Mộng Kinh Sư

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 13 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ấu Chúa Nguyền Phước Thuần Và Quyền Thần Trương Phúc Loan

❊ ❊ ❊

Cũng chính vào năm này Võ Vương băng hà, sau hai mươi bảy năm ở ngôi chân chủ. Có thể vào lúc quay đầu về núi, Thế Tôn Hiếu Võ Hoàng đế vẫn còn mang theo niềm tin ở sự thành công trong cơ mưu cải đổi mạng trời.

Vả cả hai vị phụ đạo trung chính, Thái phó, Ý Đức hầu Trương Văn Hạnh cùng Thị giảng Lê Cao Kỷ, khi cung kính phủ phục trước tử cung của Thế Tôn sau lễ đại liệm, cũng yên trí và đinh ninh rằng đệ nhị công tử Nguyễn Phước Luân phải được kế thừa đại nghiệp. Riêng Thái phó càng vững tin một kỷ nguyên sáng sủa, thịnh trị sắp được mở màn với một nền thiện chính.

Cả hai bậc trung thần đâu có nghĩ tới những gì đang nẩy ra trong đầu óc của Ngoại tả họ Trương và đang ngấm ngầm xảy ra tại biệt thự của Ngoại tả và cũng không thể ngờ rằng cái cơ suy vong, đổ nát đã nảy sinh và âm thầm khai triển từ lâu ở chốn hậu cung.

Vì ngay sau khi Thế Tôn vừa nhắm mắt, buông tay, Ngoại tả Trương Phúc Loan đã cùng Thái giám Chữ Đức[1] và Chưởng dinh Nguyễn Cửu Thống, mật bàn chuyện giành ngôi cho công tử thứ mười sáu tức Nguyễn Phước Thuần (cũng có tên là Nguyễn Phước Hân) - cái mộng từng được Ngọc Cầu ấp ủ từ lâu[2]. Đúng ra thì chẳng phải là để thỏa mãn sở nguyện của một người từng tin cậy mình và từng lợi dụng cái thế được sủng ái để giúp mình trong việc củng cố địa vị mà Ngoại tả sốt sắng nhúng tay vào tội ác, nhưng chính là vì cái tham vọng chuyên quyền. Một đứa trẻ thơ mới mười hai tuổi đầu - chúa Nguyễn Phước Thuần sinh năm Giáp Tuất hay năm Cảnh Hưng thứ mười lăm (1754) - được đặt vào ngôi chân chủ quả là một thượng sách để nắm trọn quyền hành vào tay.

Chưởng dinh họ Nguyễn, vì tính thận trọng, đã bàn cùng Ngoại tả:

- Chuyện này rất dễ vì triều thần khó phân được thực hư về tờ di chiếu sắp được Ngoại tả cho tuyên đọc. Chỉ duy có hai vị phụ đạo vốn đã biết rõ ý chỉ của tiên vương, liệu có phản ứng gì chăng?

Ngoại tả họ Trương, sắc diện đằng đằng sát khí, nhìn Chưởng dinh Nguyễn Cửu Thống bằng cặp mắt long lanh, sáng quắc:

- Ta đã nghĩ đến chuyện đó. Dù bọn ấy có phản ứng hay không cũng phải cho chúng nối gót tiên vương để khỏi lộ bí mật về sau.

Thái giám Chữ Đức vừa nghe xong, tỏ vẻ tán đồng và góp ý:

- Thế tất là phải như vậy. Xét ra, Thi giảng họ Lê ta muốn trừ khử lúc nào cũng được, nhưng trái lại Ý Đức hầu thì không phải là dễ. Hầu đã là người dũng lược, lại có nhiều môn khách, dõng sĩ túc trực thường xuyên trong nhà, nên tôi xin hiến kế này...

Nghe Thái giám Chữ Đức trình bày xong, Ngoại tả họ Trương gật gù khen là diệu kế và ngay chiều hôm ấy, vào lúc sẩm tối, Ngoại tả cho mời Ý Đức hầu Trương Văn Hạnh vào vương phủ bàn việc cơ mật. Được vời vào triều bàn việc như vậy là chuyện rất thường nên Ý Đức hầu không chút nghi ngờ. Nhân có Giáo Hiến cùng ngồi đàm đạo, Hầu bảo riêng:

- Chắc là về việc chuẩn bị lễ đăng quang cho đệ nhị công tử.

Hiến cũng nghĩ như vậy. Nhưng lúc Ý Đức hầu đã lên kiệu, tự dưng Giáo Hiến bỗng cảm thấy áy náy không yên như vừa được linh cảm một chuyện chẳng lành. Tuy không nghĩ đến một tai họa có thể xảy ra, Giáo Hiến vẫn nghe hồi hộp trong lòng, không thể ngồi yên, bèn rời khỏi dinh Thái phó, dạo chơi trên con đường chính của Đô thành để nghe ngóng tình hình.

Nơi họp là Di Nhiên đường. Thái phó đến nơi đã thấy bên trong đèn đuốc sáng trưng, Ngoại tả ngồi sau án giữa, hai bên có tới trên trăm dõng sĩ đứng hầu. Số dõng sĩ hộ vệ đông đảo khác thường đã khiến Ý Đức hầu ngạc nhiên. Thi lễ xong, vừa được mời ngồi Ý Đức hầu đã nghe Ngoại tả cười lớn:

- Hình như khi tiên vương sắp sửa băng hà, ông đã có ý định noi gương người xưa, xin chết thay bằng cách nạp sách vào hòm kim đằng phải chăng?

Nghe câu hỏi lạ lùng và bất ngờ như vậy, Ý Đức hầu càng thêm sửng sốt, nhưng chưa kịp nói gì thì Ngoại tả Trương Phúc Loan đã vớ lấy cây đèn nhỏ trên án, ném mạnh xuống đất, quát lớn một tiếng. Tức thì, một số dõng sĩ trong đám bất thần nhảy xổ lại, ghì chặt người Hầu, dùng thừng trói kỹ, rồi lôi ra khỏi điện, hạ sát ngay trong chốc lát.[3]

Chính trong khi vụ sát hại Ý Đức hầu Trương Văn Hạnh xảy ra trước Di Nhiên đường, thì ở tư dinh của Thi giảng Lê Cao Kỷ, một thích khách đã lẻn vào thư phòng đâm chết vị đạo phụ đang ngồi xem sách bên án thư, cạnh đỉnh trầm kỳ nam còn nghi ngút khói. Và Thái giám Chữ Đức thừa lệnh Ngoại tả đưa quân lính đến Dương Xuân bắt đệ nhị công tử Nguyễn Phước Luân - tức Chương Võ - hạ ngục, đồng thời ra lệnh lùng bắt một số môn khách, dõng sĩ trung thành nhất của Ý Đức hầu, trong số đó người được đặc biệt chú trọng chính là Giáo Hiến.

Nhưng sau khi thi hành phận sự, người lãnh mạng đã quay về trình lại cùng Thái giám là tất cả bọn môn sinh, dõng sĩ cần bắt đã sa lưới tất cả, chỉ duy có Giáo Hiến chẳng biết đã tẩu thoát từ lúc nào, tìm mãi chẳng ra tung tích. Chữ Đức một mặt thét bảo quân lính phải tiếp tục công việc lùng kiếm, một mặt trình lên Ngoại tả xin cho lệnh tầm nã được cấp tốc truyền đi khắp nơi trong cõi, vì theo Chữ Đức, Giáo Hiến vốn là người tâm phúc của Ý Đức hầu lại là một tay lợi hại, không trừ được y thì có thể có chuyện đáng tiếc về sau.

Chuyện này sau đó ít lâu đến tai Nguyễn Quang Tiền, một văn thần giỏi về môn tinh lịch[4] vốn thường để ý đến việc xem sao để chiêm nghiệm số vận đại nghiệp chúa Nguyễn, nhất là từ ngày xảy ra vụ đạo sĩ xuất hiện và bị hành quyết ngay tại Đô thành. Nguyễn tiên sinh thở dài, bảo riêng người nhà:

- Chữ Đức[5] không phải hạng người trí độ nhưng lại có một năng khiếu linh cảm khá bén nhậy để biết coi việc tẩu thoát của một người như Giáo Hiến là đầu mối hậu họa sau này. Tuy nhiên chẳng qua đó là sự khép mở huyền nhiệm của thiên cơ mà tài trí, thủ đoạn con người khó có thể đối phó.

Và sau khi hai vị phụ đạo đã ôm hận, nối gót tiên vương về miền linh phủ, ấu chúa Nguyễn Phước Thuần, do một di chiếu giả mạo, được lên chiếm ngôi chân chủ, lấy hiệu là Khánh Phủ đạo nhân, đương thời gọi là Định Vương tức là Duệ Tôn.

Có thể vị ấu chúa không hề biết rằng chính mình đã bước lên ngôi cao qua những ba xác chết của hai vị trung thần và của một người anh. Vì đệ nhị công tử Nguyễn Phước Luân tức Hưng Tổ Hiếu Khương Hoàng đế, sau ngày bị hạ ngục chẳng bao lâu cũng phải giã từ dương thế.

Tương truyền khi công tử đã mệnh một, quan tài được đưa về nhà riêng ở Dương Xuân. Trong lúc người nhà đang băn khoăn vì chưa chọn được nơi an táng, thì một đêm kia, có một lão tăng lạ mắt đến thăm và hỏi:

- Đã tìm được đất hay chưa?

Người nhà thưa:

- Đang tìm mà chưa gặp được nơi đáng chọn.

Lão tăng liền bảo:

- Ta đến thăm là vì chuyện đó. Cứ lên núi Cư Chính, tìm đến chỗ đất trũng, nơi ta có trồng sẵn mộ chí, theo đúng phương hướng những cây ta đã cắm sẵn mà chôn. Đó là một cuộc đất tốt.

Ngày hôm sau, người nhà y theo lời dặn, lên núi mà tìm xem quả thấy mộ chí, tin chắc là thần nhân mách bảo, vì chẳng ai biết vị lão tăng đã từ đâu mà đến và đã đi về hướng nào sau khi cáo biệt. Quan tài Hưng Tổ liền được đưa lên nơi này an táng[6]. Cách đó mấy tháng về sau, một nhà phong thủy người thiên triều, nhân dịp lên núi Cư Chính - được đổi tên là Hưng Nghiệp từ năm Minh Mạng thứ hai - trông thấy nấm mộ, nhìn ngắm giây lâu địa thế xung quanh, rồi đặt địa la xem kỹ, liền cảm thấy thích thú, ngỏ lời thán phục với bạn đồng hành:

- Đáng phục lắm. Phải là tay tổ trong nghề và phải là cặp mắt đã từng ngắm địa hình, địa vật qua vạn dậm sơn khê, hải hồ mới có thể nhận ra cuộc đất quý này. Có một long mạch từ xa bị dứt, nhưng chưa tuyệt, đã chạy ngầm mà kéo đến nơi này. Thế núi, thế nước đã kết thành triệu đoan cho một nghiệp lớn trung hưng, sau một thời kỳ suy sụp.

Nhưng với cái tương lai còn xa vời ấy, đại nghiệp họ Nguyễn, vào lúc Duệ Tôn vừa được kế thừa ngôi báu, đã chuyển vào cái thế nứt rạn, lung lay để ngày càng tụt nhanh xuống dốc khuynh đảo, suy vong.

Duệ Tôn Nguyễn Phước Thuần, vì cái tuổi còn quá thơ ngây, chỉ biết ca hát vui chơi, chứ chẳng biết gì đến việc triều chính. Quvền hành nằm trọn vào tay Ngoại tả họ Trương.

Để giữ vững cái thế tiếm quyền, theo với thời gian Ngoại tả bày dạy cho Duệ Tôn đủ các lối ăn chơi hưởng lạc, nhiễm tập phong thói xa hoa, hoang phí. Vì trẻ người non dạ, càng lớn trong cái thế được thù phụng, cung dưỡng đúng theo mọi bề sở thích, Duệ Tôn càng cảm mến, tin cậy Ngoại tả, và để đền đáp xứng đáng công trạng của một bậc trọng thần đã tỏ ra hết sức tận tâm chu đáo trong sự phò tá, Chúa đặt Ngoại tả làm Quốc phó, cầm đầu Bộ Hộ, cai quản tượng cơ và kiêm cả Tào vụ[7]. Bổng lộc của Quốc phó lẽ tự nhiên là cực kỳ trọng hậu. Chỉ tính riêng số ngụ lộc được Chúa đặc ân, gồm các món thuế sản vật thuộc nguồn Thu Bồn và các nguồn Đông Hương, Trà Sơn, Trà Vân, mỗi năm cũng đã có tới trên năm vạn quan tiền.[8]

Nhưng chức trọng, quyền cao, lộc hậu như vậy vẫn còn chưa đủ thỏa mãn một người quá nhiều tham dục như Quốc phó họ Trương. Để tạo cảnh quý sủng cho cả gia đình, Quốc phó còn cho con cả là Trương Phúc Thặng cưới công nữ Ngọc Nguyện và con thứ là Trương Phúc Nhạc cưới công nữ Ngọc Thọ[9] - cả hai công nữ đều là con gái của Võ Vương - và mối liên hệ giữa gia đình Quốc phó với gia đình Chúa như thế lại càng thêm mật thiết. Do mối liên hệ này mà cả Thặng lẫn Nhạc đều được giữ chức Chưởng dinh, Cai cơ. Cả nhà Quốc phó quyền thế át cả trong triều, ngoài quận. Với cái chủ đích tăng cường thế lực, nắm trọn ưu thế trong chốn triều đường, Quốc phó còn tìm cách mua chuộc, lôi cuốn những người có thể trông cậy được, trong hàng công tử, vương tôn hay quan lại. Nếu kẻ nào chống lại ý hướng này của ông thì nhất định bị ông mưu hại. Đó là trường hợp của Chưởng cơ lãnh Hình bộ Nguyễn Phước Dục, con trai của Thiếu sư Luân Quốc cổng Nguyễn Phước Tứ[10]. Nhận thấy Chưởng cơ Dục là hạng tôn thần trong nước, có thanh danh, được người đương thời tôn kính, trọng vọng, Quốc phó muốn dẫn làm vây cánh, bèn gả con gái cho, những tưởng với môi lương duyên này, ông có thêm một cánh tay đắc lực. Nhưng Chưởng cơ Nguyễn Phước Dục trước sau vẫn giữ lòng trung chính không chịu luồn cúi, xu phụ. Thấy không thể nào lung lạc được Chưởng cơ họ Nguyễn, Quốc phó rất đỗi bất bình, bèn sai thuộc hạ cáo giác là Chưởng cơ Nguyễn Phước Dục mưu phản, bắt giam, rồi bãi chức. Dục không lấy thế làm buồn. Chẳng màng công danh, không tiếc mùi vị đỉnh chung, ông lui về chốn điền viên, đặt tên nhà là Tĩnh Viễn đường, hằng ngày vui chơi ngâm vịnh cùng đám mạc khách, lại vốn sành âm nhạc, giỏi chơi cờ, nên cũng thường mượn cái thú cầm, kỳ để “công danh quên bẵng chuyện đời hơn thua” như chính thân phụ ông trước đó.[11]

Không những chỉ có cao vọng về công danh, quyền bính, Quốc phó họ Trương là hạng người còn ham hố lợi lộc với một lòng tham không đáy. Cầm đầu Bộ Hộ và Tào vụ, Quốc phó đã dùng bọn Thái Sinh kết thành bè đảng, mưu việc kinh tài, giữ các cửa sông, cửa bể trọng yếu, áp dụng biện pháp thu thuế cực kỳ tàn nhẫn, ráo riết, và nhờ đó số lợi tức vào tay Quốc phó hàng năm lên tới ba bốn vạn quan.[12]

Cảnh giàu sang của Quốc phó thực là tột bực. Chỉ riêng cái cơ dinh ở làng Phần Dương cũng đã đủ choáng ngộp chúng dân và đủ để phô trương cái tư thế “đánh chuông bày vạc” có một không hai trên toàn cõi. Tòa ngang dãy dọc la liệt, san sát, nô tì, nô bộc đông đảo đến hàng trăm tên, trâu ngựa đếm không thể xiết, vườn tược mênh mông, ruộng đất cò bay thẳng cánh, nông nô, điền khách phục dịch tấp nập, rộn ràng ngựa xe chầu chực thường xuyên trước cửa, chen chân khó lọt, môn nhân hống hách, kiêu căng. Chỉ một dinh nghiệp cá nhân đã bày ra cái cảnh sắc trù phú, phồn vinh của một nơi thiên môn, vạn hộ. Và bên trong cái dinh cơ này là cả một kho tàng vĩ đại chất chứa tràn trề những châu báu, gấm vóc, bạc vàng.

Như thế chưa vừa, Quốc phó với lòng say sưa tài lợi, còn dùng địa vị, quyền hành của mình để giở trò bán quan, buôn ngục áp dụng một thứ hà chính cực kỳ tàn khốc để bóc lột lê dân tận xương, tận tủy, quy tất cả mọi nỗ lực vào việc làm giàu, làm có, tuyệt nhiên chẳng đếm xỉa gì đến công thiện, công ích và trách vụ bảo quốc, an dân.

Đã tham lam lại độc ác, tàn nhẫn, Quốc phó họ Trương đâu có ngại những chuyện tổn “đức”, thương “nhân”, và chính một tay ông đã gây ra không biết bao nhiêu là tội ác, tạo ra không biết bao nhiêu tai họa tày trời cho sĩ thứ. Những nỗi oan khuất ngày thêm chồng chất, và oán hận, căm hờn ngày càng dồn nén đầy ắp trong lòng dân chúng, sôi sục như dung nham sôi sục trong lòng hỏa sơn.

Vì quá thù ghét, thiên hạ đương thời đã ví ông với Tần Cối, đã gọi ông là Trương Tần Cối. Nhưng địa vị quá cao trọng, uy quyền quá lớn lao, vây cánh quá đông đảo của Quốc phó đã tạo cho ông một cái thế vững như bàn thạch, kiên cố như trụ đồng, cột sắt, để đám thương sinh yếu hèn, ngắn cổ không còn dám mong có một thế lực nào lay chuyển, khuynh đảo được ngoài cái thế lực của Trời. Chính cũng vì cái tâm lý này mà bất cứ một điều gì có vẻ bất hạnh xảy đến cho Quốc phó cũng gieo vào lòng bách tính một nỗi hả hê, thích thú. Một sự kiện được loan truyền rỉ tai nhiều nhất trong dân gian thuở ấy và được coi như là một quả báo nhãn tiền - có thể thỏa mãn trong muôn một nỗi phẫn uất và cái ý nguyện phục thù tiềm tàng trong lòng quảng đại quần chúng - là chuyện Quốc phó tuy sống trong cảnh“chung minh, đỉnh thực”, nhưng lại không thể hưởng được cái thú thưởng thức mỹ vị, cao lương. Những tên hỏa đầu thiện nghệ, nổi tiếng trong cõi, được sung vào đám đầu bếp của Quốc phó, dù cố công, gắng sức đến đâu cũng đành chịu bất lực trong việc tạo được những món hào soạn ngon miệng cho vị chủ nhân khó tính.

Mà Quốc phó khó tính không phải là vì sành ăn, kén ăn, nhưng là vì Trời không cho ăn, là vì Trời trừng phạt, và là một hình thức trừng phạt rất đau đớn cho hạng gian ác, cố hút máu, hút mủ của nhân dân để tạo nên cơ đồ sự nghiệp, rồi phải ngồi đấy trơ mắt mà nhìn, làm tên “mọi giữ của”, nhìn khát, nhịn thèm chứ không được dự phần hưởng thụ.

Cho nên hàng ngày, ở chợ, trong lúc bọn đầu bếp của Quốc phó, hống hách, phách lối, quen thói ỷ thế, ỷ thần, tranh mua tất cả những món ngon vật lạ, hạch sách về giá cả, làm ầm ỹ, náo động cả lên, thì đám thị dân buôn bán lại thì thào, cười cợt, rỉ tai bảo nhỏ với nhau:

- Trời ơi, mua làm chi cho lắm. Rốt cuộc rồi ngài Quốc phó cũng chỉ xơi được một đĩa mắm vảnh[13] và uống được bát nước chè mà thôi.

Và quả thực như vậy. Trong tư dinh của Quốc phó chẳng hiếm gì của ngon, vật bổ, nhưng mỗi ngày ba lần, tuy ngồi trước những mâm cơm cực kỳ thịnh soạn, đầy cả hải vị, sơn hào, Quốc phó vẫn không buồn sờ đũa, vẫn than van là không thể nào nuốt xuống, rồi lần nào cũng vậy, con người có quyền và có đủ phương tiện để tận hưởng mùi vị đỉnh chung ấy lại chỉ ăn được vài lưng cơm với một ít mắm vảnh mà thôi.[14]

❀ ❀ ❀

[1] Một số tài liệu cho rằng Chữ Đức (hay Chử Đức) thực chất là tước Chữ Đức hầu, phong cho một Thái giám thời đó. Họ tên Thái giám này hiện chưa tra cứu được.

[2] Việt sử: xứ Đàng Trong của Gs. Phan Khoang (Duệ Tôn Nguyễn Phước Thuần, 1765-1776). (TG)

[3] Vũ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (trích dẫn trong “Việt sử: xứ Đàng Trong”: Duệ Tôn Nguyễn Phước Thuần). (TG)

[4] Đ.N.N.T.C. - Thừa Thiên phủ (tập trung), mục Nhân vật bản triều: Nguyễn Quang Tiền, tr.56). (TG)

[5] Bản in cũ ghi là Đức Chữ, chúng tôi mạn phép sửa lại cho đúng tên của Thái giám Chữ Đức.

[6] Đ.N.N.T.C..: Kinh sư - Mục Sơn Lăng, tr.55. Còn có ghi chép: “Mùa đông năm Canh Tuất (1790), Tây Sơn khiến Đô đốc Nguyễn Văn Ngũ dời quan tài, giấu ở vực sông trước lăng. Nhà Ngũ bị thất hỏa, Ngũ chạy về. Người xã Cư Chính là Nguyễn Ngọc Huyến lặn xuống vực, dời giấu chỗ khác, sau chỗ ấy nổi thành gò Cát. Mùa hạ năm Tân Dậu (1801) khắc phục cựu kinh, Ngọc Huyến đem việc ấy tâu lên, vua bèn lựa ngày đem an táng lại chỗ cũ. Năm Gia Long thứ năm (1806) đắp sửa sơn lăng và dưng tên hiện kim. Năm Minh Mạng thứ hai (1821) phong núi này làm Hưng Nghiệp sơn, tông tự vào giao đàn”. (TG)

[7] “Những bước đầu của anh em Tây Sơn” của Gs. Nguyễn Phương (II -Nguyên nhân cuộc Tây Sơn khởi nghĩa), Tạp chí Đại học số 26 tháng 4-1962, tr.323). (TG)

[8] “Việt sử: xứ Đàng Trong” của Gs. Phan Khoang (Duệ Tôn Nguyễn Phước Thuần). (TG)

[9] “Những bước đầu của anh em Tây Sơn” của Gs. Nguyễn Phương, Tạp chí Đại học số 26 tháng 4-1962, tr.324. - theo “Việt sử: xứ Đàng Trong”: Trương Phúc Nhạc lấy công nữ Ngọc Đảo, chứ không phải Ngọc Thọ. (TG)

[10] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập trung), mục Nhân vật, tôn thất bản triều: Tôn Thất Tứ, tr.18, 19. (TG)

[11] Đ.N.N.T.C.. - Thừa Thiên phủ (tập trung), mục Nhân vật, tôn thất bản triều: Tôn Thất Tứ, tr.18, 19. (TG)

[12] Việt sử: xứ Đàng Trong của Gs. Phan Khoang. Duệ Tôn Nguyễn Phước Thuần (1765-1776). (TG)

[13] Vảnh: Tên một loại cá nước ngọt.

[14] Liệt truyện tiền biên, mục Gian thần (trích dẫn trong Những bước đâu của anh em Tây Sơn - Gs. Nguyễn Phương). (TG)

Đàn —★— MỘNG KINH SƯ Tiểu thuyết Lịch sử ebook©MotSAch —★— TVE-4u©vctvegroup Nhà xuất bản Hà Nội 2016
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Phan Du

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.