Mộng Kinh Sư

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phú Xuân Và Di Chí Thiên Di Dinh, Phủ Về Nam Của Tiên Chúa Nguyễn Hoàng

❊ ❊ ❊

Với bản đồ tịch trong xứ, do Luân Quận công Tống Phước Trị, từng giữ chức vụ Thuận Hóa Trấn phủ[1], dâng lên ngay lúc Tiên Chúa mới vào Nam, và thêm vào đó, những lời tiên tri của bà lão nhà Trời xuất hiện ở ngay chân đồi Hà Khê, Tiên Chúa chắc hẳn đã lưu ý nhiều tới cảnh trí, địa thế của vùng đất thuộc tỉnh Thừa Thiên hiện nay, nhất là vùng Phú Xuân. Cái ý định thiên[2] dinh về Nam hẳn đã ve vãn tâm trí của vị chúa trẻ tuổi - mới trên ba mươi - giàu chí lớn, ngay từ khi cái cảnh sắc, khí tượng “thiên phủ”[3] của nơi này - được tăng thêm phần quyến rũ vì câu chuyện Cao Biền yểm trừ long mạch - đã lọt vào tầm mắt.

Thực vậy, cái phần đất đai thuộc vào Hóa Châu dưới thời nhà Trần đã từng nằm trong địa bàn của châu Lý - một trong hai châu mà Chế Mân, vua nước Chiêm Thành, đã dùng làm lễ nạp trưng nhằm đánh đổi cái diễm phúc được vầy duyên loan phượng với một công chúa Việt Nam, và dưới thời Lê, trở thành ba huyện Kim Trà, Đan Điền, Tư Vinh thuộc sáu huyện và hai châu của phủ Triệu Phong thuở đó[4], lại được đổi tên là Hương Trà, Quảng Điền, Phú Vinh dưới thời Tiên Chúa[5], quả là một vùng có hình thế kín đáo, hiểm trọng.

Hiểm trọng, kín đáo, vì ở phía Bắc có biển Hạc Hải - năm Minh Mạng thứ hai (1821) được đổi tên là phá Tam Giang - rộng những sáu dặm, dài ba mươi lăm dặm, do nước từ ba ngả sông Tả Giang, Trung Giang và Hữu Giang đổ vào, sâu rộng mênh mông và thường có phong ba dấy khởi[6], ở phía đông có vũng Hà Trung[7] với những đầm Minh Lương, Ô Trai và Đả Đả rộng hai dặm lẻ, chu vi có tới trăm dặm. Tương truyền, chính tại nơi này, Thái Tôn Hiếu Triết Hoàng đế, tức chúa Nguyễn Phước Tần, nhân một dịp kinh quá, đã trông thấy tận mắt, một con sóng yêu quái nổi dậy. Chúa cả giận, ra lệnh bắn ngay hai phát đại bác vào đám sóng đang lồng lộn trong cơn cuồng nộ. Tức thì, hai con sóng trong đám phun máu ra đỏ cả một vùng, trong lúc một con sóng thứ ba lẩn trốn vội vàng ra khơi. Ở phía đông nam, lại có ải Hải Vân hùng vĩ, hiểm hóc. Hải Vân, một loại thiên hạ đệ nhất hùng quan, cùng với Hang Dơi, tức Bãi Chuối, nằm ngay chân núi giáp bờ bể ở phía bắc, đã từng nổi tiếng với câu ngạn ca:

Bộ hành khả úy hề Hải Vàn,

Thủy hành khả úy hề Bức Cốc ba thần.

Đi bộ thì khiếp Hải Vân,

Đi thuyền thì khiếp sóng thần Hang Dơi[8].

Hải Vân còn là nơi mà, về sau này, chúa Nguyễn Phước Châu, một phen tuần hành, đã phải tán tụng về cái vẻ hiểm trở, hùng tráng, trong bốn câu thơ:

Việt Nam hiểm ải thử sơn diên,

Hình thế hỗn như Thục đạo thiên.

Đãn kiến vân hoành tam tuấn lãnh,

Bất tri nhân tại kỷ trùng thiên[9].

Chót núi này là hiểm trở nhất ở Việt Nam,

Hình thế giống như đường đi đất Thục,

Chỉ thấy mây giăng trên ba núi lớn,

Không hay mình ở trên mấy từng trời.

Ngoài ra còn có nguồn núi Tả Trạch, xoay chuyển về hướng nam, với năm mươi lăm thác nước và nguồn núi Hữu Trạch chạy dài qua phía hữu với mười bốn thác, lại có vô số đồi khe ràng rịt đủ để trấn ngự được bước tiến của các man.

Cùng với cái thế hiểm trở này, còn phải kể những đặc điểm của sơn xuyên có lợi cho công cuộc hưng nghiệp. Núi Cư Chính[10] chẳng hạn - dưới thời Minh Mạng năm thứ hai, được đổi tên là Hưng Nghiệp - đã được các tác giả Đại Nam nhất thống chí nhấn mạnh về tính cách quan hệ đối với nghiệp lớn của nhà Nguyễn như sau: “Thế núi chạy dài nhiều từng quanh bọc, các ngọn nước chạy triều về Đông, nghiệp lớn muôn đời của bản triều thật triệu đoan từ nơi đây[11].” Và sông Hương Giang, ở phía nam quận Hương Trà, một thành quả mỹ miều của một cuộc giao duyên giữa hai nguồn nước đa tình. Một nguồn từ Khe Ba ở núi Trường Động phía Tả Trạch, một từ phía đông núi Chấn Sơn thuộc nguồn Hữu Trạch, băng vượt qua bao nhiêu đường xa, dặm dài, để cùng gặp nhau ở nơi hò hẹn đầy trăng gió là ngã ba sông Bằng Lãng, hợp nhất mà chảy xuống phía đông, tạo thành một dòng tú thủy nổi danh, trầm lặng uốn khúc giữa những đồng xanh, thôn hoa. Chất nước mát ngọt trong lành của dòng sông không những chỉ mang lại sự phì nhiêu cho đôi bờ, mà còn phối hợp với phong thổ để tẩm nhuần thêm chất đường thanh mật ngọt, phổ thêm nhạc điệu vào giọng nói, và điểm chuyết thêm vẻ thanh tân, não chúng cho giống thục nữ sinh trưởng giữa vùng Hương Ngự. Và cũng trên bờ sông này, vị trí Kinh sư tọa lạc quả là một nơi thống hội cả núi bể khí hậu hòa bình... sông lớn bao la ở trước, núi cao hộ vệ ở sau... địa thế hùng tráng như rồng lượn quanh co, hổ ngồi chễm chệ... thật là bụng rốn của trời đất[12].

Thêm vào đấy, còn có cửa bể Ô Long - tức cửa bể Tư Hiền - với câu nói còn được truyền tụng của vua Lê Thánh Tôn nhân dịp vào đánh Chiêm Thành: “Núi sông này khí thế hùng dũng lắm thay! Đời sau chắc có anh hùng chiếm cứ nơi này.” Hùng dũng vì cái cảnh tượng:

Liệt chướng huyền nhai thanh xúc xúc

Man thiên phách lãng bích trùng trùng.

Núi xanh cao giăng sườn đồ sộ,

Biển chập chồng sóng vỗ dậy trời.[13]

Ngoài những đặc điểm của sơn xuyên vừa kể, nơi này còn là một vùng ruộng đất phì nhiêu, tài nguyên sung thiệm: giáp bờ bể, dọc theo núi, cá tôm, cây gỗ dùng không thể hết[14], hải vị, hào soạn[15], lâm sản vô cùng phong phú.

Tấn thảm kịch Huyền Trân, hay cuộc đổi chác xem trọng giá trị đất đai hơn giá trị con người: “Hai châu Ô, Lý vuông ngàn dặm, một gái Huyền Trân của mấy mươi”[16] nỗi sầu khổ, tủi thương của khách má hồng bạc phận, cái cảnh nước non nghìn dặm ra đi của một công chúa hoa ngọc phải đem phẩm tiên trao phó tay phàm, cùng những vang bóng của một cuộc chia ly từng được cấu tạo thành một bức tranh đầy màu sắc tươi sáng mà thê lương, huy hoàng mà bi đát dưới ngòi bút của thi nhân:

... thuyền Chiêm trên bể rộng,

Sắp hàng đi tới nơi chân trời mơ mộng.

Nơi vầng ô sang sáng pha hồng tươi,

Cờ tung bay phấp phới trên nền trời.

Và, như ru, nhịp nhàng chèo khua sóng,

Tiếng loa xa còn mơ màng đồng vọng.

Nhưng dãy thuyền gió quyến vẫn dần trôi,

Đưa Huyền Trân về Chiêm quốc, hỡi ôi!

PHẠM HUY THÔNG

(Huyền Trân công chúa)

hẳn phải sống dậy, trên vùng đất đai này, dưới cái nhìn thăm dò địa thế của vị Tổng trấn Tướng quân và chắc là đã phải gợi ra cho Tiên Chúa một sự ngạc nhiên về sự an bài, bố trí khéo léo của Định mệnh, vì hầu như cái thảm kịch Huyền Trân đã chuẩn bị, ngay từ thời nhà Trần, những yếu tố địa lợi cần thiết cho họ Nguyễn sau này trong công cuộc khai cơ hưng nghiệp.

Nhưng vì sao cái ý chí ấy lại không được thực hiện ngay trong buổi sinh thời của Tiên Chúa?

Nhiều bậc trưởng lão ở Kinh kỳ, bên cạnh những chén trà ngào ngạt hương lan Trân châu[17] hay hương hoa mộc hoặc trong những chiếu rượu thong dong kiểu Phi anh hội[18], mỗi lúc được gạn hỏi về điểm này, thường có lối suy diễn bằng cách ức đạt tâm lý, tuy có phần khiên cưỡng nhưng không phải là hoàn toàn vô căn cứ.

Sự suy diễn này được dựa vào một vài giai thoại có vẻ hoang đường dưới thời Tiên Chúa. Trước tiên là cái điềm lành mà vị Thái phó Nguyễn Ư Dỹ đã nghiệm được ý nghĩa qua bảy chum nước do nhân dân mang đến dâng cho Chúa[19] tại bãi cát Cồn Cỏ, làng Ái Tử, khi Tiên Chúa do[20] An Việt, tức cửa Việt ngày nay, lên sông Quảng Trị, vừa bắt đầu đặt chân vào vùng Thuận Hóa[21]. Thứ đến là cái thắng lợi vô cùng may mắn trong cuộc chống cự Mạc tướng Lập Bạo, cũng trên dòng sông Ái Tử. Chính tại đây, chuyện lạ đã xảy ra, vào một đêm mà hương thơm của những hạt gạo Minh Xuân[22] mềm dẻo, cùng tất cả những thức hào soạn dâng lên, không làm cho Tiên Chúa ngon miệng chút nào. Và, những vò rượu Kim Lung[23] hảo hạng, dù có cạn hết cũng khó thể giải tỏa được nỗi lo buồn trong lòng Tiên Chúa. Thế địch quá manh. Lập Bạo, với sáu chục binh thuyền, từ Hải Dương vượt bể tiến vào[24]. Trại mạc của Lập Bạo giăng đóng san sát từ con đường Hồ Xá đến đền Lãng Uyển Thanh Tương[25], biểu dương cả một khí thế hùng mạnh đến độ chỉ nhìn qua, Tiên Chúa đã biết lực lượng của mình khó bề đương cự nổi. Cứ lấy sức mà chọi sức thì sự thất bại đã quá rõ ràng. Còn Phỉ thúy trĩ, do dân huyện Thành Hóa dâng lên cho Chúa, vào ngày xuất quân, không còn được coi là một điềm lành làm đẹp lòng Chúa như khi nó vừa được mang đến trong chiếc lồng son[26]. Giữa lúc lòng dạ rối bời vì chuyện quân cơ, Chúa tựa mạn thuyền, thờ thẫn lặng nhìn dòng sông. Đêm thanh cảnh vắng. Mặt sông vắng gió, không hề gợn một nếp nhăn, bằng phẳng như tấm kính dưới bóng trăng vàng. Bỗng nhiên Tiên Chúa chú ý đến một hiện tượng bất thường. Gần bên thuyền Chúa, mặt nước tự dưng xao động, ba đào nổi dậy như đang cơn giông tố mà chẳng hề lay chuyển mình thuyền. Và từ chỗ khơi động thủy ba, có những tiếng “trảo trảo”vọng lên. Trước chuyện quái dị, vị chân chủ phương Nam nghĩ ngay đến sự hiển linh của giang thần, bèn đổi lo làm mừng, chinh túc nghi dung, nhìn thẳng vào đám sóng mà mật đảo[27]. Và, đêm ấy, trong mộng, có một phụ nhân hoa ngọc, mặt sương mình tuyết, phong vận rất mực đoan trang đã hiện về bái yết và hiến kế mỹ nhân. Phụ nhân tự xưng là nữ thần Trảo Trảo[28].

Y theo kế của nữ thần, Tiên Chúa liền chọn một nàng hầu có cái nhan sắc rất đỗi não nùng - nàng Ngô Thị tự là Ngọc Lâm, tục gọi là nàng Trà - trao cho nàng cái nhiệm vụ chiêu phủ kẻ địch bằng vàng ngọc và cái duyên đẹp nói, đẹp cười. Quả nhiên, mặt hoa da phấn và cái vẻ não chúng của nàng Trà đã làm xiêu lòng Mạc tướng, đẩy y đến chỗ bỏ mình giữa chốn ba quân[29]. Cũng như Từ Hải quá tin Kiều nhi thuở nào, Lập Bạo theo lời quyến dụ đường mật của giai nhân, đã chịu cùng nàng bơi một chiếc thuyền con đến nơi họp mặt với Tiên Chúa, một ngôi đền tranh mới dựng bên bờ sông, có sẵn hầm đào cho phục binh ẩn núp. Và tại đây, Lập Bạo đã phải ngã gục xuống giữa trận mưa tên, khi y cố tháo lui để tẩu thoát[30]. Không những trừ được Lập Bạo, Tiên Chúa với chiến thắng này, còn được thêm một số binh sĩ quy hàng đông đảo để sử dụng vào công cuộc khẩn hoang ở các vùng chung quanh cồn Tiên, thuộc huyện Gio Linh, lập thêm được những ba mươi sáu xã mới[31].

Chính những kỷ niệm đẹp đẽ này - từng làm thỏa mãn lòng tự ái và củng cố niềm tin của Chúa vào cái cơ duyên hưng nghiệp của mình - đã gây cho Tĩên Chúa một mối tình quyến luyến keo sơn đối với cái địa phương mà Chúa đã dừng bước để đóng trị sở đầu tiên và, do đó, Tiên Chúa không nỡ rời bỏ nơi này, tuy đã hơn một lần, dinh trại từng được thiên di. Ái Tử hay Trà Bát hay Dinh Cát cũng vẫn là những địa điểm không cách nhau xa lắm, cũng nằm trong phạm vi một huyện Võ Xương hay Đăng Xương như Chúa đã đổi tên cho[32].

Thực vậy, trong suốt thời gian năm mươi lăm năm trời ở cương vị chân chủ phương Nam, Tiên Chúa không hề rời bỏ huyện Đăng Xương. Có thể câu chuyện bảy chum nước, xét như là một yếu tố về nhân tâm, giải thích được phần nào sự trì hoãn việc thiên dinh về Nam. Vào trấn Thuận Hóa là đi lánh một cái họa có thể xảy ra, đi tìm một chỗ dung thân. Và sự bắt đầu một công cuộc khai cơ ở một vùng xa xôi hiểm trở, còn bỡ ngỡ lạ lùng, lại thường có quân nhà Mạc năng tới lui quấy nhiễu như vùng Thuận Hóa thuở đó, thì yếu tố nhân tâm càng phải được chú trọng nặng hơn yếu tố thiên thời, địa lợi.

Vốn phải xa lìa nơi Kinh khuyết chỉ vì muốn tránh một cái họa có thể xảy ra bởi bàn tay thâm độc của một ông anh rể quá giàu tham vọng, Tiên Chúa lòng riêng vẫn còn quyến luyến nhà Lê, và cũng chưa nghĩ đến chuyện chống nhau với họ Trịnh, nếu không có những mưu toan ám hại của Trịnh Tùng[33], mà Tiên Chúa đã cảm đoán được, qua thái độ của đứa cháu gian hùng này, khi Bình An vương cố tình lưu giữ ông Cậu ở Thăng Long để tránh cái chuyện thả hổ về rừng[34]. Năm Kỷ Tỵ (1566), một lần ra chầu vua Lê ở An Tràng; năm Quý Tỵ (1593) một lần đưa quân ra phù Lê giúp Trịnh diệt Mạc[35]. Bốn trăm cân bạc ròng, năm trăm cây lụa quý triều cống hàng năm[36], trước sau vẫn giữ đúng kỳ, đủ lễ, há chẳng đã chứng tỏ cái mộng “Triều đình riêng một cõi trời” chưa hề ve vãn tâm tư của Tiên Chúa thuở đó.

Và, sau này, với cuộc giã từ đột ngột Thăng Long (1600), mượn cớ dẹp bọn phản nghịch Phan Ngạn, Ngô Đình Nga, Bùi Văn Khuê nổi lên ở cửa Đại An - do chính âm mưu mật sử của mình[37], dong buồm ra khơi, cướp gió mà quay về Thuận Hóa[38], Tiên Chúa tuy đã rắp tâm chống lại họ Trịnh, mưu đồ hưng khởi sự nghiệp, mở rộng bờ cõi về Nam để bành trướng thế lực, lại càng tha thiết đến yếu tố nhân tâm. Với sự phò giúp của những hạng hiền tài như Oai Quốc công Nguyễn Ư Dỹ, Thống binh Mạc Cảnh Huống và Luân Quận công Tống Phước Trị, cùng một số đông người ở Tống Sơn theo vào với Chúa, mối quan tâm lớn nhất mà Tiên Chúa thường biểu lộ vào lúc bấy giờ là sự chiêu hiền và thu phục lòng dân.

Nhân dân ở huyện Đăng Xương[39] đã tỏ lòng kính mộ Tiên Chúa, ngay từ lúc đầu, qua câu chuyện dâng bảy chum nước, có thể đã trở thành một thứ quần chúng quen thuộc, đáng tin cậy vì lòng trung thành. Phong khí thuần lương, có tính hiếu học, sách đắt tiền mấy cũng sẵn sàng mua[40], nhân dân Đăng Xương hẳn đã chiếm được nhiều cảm tình và tín nhiệm của vị Tổng trấn Tướng quân. Dinh Cát thuở đó còn là một nơi đô hội, vì cái xứ có nhiều con gái đi chợ, tóc bỏ xõa, ngang lưng có thắt dải lụa, khách đến nhà niềm nở chào mời trầu cau[41], vốn đã là một cảng khẩu trọng yếu của các thương thuyền Trung Hoa, với rất nhiều thuyền buôn Trung Quốc đổ về, mang lại cho Tiên Chúa một nguồn lợi không phải là nhỏ[42].

Có thể vì những lẽ vừa nói, mà trong mười hai năm trời còn lại, trị sở của Tiên Chúa không hề rời quá xa làng Ái Tử, tuy Thiên Mụ tự, vì câu chuyện long mạch ở vùng Hà Khê, đã được Chúa cho xây cất, cách một năm sau đó (1601) cùng với một nhà kho tại vùng Hương Ngự, và công cuộc Nam tiến đã ghi được một thắng lợi quan trọng với cuộc tiến chiếm đất Chiêm Thành ở vùng Phú Yên (Sông Cầu) vào năm 1611.

Nhưng nếu cái ý định thiên di Thượng đô về Nam không được thực hiện ngay trong buổi sinh thời của Thái Tổ Gia Dũ Hoàng đế, thì nó lại trở thành một thứ di chỉ được các vị chúa kế vị tiếp tục noi theo, như chúng ta sẽ thấy sau này, qua chuỗi thăng trầm, suy thịnh của Linh Mụ tự.

❀ ❀ ❀

[1] Nguyên trước là người quý hương Tống Sơn, sau di cư vào Thừa Thiên, xuất sĩ vào đời Lê, làm đến chức Thuận Hóa trấn phủ, Luân Quận công. Chính trị khoan hòa, trăm họ thương mến, từng xưng tụng là Bản Xứ công. Khi Nguyễn Hoàng vào trấn miền Nam, ông Trị là người đầu tiên dâng đồ tịch trong xứ, giúp Tiên chúa hết lòng, có nhiều công trạng (Theo Đ.N.N.T.C.. - Thanh Hóa (tập hạ), mục Nhân vật bản triều: Tống Phúc Trị. Tr. 127 - Đ.N.N.T.C.. Thừa Thiên phủ (tập trung) mục Nhân vật bản triều: Tống Phúc Trị, tr 30). (TG)

[2] Thiên: Di, chuyển

[3] Thiên phủ: Kho trời.

[4] Sáu huyện là Kim Trà, Đan Điền, Hải Lăng, Võ Xương, Tư Vinh, Điện Bàn và hai châu là Sa Bồn và Thuận Bình (Theo Đ.N.N.T.C.. Thừa Thiên phủ (tập thượng), mục Kiến trí duyên cách, tr.24). (TG)

[5] Ngoài việc đổi tên các huyện nói trên, vào năm 1558, Tiên chúa còn đổi tên huyện Võ Xương thành Đăng Xương, trích huyện Điện Bàn thăng làm phủ, cải thuộc tỉnh Quảng Nam (Theo Đ.N.N.T.C.. Thừa Thiên phủ (tập thượng), mục Kiến trí duyên cách, tr.24). (TG)

[6] Thuộc địa phận Quảng Điền, phá này chảy qua đông nam hai mươi lăm dặm, hiệp với Hương Giang chảy ra cửa bể Thuận An.

[7] Nguyên trước thuộc huyện Phú Vang, năm Minh Mạng thứ mười sáu (1835) đổi thuộc Phú Lộc.

[8] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập thượng), mục Sơn Xuyên: núi Hải Vân, tr.53, 54. (TG)

[9] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập thượng), mục Sơn Xuyên: núi Hải Vân, tr.53, 54. (TG)

[10] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập thượng), mục Sơn Xuyên: núi Hưng Nghiệp, tr.44. (TG)

[11] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập thượng), mục Sơn Xuyên: núi Hưng Nghiệp, tr.44. (TG)

[12] Đ.N.N.T.C.. - Kinh sư. Tập số VI, năm 1960, tr.15. (TG)

[13] Hai câu trong bài thơ vịnh cửa ô Long. Tên Ô Long được đặt từ thời nhà Lý. Qua nhà Trần được đổi thành cửa Tư Dung. Còn có tên là Ôn Hải Môn và Biện Hải Môn. Thiệu Trị nguyên niên được đổi thành cửa Tư Hiền (Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập thượng), mục Quan tấn: cửa tấn Tư Hiền, tr.99-102). (TG)

[14] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập thượng), Hình thế, tr.29. (TG)

[15] Hào soạn: Đồ ăn ngon.

[16] Huyền Trân công chúa (thơ), Hoàng Cao Khải. (TG)

[17] Tục gọi là hoa sói, người Kinh kỳ thường dùng để ướp trà. (TG)

[18] Phạm Thục công ở đất Hứa có làm giàn cho hoa đồ my leo trước Trường Tú đường. Cứ vào khoảng cuối xuân, hoa nở, thường mở tiệc rượu dưới giàn hoa. Mỗi lúc có gió thoảng qua, hoa rơi xuống nhằm vào chén người nào thì người ấy được uống một chén lớn. Hoa rơi nhiều nên người nào cũng phải uống nhiều. Tiệc rượu ấy gọi là Phi anh hội. Ở Kinh kỳ, các bậc trưởng lão phong lưu trước đây có nhiều vị hay mở chiếu rượu dưới dàn hoa lý. Tuy hoa lý không rơi như hoa đồ my, nhưng những tiệc rượu như vậy cũng được gọi là Phi anh hội. (TG)

[19] Généalogie des Nguyễn avant Gia Long par S.E. Tôn Thất Hân, traduction de Bùi Thanh Vân, B.A.V.H. 1920.

[20] Do: tiếng Hán Việt nghĩa là “từ”. (Theo từ điển Trần Văn Chánh)

[21] Làng Minh Hương và phố Thanh Hà thuộc tỉnh Thừa Thiên của Gs. Trần Kinh Hòa. Tạp chí Đại học số 21 tháng Bảy năm 1961, tr.100. (TG)

[22] Minh Xuân đạo, tục danh là lúa Minh Xuân, hạt màu vàng lợt và dài, gạo trắng mà thơm lắm. Tháng Mười một cấy, tháng Tư gặt, sản xuất ở tổng Bái Ân, hàng năm có cống hiến. (Đ.N.N.T.C.. - Tỉnh Quảng Trị, mục Thổ sản: Minh Xuân đạo, tr.80). (TG)

[23] Cũng theo Đ.N.N.T.C.. - Tỉnh Quảng Trị, mục Thổ sản, thì xưa kia rượu Kim Lung, Hải Lăng ngon có tiếng.

[24] Việt sử: xứ Đàng Trong của Gs. Phan Khoang, Khai Trí xuất bản, tr.144. (TG)

[25] Đ.N.N.T.C.. - Tỉnh Quảng Trị, mục Tự miếu: Đền Thanh Tương Hầu, tr.51. (TG)

[26] Đ.N.N.T.C.. - Tỉnh Quảng Trị, mục Thổ sản: Chim trĩ sinh ở núi Thành Hóa, tr.84. (TG)

[27] Mật đảo: Thầm cầu nguyện.

[28] Đ.N.N.T.C.. - Tỉnh Quảng Trị, mục Tự miếu: Đền Trảo Trảo phu nhân, tr.49. (TG)

[29] Le Việt Nam: Histoire et civilisation par Lê Thành Khôi (Sécession du Nord et du Sud: Les Nguyễn au gouvernement du Thuận Quảng), p.244, Ed. De Minuit, Paris 1955 - La Province de Quảng Trị par A.Laborde B.A.V.H. 1921 -Đ.N.N.T.C.. Tỉnh Quảng Trị, mục Tự miếu: đền Trảo Trảo phu nhân, tr.49, mục Sơn Xuyên sông Ái Tử, tr.42. (TG)

[30] Việt sử: Xứ Đàng Trong của Gs. Phan Khoang, tr.145. (TG)

[31] La Province de Quảng Trị par A.Laborde, B.A.V.H. 1921. (TG)

[32] Làng Minh Hương và phố Thanh Hà thuộc tỉnh Thừa Thiên của Gs. Trần Kinh Hòa có chép: cứ theo điều tra căn cứ xác thực của Đức Cha L. Cadière và nghiên cứu trong các sách Đ.N.N.T.C.. và Đ.N. thực lục tiền biên thì vào năm Gia Tĩnh thứ 37 (Lê, Chính Trị nguyên niên, 1558) Nguyễn Hoàng mới vào trấn thủ Thuận Hóa, do cửa Việt lên sông Quảng Trị, đóng dinh tại làng Ái Tử, huyện Đăng Xương (tức Động Cát chạy ra sông Quảng Trị, tục gọi bãi cát Cồn Cỏ, nằm xế về phía Tây Bắc tỉnh thành Quảng Trị ngày nay), năm 1570 dời Dinh vào làng Trà Bát (tức thôn Trà Bát hiện nay, thuộc dãy chùa Liên Bông xứ Cồn Dinh) cách phía đông bắc làng Ái Tử chừng hai cây số. Năm 1610 lại dời qua xứ Phủ Thò cũng thuộc làng nói trên và gọi là Dinh Cát (Tạp chí Đại học số 21 tháng Bảy, 1961, tr.100). (TG)

[33] Trịnh Tùng: Chúa thứ nhất của nhà Trịnh, con của Trịnh Kiểm

[34] Le Việt Nam: Histoire et civilisation par Lê Thành Khôi (Sécession du Nord et du Sud: Les Nguyễn au gouvernement du Thuận Quảng), p.245. (TG)

[35] Một vài ý kiến về sự nghiệp Gia Long của Gs. Phạm Việt Tuyền, Đại học Tạp chí số 8, tháng Ba, 1959, tr.67. (TG)

[36] Le Việt Nam: Histoire et civilisation par Lê Thành Khôi, p.245. (TG)

[37] Đại Việt sử ký toàn thư (trích dẫn trong “Việt sử: xứ Đàng Trong” của Gs. Phan Khoang): Thuận Đức năm đầu (1600), Tiên chúa mật sử bọn thủy tướng là Phan Ngạn, Ngô Đình Nga, Bùi Văn Khuê làm phản ở cửa biển Đại An, rồi tự mình xin đi đánh dẹp. Ngạn, Khuê vốn nhận Tiên chúa là cậu, dấy binh nổi loạn, vây đánh kinh thành rất gấp, phóng hỏa đốt kinh thành, phố xá, dinh trại, trăm họ kinh sợ, dắt mẹ bồng con đi trốn. Bình An vương phải phò vua Lê theo đường Mỹ Lương về Thanh Hóa đế giữ vững căn bản. (TG)

[38] Le Việt Nam: Histoire et civilisation par Lê Thành Khôi (Sécession du Nord et du Sud: les Nguyễn au gouvernement du Thuận Quảng). (TG)

[39] Năm Kiến Phúc nguyên niên vì kỵ húy nên đổi tên Đăng Xương thành Thuận Xương. (TG)

[40] Đông Tây dương khảo, mục Giao chỉ dịch (trích dẫn trong “Làng Minh Hương và phố Thanh Hà thuộc tỉnh Thừa Thiên” của Gs. Trần Kinh Hòa. (TG)

[41] Đông Tây dương khảo, mục Giao Chỉ dịch (trích dẫn trong “Làng Minh Hương và phố Thanh Hà thuộc tỉnh Thừa Thiên” của Gs. Trần Kinh Hòa. (TG)

[42] Theo Gs. Trần Kinh Hòa trong bài “Làng Minh Hương và phố Thanh Hà… (niên đại bắt đầu kiến thiết phố Thanh Hà, tr.99, 100) thì những điều sách Đông Tây dương khảo (biên soạn năm Đinh Ty, niên hiệu Vạn lịch, 1617) ghi chép về việc thương thuyền Trung Hoa bắt đầu thông thương với Thuận Hóa có lẽ là trạng huống khoảng năm 1610, thì Thuận Hóa mà thuyền buôn Trung Hoa qua buôn bán lúc bấy giờ chính chỉ Dinh Cát bên sông Quảng Trị ngày nay, chớ quyết không phải Thuận Hóa ở bờ sông Hương.

Đàn —★— MỘNG KINH SƯ Tiểu thuyết Lịch sử ebook©MotSAch —★— TVE-4u©vctvegroup Nhà xuất bản Hà Nội 2016
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Phan Du

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.