Sau những cuộc yến ẩm linh đình do Duệ Tôn cho các sứ giả ân cần khoản đãi, quân Trịnh thay vì rút lui về Bắc lại tiến vào Nam Hà. Lo ngại, Trấn thủ Bố Chính dinh Nguyễn Phước Thiệp và Ký lục Bảo Quang vội rút về Đồng Hới. Nhưng khi tướng Hoàng Đình Thể đưa quân tới trước lũy Trấn Ninh - tức Lũy cũ Phú Ninh, bọn biên tướng và thú tướng Nam Hà liền mở cửa đầu hàng. Lũy này được đắp từ thời Thái Tôn - vào năm 1662 do Ngô Quốc công Nguyễn Hữu Dật trông coi[1] - rất đỗi kiên cố. Trước đây đã mấy lần Trịnh quân đánh phá vẫn không hạ được, lần này khi vào được lũy liền cho hủy hoại. Bọn quan lại Nam Hà chẳng biết làm gi khác hơn là rủ nhau lẩn trốn. Cho hay tinh thần, nhuệ khí khi đã mất thì thành cao, lũy dày cũng trở nên vô nghĩa. Từ ngày có cuộc phân tranh Nam Bắc đến nay, Trịnh quân đã biết bao phen muốn xâm tính Nam Hà, mà rồi, lần nào cũng vậy, đành phải ôm hận cuốn cờ, xếp trống rút lui, vì sức chế ngự vô cùng kiên cố của các lũy. Linh Giang hay Thanh Hà tuy rộng những một trăm bảy chục trượng, “hai bờ xa cách hiểm trở thiên nhiên”, gần cửa biển tại có “ba đào rầm rộ”[2] vẫn chưa thấm vào đâu với sự hiểm trở của các lũy Động Hải, Trấn Ninh, Trường Dục, cái hiểm trở khó thể vượt mà chính người miền Bắc đã từng nói lên trong câu ca truyền tụng:
Hữu trí dũng hề
Khá quá Thanh hà,
Túng hữu dực hề
Trường lũy bất khả qua.[3]
Nhưng rồi đến nay, quân của Hoàng Ngũ Phúc tuy không có cánh vẫn vượt qua trường lũy dễ dàng, và đến tháng Mười Một năm Giáp Ngọ, họ Hoàng đã đóng quân ở làng Hồ Xá.
Được tin, Duệ Tôn rụng rời hoảng hốt, phần thì căm tức vì sự phản bội bất ngờ của hai tên sứ giả, phần lo nỗi không thể nào trở tay cho kịp. Và Đô thành Phú Xuân cũng thêm xôn xao, rúng động với cái khủng khí nặng nề, căng thẳng đầy âu lo, nghi kỵ và những mưu toan phản trắc ngấm ngầm. Hạng giàu có lo chôn giấu châu báu, bạc vàng. Hạng quyền quý phập phồng, hồi hộp, mất ngủ mất ăn vì cơn phong ba, bão táp bất ngờ trên bể hoạn - khó tránh được và đã gần kề - chẳng những đe dọa đến địa vị, thân danh mà còn đe dọa đến cả sinh mạng nữa. Một số đông chẳng còn thiết tha gì đến công vụ, chỉ lo nghe ngóng, đón chừng hướng gió để tiện việc bỏ buồm.
Nhưng người phải lo ngại, kinh hoàng trước nhất là Quốc phó họ Trương. Không phải lo ngại vì đại cuộc, vì cảnh ngửa nghiêng của xã tắc, sơn hà, mà lo ngại cho chính bản thân, cho cái thế sa cơ, mạt lộ đã được báo hiệu bởi bài hịch của Hoàng Ngũ Phúc vừa cho loan truyền từ Hồ Xá và đang được phổ biến khắp cõi, đang gây cả một trào xôn xao đầy hoan hỉ trong các tầng lớp chúng dân.
Lời lẽ đanh thép như rìu phang, búa bổ của bài hịch và những tội trạng được nêu ra đã làm cho Quốc phó họ Trương khiếp hãi đến toát tháo mồ hôi. Dù ẩn mình trong biệt thự thâm nghiêm, tường cao, cống kín ở Phần Dương, Quốc phó vẫn hình dung được cái trào xao động của quần chúng từ thôn dã đến sơn khê một khi uất hận đã có cơ trào thoát, và vẫn nghe bên tai sang sảng những lời đàn hặc dữ dằn:
“Tả tướng Trương Phúc Loan là người đẩu sao[4], tiểu khí, quỉ vức tà tâm[5], thân thiết với hạng đàn bà con gái, tử tế với bọn thao thiết, xu cơ, tin dùng những kẻ gian nặc, hãm hại những người trung lương, tìm cách ly cựu, gián thân để cho đảng thêm mạnh, bày mưu chuyên quyền, nạp đảng để cho mình càng giàu, tự ý giết kẻ này lập kẻ khác, thật có tay, có chân mà chẳng khác gì sài lang, thích thú về những điều cay việc độc, thật đội mũ mặc quần mà giống hệt như cầm thú, lấy thuế dân nặng như hút máu mủ, bớt lương binh như nhổ răng, nhổ móng. Cách cai trị nguy cấp như đốt cháy lông mày, các hình phạt thâm độc như chọc thủng mắt, xui dân oán hận, đảo lộn ngôi thứ, khiến quân Táy Sơn kết tụ bọn gian manh làm đồ đảng, đông như kiến, như ong...”
Và viễn tượng của một sự thanh trừng thảm khốc không thể coi thường:
“Muốn làm cho dân chúng sống lại, tôi mới vội đem binh sĩ đầy sinh lực vào đây để trước là giết cường thần...”[6]
Quốc phó họ Trương đã nhận thấy quá rõ là trước thời cuộc, Trịnh quân đã biến ông thành một đối tượng quan trọng và nguy hại vào bậc nhất, một cái cớ chính yếu để xâm tính Nam Hà. Nhưng Nam Hà có mất đâu phải là chuyện đáng lo, mà cái đáng lo là tính mệnh ông và cái sản nghiệp “địch quốc phú gia”. Qua những giấc ngủ chập chờn hay những đêm trắng dài dặc, trằn trọc thâu canh, Quốc phó bao phen phải giật mình với mồ hôi giá lạnh vì cái ấn tượng kinh hoàng: một mình làm đích cho cả một đại binh hùng hậu, cho hàng nghìn, hàng vạn ngọn giáo, mũi tên. Và đến đây con người đại gian, đại ác này mới cảm nghiệm, lĩnh hội được tất cả cái ý nghĩa của câu“thập mục, thập thủ”, vì không phải là phảng phất mà lại rất rõ ràng, không phải chỉ có mười cặp mắt chăm nhìn, mười ngón tay chỉ trỏ, mà là hàng vạn, hàng triệu cặp mắt nảy lửa, hàng vạn, hàng triệu ngón tay xỉa xói đổ dồn vào ông, bao vây lấy ông ngay trong khoảng màn che, trướng rủ, hàng vạn, hàng triệu cặp mắt cánh tay của đám thương sinh đang nổi dậy la ó, gào thét để đòi nợ máu...
Lần đầu tiên trong đời và cũng là lần đầu tiên trên cương vị một “vị cực nhân thần”, Quốc phó họ Trương phải đón nhận một sự nhục mạ nặng nề, công khai, trước đám bách tính từng phải khuất phục dưới uy quyền của ông cũng như những bầy đoàn trâu ngựa. Nhưng trước sự khinh mạn, khiêu khích đáng được trả đũa bằng cách xé xác, phanh thây ăn tươi, nuốt sống này, Quốc phó đành phải cam chịu bó tay trong sự tuyệt vọng của một con người cô thế.
Vốn chỉ nhờ ở mối liên hệ thân tộc với nhà Chúa, nhờ sự thừa hưởng ảnh hưởng của cha ông mấy đời là công thần, mà được chức cao, quyền trọng, Trương Phúc Loan chỉ là hạng người giảo hoạt với nhiều thủ đoạn cơ mưu lúc thường, nhưng khi bất thần phải đương đầu với nghịch cảnh thì lại tỏ ra không có khí cốt và khả năng quyền biến. Loan chỉ là người gian ngoan chứ không phải là hạng gian hùng.
Thái Sinh là người đầu tiên, trong bè đảng, tìm đến Quốc phó để thỉnh thị phương thế ứng biến, đã được đối diện không phải với một vị quyền thần thét ra khói, khạc ra lửa, một vị quan thầy hống hách, oai nghiêm như thường ngày, nhưng là một lão nhân tầm thường, bơ phờ, gẫy gập, ngồi thu hình trên chiếc sập gụ, ôm chiếc gối dựa bọc gấm, gục đầu xuống trong dáng suy tư.
- Thưa Quốc phó, tình hình cực kỳ nguy ngập, khẩn trương. Quân Trịnh thế nào cũng kéo về đây...
- Ta biết...
- Và Hoàng Ngũ Phúc đã dám khinh mạn...
- Ta biết. Các con ta đã cho ta biết rõ chuyện đó. Bọn Trần Giai, Quý Lộc, Kiêm Long phản bội. Quân khốn nạn. Thực là chó má... Ai có ngờ.
- Thưa Quốc phó, còn có chuyện bất ngờ nguy hại hơn nữa...
Loan giật mình, ngồi thẳng người lên, hỏi vội:
- Gì nữa?
- Bọn công tộc đang có âm mưu... thưa Quốc phó, chúng đang dự tính bắt Quốc phó đem nộp cho Hoàng Ngũ Phúc để lập công.
- Bắt ta? Nhưng... dù sao bè đảng của ta vẫn còn đông, chúng làm gì được.
Thái Sinh lắc đầu, buông ra một tiếng thở dài thất vọng:
- Thưa Quốc phó, hầu hết đã vì thời thế mà thay lòng đổi dạ cả rồi. Ngay đến hạng cốt cán như Chưởng dinh Nguyễn Cửu Thống cũng đã ngả theo bọn họ.
Quốc phó Trương Phúc Loan trố mắt nhìn Thái Sinh, mồm há hốc, và tuy cố trấn định lòng mình, tay ôm chặt chiếc gối dựa, ông vẫn không giấu nổi sự run rẩy của toàn thân, run vì tức giận, mà cũng run vì hốt hoảng trước cái thể cùng đồ không lối thoát.
- Nguyễn Cửu Thống! Chưởng dinh Nguyễn Cửu Thống cũng lại phản bội ta sao?
- Thưa Quốc phó, chúng ta phải ứng biến bằng cách nào đây. Chẳng lẽ khoanh tay mà chịu chết?
Im lặng giây lát, Quốc phó thở dài:
- Ta cần gặp đông đủ các con ta rồi sẽ định liệu. Ngươi liên lạc gấp và tin cho chúng biết về chuyện vừa rồi.
Thái Sinh lui ra. Quốc phó như người mất hồn và ông còn run sợ nhiều hơn với cái thế cô đơn mà lần đầu tiên ông cảm nhận trên cái chóp đỉnh “địch quốc phú gia, vị cực nhân thần”. Tất cả đã bỏ rơi ông. Tất cả. Ngay Duệ Tôn cũng đã bỏ rơi Quốc phó. Lòng tín nhiệm của Duệ Tôn đã mất từ lâu, từ lâu sau vụ sát hại Nguyễn Phước Văn và Tham mưu Tá bị đổ bể, từ ngày Duệ Tôn phải tự tay lo liệu mọi việc quân cơ vì biết rõ tình trạng bê bối do sự tham lận của Loan gây ra. Còn bè đảng? Đã tan rã mất rồi. Trở cờ, quay giáo đó là thế sự thường tình, nhưng khổ nỗi cái chuyện thường tình dễ hiểu ấy từ trước đến nay ông lại chẳng bao giờ nghĩ đến. Kịp khi nghiệm thấy thì đã quá muộn màng. Chung quanh ông chỉ toàn là những người phản bội, và, đông đảo hơn, chỉ toàn là những người oán ghét, căm thù. Trong cái thế cô thân chích ảnh[7], việc đối phó đã bất thành, mà ngay đến chuyện đào thoát cũng khó mà liệu chước. Đi đâu và chạy về đâu? Phía bắc, quân Trịnh. Phía nam, quân Tây Sơn. Hơn nữa, bao vây ông lúc này, không phải chỉ có những vòng lưới của bọn triều thần thù địch mà còn có những vòng lưới tinh mật của đám chúng dân đang hằm hằm moi tim, xé xác để rửa hận, phục thù. Tất cả đều trở nên thù địch. Ngay cái khung cảnh màn che, trướng rủ, ấm áp êm đềm, rất quen thuộc, rạng rỡ ánh kim ngân, châu báu, gấm hoa của biệt thự Phần Dương, giờ đây cũng bắt đầu trở nên xa lạ, như không còn thuộc về ông nữa, như đang ngỏ lời giã từ, vĩnh biệt. Tựa cửa gác cao, ngắm nhìn cái dinh cơ đồ sộ, nguy nga, Quốc phó tự nhiên có cảm tưởng như tất cả, từ những tòa ngang, dãy dọc, lẫm lớn, kho dài, những đám nô tì, nô bộc đông đảo hàng trăm, những ngựa trâu nhung nhúc đầy đàn, đến những cánh đồng mênh mông nằm trong vòng tay chiếm hữu của ông đang bốc thành hơi, biến thành khói. Cả cái sự nghiệp lớn lao chỉ là một bức tranh ván cầu, và, có gì như một tiếng sét nổ bên tai, khiến ông bàng hoàng chợt tỉnh để cảm thấy đau xót thấm thía khi lặng ngắm hai bàn tay gầy guộc, giá lạnh, hai bàn tay trắng giữa cảnh sa cơ nhục nhằn. Hai bàn tay trắng với rất nhiều ác nghiệp! Hai bàn tay trắng với cái danh hiệu ô nhục là “Trương Tần Cối”, là hạng “tử hữu dư cô”.[8]
Và những gì phải xảy ra đã xảy đến sớm hơn sự ước tính của Quốc phó. Vào lúc sẩm tối, trong khi đang chờ đợi các con và Thái Sinh, Quốc phó Trương Phúc Loan bỗng nghe có tiếng ồn ào bên ngoài. Bọn gia nhân nhốn nháo cả lên khi thấy cả một đám đông quân lính bao vây biệt thự. Rồi một toán dõng sĩ đập phá cổng ngõ, ào ạt xông vào. Chỉ trong chớp nhoáng, Quốc phó đã bị chộp cổ, trói cắp cánh và bị điệu đi giữa hai hàng đuốc bốc cháy sáng rực. Dân chúng nghe tin, đổ ra chen chúc hai bên lề một quãng đường dài, đông như kiến cỏ. Tiếng reo mừng, xỉ vả nổi dậy và lan dài như tiếng sấm rền.
Lê bước giữa đám đông, bị uy hiếp bởi cái khí thế cuồng nộ của quần chúng, Quốc phó khiếp đảm đến độ bao nhiêu hồn vía đều bay cả lên mây. Nhưng cũng chính trong cái trạng thái “hồn bất phụ thể” và trong cơn khủng cụ, hãi hùng này, con người đại gian, đại ác từng khinh thường lê dân như trâu ngựa, đã nhận thức được là không có một thứ cực hình nào, một uy lực nào đáng gờm sợ, kinh hoàng bằng những cái nhìn hằn học, những cặp mắt phóng tỏa lửa uất hận, căm hờn của đại khối chúng dân. Những cặp mắt ấy sáng quắc lên dưới ánh đuốc, nhan nhản như một rừng sao, quả đã có gì khiến cho Quốc phó rùng mình ớn lạnh như đang đón nhận lưỡi hái sắc bén của tử thần đưa ngang qua cố.
Vụ bắt bớ này là do sự chủ mưu của Chưởng dinh Nguyễn Cửu Pháp và Tiết chế thủy bộ binh Nguyễn Phước Huống - công tử thứ tư của Thế Tôn. Ngay sau khi đã bắt Quốc phó và đã tống ngục Thái Sinh, sự việc mới được tâu lên Duệ Tôn biết rõ.
Tuy không tín phục Quốc phó như trước, Duệ Tôn vẫn không nỡ lòng nào xử tệ với một người đã từng có công đưa mình lên ngôi chân chủ, nên tỏ ra áy náy, phân vân. Hiếu rõ tâm trạng của Chúa, Tiết chế Nguyễn Phước Huống liền thẳng thắn tâu bày:
- Việp Quận công muốn đưa quân xâm tính Nam Hà, nhân thấy lòng dân oán ghét Quốc phó vì chuyện tiếm quyền và nhiều hành động gian ác, nên cố mượn việc“trừ gian thần” làm danh nghĩa và lý do để tiện bề tiến thảo. Vậy việc bắt Quốc phó nộp cho Quận công là loại trừ được cái danh nghĩa ông ta cố tình lợi dụng. Quốc phó đã bị trừng trị thì Việp Quận công không thể lấy cớ gì để đưa quân vào, mà lòng dân cũng được hả hê, thỏa mãn, sẽ nức lòng vì công cuộc cứu nguy. Được lợi cả hai bề như vậy, xin chúa thượng nên vì nghiệp lớn mà dứt bỏ tình riêng, không thì hiểm họa khó bề ngăn chận.
Duệ Tôn vốn đã nao núng nhiều trước tình thế nguy ngập và xét thấy sự hữu lý của lời đề nghị, đành phải nghe theo. Chúa mạng cho Tham mưu Lê Công Bình, theo đường thủy đưa Loan đến nộp cho Hoàng Ngũ Phúc tại hành dinh, đồng thời sai thảo một tờ biểu dâng lên vua Lê, một tờ khải dâng cho chúa Trịnh lời lẽ rất khiêm cung, bi thiết, nguyện dâng nạp bản đồ tịch trong xứ và cầu xin được giữ chức cống mà thôi. Cùng với các văn kiện này, Chúa còn gửi dâng vua Lê ba chục nén, chúa Trịnh hai chục nén và Việp Quận công hai trăm lượng vàng ròng.[9]
Sau khi Trương Phúc Loan đã bị áp giải xuống thuyền thì, ở Phú Xuân, người phải lo âu nhiều nhất là Duệ Tôn. Hiểm họa ngày càng hiện rõ. Binh lực đã suy yếu. Có bao nhiêu tướng súy dõng lược Chúa đã cho vào mặt trận Quảng Nam để chiến đấu với quân Tây Sơn, số binh tướng còn lại từ Hiền sĩ trở ra chỉ toàn là hạng già yếu, không quen chinh chiến. Trung thần xét ra cũng chẳng được bao người, ngay cả trong hàng công tộc. Văn võ bá quan phần đông chỉ là hạng ươn hèn, bất lực, sẵn sàng phản bội, tiếp tay với địch để cầu bảo toàn tính mệnh và vớt vát cái bã vinh hoa, chung đỉnh. Còn dân chúng? Quốc phó Trương Phúc Loan tuy đã bị bắt, đã nhận lãnh tất cả những hậu quả chẳng lành của nghiệp báo mà thiên lý thường dành cho hạng bạo ngược, tham tàn. Nhưng mối uất hận vì nền hà chính đâu có dễ nguôi ngoai vì chuyện loại trừ một tay gian thần. Lại thêm cái nạn giặc đói hoành hành, giặc tham nhũng vẫn không ngừng tiếp diễn, chính quyền thì hoàn toàn bất lực về mặt chẩn tế, cứu bần, nên lòng dân càng thêm căm phẫn.
Trên ngôi chân chủ, vốn kém đức, kém tài, lại vừa bước ra khỏi một cơn hôn ám, đã phải đương đầu với bao nhiêu biến cố lớn lao, dập dồn, trong cái thế tuyệt vọng của một người thuyền trưởng chưa quen với bể cả, điều khiển một chiếc thuyền xộc xệch với một đoàn thủy thủ vụng về, tiêu cực, khiếp nhược, chẳng biết đến trách nhiệm chung trước hiểm họa là gì, giữa mặt đại dương nổi loạn, Duệ Tôn ngày càng cảm thấy rõ sự bất lực của mình và cũng cảm thấy, như Quốc phó họ Trương, nỗi cô đơn đáng sợ hãi của mình.
Thực vậy, lòng dân đã ly tán, khó thể chinh phục thu hồi. Đình thần thì những hạng manh tâm phản trắc, sẵn sàng quay giáo, trở cờ khi cơ hội đến, chẳng nói làm gì, đến ngay số lương đống, khôi nho có đủ tài thao lược, kinh luân thì đa số ngoài mặt tuy vẫn phục tòng nhưng trong lòng lại ủ ấp cái hoài bão khuông phục ngôi vị cho Hoàng tôn Dương.
Cho nên Thành đô dù còn nghiêm lệ, cung điện vẫn còn nguy nga, ngọn Bằng Sơn hay tiền án ở phương nam vẫn chững chạc, kiên cố, nhưng trong không khí Kinh sư đã chứa đầy đe dọa, và, vào buổi canh khuya, tiếng Đại hồng chung vẳng lại từ gác chuông Thiên Mụ tự đã có gì khác lạ trong âm thanh trầm buồn khiến cho vị chúa trẻ trung phải bàng hoàng, sửng sốt và phải trải qua những đêm dài trằn trọc, chợt tỉnh, chợt mê với rất nhiều ác mộng.
Và ác mộng đã trở thành sự thực. Vì diệt trừ gian thần chỉ là cái cớ viện ra để dễ tiến quân, nên dù Trương Phúc Loan có được giải tới hành dinh[10], Hoàng Ngũ Phúc vẫn không vì đó mà chịu bỏ rơi tham vọng. Có đủ lý do để khoa trương chính nghĩa thì dong cờ, khua trống mà đi, không có lý do chính đáng thì đại binh cũng vẫn tiếp tục cuộc hành trình Nam phạt, chỉ khác là tiến tới trong sự lặng lẽ, âm thầm. Từ Hồ Xá, quân của Ngũ Phúc lại kéo đến huyện Đăng Xương, đóng ở làng Ái Tử.[11]
Sự phản trắc của nhân tâm thường duồng theo với cái thế “lòng trời không tựa”, Hoàng Ngũ Phúc, trong cuộc Nam phạt, đã được khích lệ rất nhiều về phương diện này. Ở Bắc Bố Chính châu, vì có Tri phủ Trần Giai, mà họ Hoàng mạnh dạn vượt qua cương giới Nam Hà. Ở làng Cao Lao, vì có câu: “Lộ bất hành bất chí, chung bất khấu bất minh” thốt ra từ cửa miệng của sứ giả Kiêm Long, quân Trịnh không còn ngại nỗi “trường lũy bất khả qua” và đã tiến sâu đến làng Hồ Xá. Tại đây, tình ý của một số triều thần mà họ Hoàng nhận thấy qua việc bắt nộp Quốc phó Trương Phúc Loan ngay tại hành dinh, đã khuyến khích Trịnh quân kéo đến làng Ái Tử thuộc huyện Đăng Xương. Rồi tại Ái Tử, trong lúc họ Hoàng đang dò dẫm thế tiến, thì một bài thơ của một nhà nho, người họ Trần, tên là Duy Trung, ở trong huyện này, gửi dâng để bày tỏ niềm hoan hỉ được thấy bóng cờ Nam phạt của đại binh nhà Lê xuất hiện trên dải đất Nam Hà, đã đưa tới cho họ Hoàng thêm một niềm khích lệ trên đường hành quân. Qua tình ý hàm ẩn trong “tám câu bốn vần”, Hoàng Ngũ Phúc biết là tác giả còn có nhiều điều hay muốn được tỏ bày, bèn cho mời tới và đón tiếp rất mực ân cần. Nhân lúc vui chuyện, họ Hoàng liền hỏi:
- Tôi từ xa mà đến, tình hình chưa được am tường, tiên sinh thấy có điều gì cần chỉ giáo về việc tiến quân xin vì đại nghĩa mà soi sáng cho thì thực là vạn hạnh.
Nho sĩ họ Trần ngỏ lời khiêm tốn:
- Hạng nho sĩ chỉ biết có việc cầm bút như tôi mà dám lạm bàn đến việc quân cơ với một bậc danh tướng như Quận công là chuyện múa rìu qua mắt thợ. Nhưng ngài đã không chê là thiển tài, thiển trí để có lời hạ vấn, tôi chỉ xin trình bày một nhận định về sở trường, sở đoản của quân Nguyễn mà bất cứ ai, ở Nam Hà, đã lưu ý cũng thấy được rõ ràng.
- Hay lắm, đó cũng chính là điều tôi muốn biết.
- Thưa Quận công, theo thiển kiến của tôi thì đại binh nên tiến theo đường bộ mà nên tránh đường thủy. Vì quân Nguyễn thiện chiến về mặt thủy, nhưng rất kém về mặt bộ. Thủy quân, trải qua bao đời, từ thời Dũng Lễ hầu đến nay, đã được đặc biệt chú trọng, về mặt tổ chức cũng như về việc thao luyện kỹ thuật chiến đấu, nên đã tạo được một lực lượng khá hùng hậu với một hiệu năng hiếm có. Bộ binh vốn đã kém mà hiện nay có bao nhiêu binh hùng, tướng giỏi đều được tung vào mặt trận Quảng Nam, do đó, nếu tiến về mặt bộ thì việc chiếm đóng Phú Xuân là chuyện dễ như lật bàn tay.
Hoàng Ngũ Phúc cả mừng, liền một mặt chọn ngày tiến thảo, sai các tướng Hoàng Đình Thể, Hoàng Nghĩa Phác đưa quân tiến theo đường núi, một mặt sai người đưa thư vào chúa Duệ Tôn, ngỏ ý vì “giặc Tây Sơn chưa tiễu trừ xong, nên xin hội quân ở Phú Xuân để ứng tiếp”.[12]
Được thư, Duệ Tôn biết rõ cái dã tâm của họ Hoàng và càng thấy rõ nguy cơ khó tránh. Nhưng rồi giữa cái thế hoàn toàn thất vọng này, với cái truyền thống hùng nghị tiềm tàng trong dòng máu vừa bị kích động bởi sự thử thách của một nghịch cảnh quá lớn lao, Duệ Tôn, không như Quốc phó họ Trương, chẳng chịu khoanh tay đầu hàng Định mệnh. Đã khuất nhục nhiều rồi, và dù sao thì sự khuất nhục của một con người từng đã lớn lên trong niềm kiêu hãnh của một dòng họ chân chủ có đủ bản lĩnh để tách riêng một cõi sơn hà, và từng được kế thừa một đại nghiệp bền vững qua gần hai thế kỷ, cũng phải là một sự khuất nhục có giới hạn, nhất là khi đã biết rõ rằng: bó tay đầu hàng là chấp nhận cái chết nhục nhã dưới chân họ Trịnh. Còn nước, còn tát. Phải đối phó nguy cơ đến cùng. Đó không phải là cái quyết tâm riêng của Duệ Tôn, mà cũng là cái quyết tâm của một số người - rất hiếm hoi - có dõng lược và khí độ trong hàng công tộc, và trong số đó phải kế đến một thiếu nhi mười bốn tuổi mà không ai lúc bấy giờ có thể ngờ rằng mai kia sẽ là người tạo dựng lại đại nghiệp ngay trên cơ sở đổ nát, điêu tàn: cậu bé Nguyễn Phước Ánh.
Duệ Tôn bèn cùng đình thần gấp rút lo việc đối phó. Kế hoạch là một mặt ngăn chận bước tiến của địch, một mặt kêu gọi nhân dân Quảng Bình, Bố Chính ủng hộ bằng cách ngăn chận đường rút lui của địch, để thừa thế tiêu diệt Trịnh quân. Nguyễn Phước Thiệp liền được đặt làm Thống binh thuộc nội, Cai đội Đặng được đảm nhận chức vụ Quản cấm vệ quân, lo việc ngự giặc. Còn Cai đội Tuyên Chính, Tham mưu Thành Đức được lãnh sứ mạng ra trá hàng dụ dỗ Trịnh quân. Việc kêu gọi dân chúng được ủy thác cho Cai đội Phẩm Bình.[13]
Nhưng rồi kết quả chỉ là một sự thảm bại chua cay. Lòng dân đã hoàn toàn ly tán mà kêu gọi nhân dân nổi dậy chống lại một đại binh hùng hậu mang danh nghĩa “trừ gian thần”, đạp đổ một nền hà chính vượt hẳn sức chịu đựng của quảng đại quần chúng lầm than, là cả một chuyện thất sách, một chủ trương không tưởng. Tướng tá, binh sĩ đã mất hẳn nhuệ khí, lại chọn lầm những người bất tài, bất lực để giao phó những nhiệm vụ trọng yếu, khó khăn như dụ dỗ địch, vận dụng chúng dân chống địch thì sự thất bại lẽ tự nhiên là chuyện không thể tránh. Do đó, ngự địch, nhưng Cai đội Đặng vừa thấy giặc đã hoảng sợ, chạy dài. Thống binh thuộc nội Nguyễn Phước Thiệp thì bị các tướng Trịnh đánh cho tơi bời, xiểng liểng. Riêng phần Cai đội Phẩm Bình chưa kịp vận động quần chúng đã bại lộ cơ mưu, bị quân địch bắt[14]. Và quân Ngũ Phúc tiến vào đến sông Bái Đáp, trong lúc các tướng Hoàng Đình Thể và Hoàng Nghĩa Phác, tiến theo đường núi, đã vượt qua thác Trầm, thác Ma, giết tướng đồn là bọn Tường Quang, Doãn Đức, rồi bắc cầu nổi, qua sông.[15]
Được tin thất trận, Duệ Tôn đành phải gom góp tất cả những gì còn lại trong tay về binh lực, liều đánh một ván bài xả láng. Một đạo quân gồm những hai chục chiếc thuyền liền được đặt dưới quyền điều khiển của Tiết chế bộ binh Nguyễn Phước Chất, Tiết chế thủy sư Nguyễn Phước Dinh, cùng Tham tán quân vụ Nguyễn Đăng Trường, cấp tốc chia đường chống cự. Nhưng chuyến tiến thảo này vẫn không đẩy lui được địch. Duệ Tôn bèn chọn Nội tả Chưởng dinh Nguyễn Văn Chính thay Chất, chỉ huy tất cả lực lượng bộ, thủy.
Vận đã suy, thế đã yếu, nên dù có ý chí “thắng thiên”, nguy cơ cũng khó bề thoát vượt. Như kẻ bị sa lầy, càng cựa quậy càng chìm lún thêm sâu, những cố gắng của Duệ Tôn, những nỗ lực cuối cùng chỉ đưa tới hết thất bại này đến thất bại khác. Và khi cho Nội tả Chưởng dinh Nguyễn Văn Chính thay Nguyễn Phước Chất, nhà Chúa đã phạm một lỗi lầm rất lớn để phải đón nhận sớm hơn giây phút sa cơ nhục nhằn. Vì Phước Chính là một tay võ biền thiếu tài, thiếu đức, chỉ giỏi rượu chè, ba hoa, lại hẹp hòi, nông nổi. Cấp chỉ huy đã như vậy mà quân ngũ thì lại gồm toàn những binh sĩ già yếu, ươn hèn, không quen chinh chiến, nên khi quân của Hoàng Ngũ Phúc và của bọn Thể, Phác cùng tiến công đánh cả hai mặt trước sau, thì quân của Chính đã như ong vỡ tổ, chỉ trong chốc lát phải lâm vào tình trạng trúc chẻ, ngói tan, bỏ lại trên chiến địa vô số thi hài tử thương, trong đó có xác của Nội tả Chưởng dinh họ Nguyễn.[16]
Và ngày hai mươi tám tháng Chạp năm Giáp Ngọ - coi như là ba mươi Tết vì là tháng thiếu - dân chúng Đô thành, thay vì chuẩn bị chào mừng Xuân mới, đã rối loạn cả lên vì cái tin quân Trịnh sắp kéo về chiếm đóng Thượng đô.
Trong cái không khí rộn ràng, náo loạn ấy, Duệ Tôn đã thấy rõ cái thế cùng đồ, khốn bách, không còn lối thoát nào khác hơn là sự tự bỏ Thượng đô, dấn thân vào một cuộc phiêu lưu vô vọng trước một tương lai đen tối, mịt mờ. Phải đi và phải bỏ tất cả. Thành quách, tôn miếu, cung điện, triều đình, tất cả đều phải giã từ vĩnh viễn. Và cả một đại nghiệp từng được gầy dựng, bồi đắp qua những hai thế kỷ, với bao nhiêu công khó “khai sơn, phá thạch, phá rừng bụi, đuổi hùm voi”, bao nhiêu chiến tích “Bắc phòng Nam tiến” của các đấng tiên vương.
Từ trên Triều Dương các, lòng đau như cắt, ruột xót như bào, Duệ Tôn dương mắt buồn ngắm nhìn toàn thể Đô thành, như cố thu vào, một lần chót, hình ảnh Thượng đô, nơi chôn nhau cắt rốn. Cũng như Quốc phó họ Trương trước đây khi từ trên gác cao ngắm nhìn cái dinh cơ nguy nga, đồ sộ ở làng Phần Dương, Duệ Tôn hốt nhiên cảm nhận được tính cách vô thường, vô nghĩa của những gì mà từ lâu vị chúa trẻ trung đinh ninh là đã thống thuộc một cách bền bỉ, chắc chắn trong vòng tay chân chủ rộng lớn của mình. Vương phủ với bao nhiêu cung, điện, đình, các, quan xá, quân trại, kho tàng, tượng xưởng, mã xưởng và, xa hơn, bên kia sông, với Trường Lạc điện, phủ Dương Xuân, và, xa hơn nữa, tất cả cái phần lĩnh thổ mênh mông, thu đạt được bởi sức khai quốc dũng nghị của tám đời chân chủ trước đây, vụt nhiên trở nên xa lạ, tất cả đã thoát ly hẳn cái quyền uy ngự trị, và đang quay lưng, trở mặt, biểu thị một vẻ lạnh lùng, thù nghịch, khinh mạn, mỉa mai. Và qua màn lệ, tất cả hầu như đang bốc thành hơi, mờ nhòa, tan biến. Nỗi đau thương, nuối tiếc pha lẫn hãi hùng như lay tỉnh vị chân chủ lâm cảnh thất thế, sa cơ ra khỏi một cơn mộng mị để càng nhận thấy rõ hơn tính cách mộng huyễn của những gì gọi là vĩ nghiệp, phong công. Tất cả đều đã trở thành mộng ảo. Tất cả đều chỉ là mộng. Tất cả những thành quả lớn lao mà con người thu đạt được vì lòng tham dục, hiếu thắng, dù hùng vĩ, kiên cố đến đâu, cũng thoát lọt qua mười ngón tay ham hố như nước xuyên qua mặt lưới, như gió lọt song sa. Kể cả cái nghiệp bá trải qua chín đời chân chủ. Và mười năm trên ngôi cao, hay cả cái tuổi hai trăm năm của một đại nghiệp, cũng chỉ là một khoảng thời gian ngắn ngủi, một khoảnh khắc, chưa đủ để nung một nồi kê vàng cho chín.
Những tin báo nguy càng tới tấp, dập dồn. Duệ Tôn không thể còn chùng chình được nữa, bèn một mặt sai Tống Phước Đạm đem quân án ngữ ở cửa Bắc để nỗ lực ngăn chận địch quân được giờ phút nào hay giờ phút ấy, và một mặt sai Tả thủy Nguyễn Cốc, Trung thủy Võ Di Nguy, Tiền thủy Trương Phúc Dĩnh, gấp rút chuần bị ghe thuyền. Rồi thừa lúc đêm tối, Duệ Tôn thu tóm châu báu, vàng bạc, cùng cung quyến và một số thân binh trăm người, âm thầm lặng lẽ xuống thuyền, nhắm hướng cửa Tư Dung thẳng tiến.[17]
❀ ❀ ❀
[1] Đ.N.N.T.C.. Tỉnh Quảng Bình, mục Cổ tích: Lũy cũ Phú Ninh (trước gọi là Trấn Ninh), tr.142. (TG)
[2] Đ.N.N.T.C.. Tỉnh Quảng Bình, mục Sơn Xuyên: sông Linh Giang, tr.128. Sông này ở phía nam huyện Bình Chính ba dặm, phía Bắc thuộc huyện Bình Chính, phía nam thuộc huyện Bố Trạch. Còn có một tên nữa là Thanh Hà. Sông rộng 170 trượng, phát nguyên từ ba chỗ: một chỗ ở núi Thanh Lãng, địa giới huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, một chỗ từ nguồn Kim Linh, và một chỗ từ nguồn sông An Niệu. Thuở Trịnh, Nguyễn phân tranh lấy sông này làm giới hạn để chia cương giới. (TG)
[3] Xưa người Bắc có câu ca: Hữu trí dũng hề, khả quá Thanh Hà, túng hữu dực hề, Trường lũy bất khả qua (Người có trí dũng có thể qua sông Thanh Hà (tức Linh Giang), túng sứ có cánh đi nữa cũng không bay qua Trường lũy được. (TG)
[4] Đẩu sao: Hẹp lượng, nông cạn (Đẩu tức cái đấu, sao: cái rổ, cái rá).
[5] Quỷ vức tà tâm: chỗ này chúng tôi nghĩ có lẽ là “quỷ vực tà tâm” thì đúng hơn. Vực là con “vực”. Theo truyền thuyết là một loài bọ độc ở trong nước, ngậm cát phun người làm sinh bệnh, còn goi là “sạ công”. Thường kẻ nào âm hiểm hay gọi là “quỷ vực”. Nguyễn Du có thơ: “Long xà quỉ vực biến nhân gian”. Đưa ra để bạn đọc tiện tham khảo.
[6] Thực lục tiền biên quyển 11, 23ab (trích dẫn trong“Tây Sơn lấy Nam Hà”, T.C. Đại học số 27, tr.445, 446).
[7] Cô thân chích ảnh: Đơn thân lẻ bóng.
[8] Tử hữu dư cô: Tội lỗi quá nhiều dù có chết cũng chưa đền hết. Chỉ người có nhiều tội ác nhất trong xã hội. (TG)
[9] Vũ biên tạp lục (trích dẫn trong “Việt sử: xứ Đàng Trong”, Duệ Tôn Nguyễn Phước Thuần). (TG)
[10] Theo Vũ biên tạp lục: Nguyễn Phước Thuần sai Tham mưu Lê Công Bình đưa Loan, do đường thủy, đến nạp ở hành dinh. Con Loan sai đem biếu tỳ tướng của Việp Quận công là Tạo Nhuận ba chục nén vàng để cầu chu toàn. Mùa xuân năm Ất Mùi, Việp Quận công vào Phú Xuân, cho giam Loan ở phía tả nội dinh. Con Loan lại nhờ Tuân Thọ hầu nạp 30 nén vàng, 200 nén bạc (mỗi nén hai chục lượng) để xin chuộc tội và thường biếu riêng vàng, bạc, bảo vật có đến hàng nghìn. Mùa đông năm Bính Thân, Loan bị đưa về Thăng Long, chết dọc đường (Việt sử: xứ Đàng Trong - Duệ Tôn Nguyễn Phước Thuần). (TG)
[11] Tây Sơn lấy Nam Hà, Gs. Nguyễn Phương (Tây Sơn làm tôi họ Trịnh - Quân Trịnh vào Nam Hà), tr.446. (TG)
[12] Việt Sử: xứ Đàng Trong, Gs. Phan Khoang (Duệ Tôn Nguyễn Phước Thuần, 1765-1776).
[13] Tây Sơn lấy Nam Hà, Gs. Nguyễn Phương (Phú Xuân đổi chủ), tr.447.
[14] Tây Sơn lấy Nam Hà, Gs. Nguyễn Phương (Phú Xuân đổi chủ), tr.447. (TG)
[15] Việt sử: xứ Đàng Trong, Gs. Phan Khoang (Duệ Tôn Nguyễn Phước Thuần). (TG)
[16] Tây Sơn lấy Nam Hà, Gs. Nguyễn Phương, tr.447. (TG)
[17] Việt sử: xứ Đàng Trong, Gs. Phan Khoang (Duệ Tôn Nguyễn Phước Thuần). (TG)