[33] Việt sử: xứ Đàng Trong (Duệ Tôn Nguyễn Phước Thuần, 1765-1776) (TG)
[34] Thừa Thiên phủ (tập trung), mục Nhân vật bản triều Nguyễn Cửu Dật, tr.33). (TG)
[35] Tây Sơn lấy Nam Hà, Gs. Nguyễn Phương, Tạp chí Đại học số 27. tháng 6-1962, tr.436. (TG)
[36] Tây Sơn lấy Nam Hà, Gs. Nguyễn Phương, Tạp chí Đại học số 27. tháng 6-1962, tr.436. (TG)
[37] Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises, tập 15, 1940, 80 (trích dẫn trong “Tây Sơn lấy Nam Hà”, tr.440). (TG)
[38] Việt sử: xứ Đàng Trong, Gs. Phan Khoang (Duệ Tôn Nguyễn Phước Thuần). (TG)
[39] Vũ biên tạp lục của Lê Quý Đôn ghi là Trà Vũ Bá. Họ Trà có lẽ hợp lý hơn.
[40] Lúc bấy giờ Chúa Trịnh đã dẹp yên được loạn Hoàng Công Chất ở Hưng Hóa và Lê Duy Mật ở Trấn Ninh. (TG)
[41] Tây Sơn lấy Nam Hà, Gs. Nguyễn Phương (II - Tây Sơn làm tôi họ Trịnh, tr.443 - Đại học số 27 tháng 6-1962) - Các tướng sĩ được cử theo giúp Phúc là: Phan Lê Phiên, Uông Sĩ Điền làm tham biện, Hoàng Phùng Cơ, Hoàng Đình Thể làm thuộc tướng. Hoàng Lệ, Hoàng Đình Báu giúp việc điều khiển, về việc lương vận thì có Nguyễn Đình Điển quản lãnh lương trường ở Mỹ Lộc, Sơn Nam, Nguyễn Thục quản lãnh lương trường ở Hà Trung, Nghệ An, Ngô Dao quản lãnh lương trường ở Đồng Hới, Quảng Bình. (TG)
[42] Bôn bả (từ cổ): Bôn ba.
[43] Tây Sơn lấy Nam Hà, Gs. Nguyễn Phương (Mặt trận 1774, tr.441). (TG)
[44] Có lẽ là Nguyễn Phước Thiệp thì đúng hơn. Nguyễn Phước Hiệp là công tử thứ tư của Thái Tôn, sau khi đại thắng quân Trịnh năm 1672 thì lui về ở ẩn. Một số đoạn sau, tác giả cũng chép tên Nguyễn Phước Thiệp.
[45] Tây Sơn lấy Nam Hà, Gs. Nguyễn Phương (Mặt trận 1774, tr.444). (TG)
[46] Có lẽ là Câu kê, chức quan văn làm việc trong phủ Chúa.
[47] Tây Sơn lấy Nam Hà, Gs. Nguyễn Phương (Tây Sơn làm tôi họ Trịnh - Quân Trịnh vào Nam Hà) có chép: Những người Duệ Tôn sai đi lại không thật lòng gì với Duệ Tôn. Lòng oán ghét sự thối nát của triều Chúa Nguyễn đã choán tâm hồn họ, khiến họ đã phản bội một cách khôn khéo. Khi Ngũ Phúc hỏi ý kiến họ về việc tiến thối nên như như thế nào, thì họ đáp với một câu tục ngữ: “Lộ bất hành bất chí, chung bất khấu bất minh.” (Đường không đi không đến, chuông không đánh không kêu). Ngũ Phúc biết rõ là họ mời mình tiến, nên lại sắp đặt lên đường (Đại học số 27, tr.445). (TG)