Chuỗi sự việc này xảy ra vào tháng 4 năm 1931.
Y Nhuận Quảng Nghĩa mang Ngũ Hành Chí Tôn Thánh Vương Đỉnh đi đâu, khắp thiên hạ này, chẳng mấy ai biết được.
Thiên hoàng Nhật Bản Dụ Nhân sau khi nhận được tin này, mừng như điên dại, lập tức triệu tập tướng lĩnh, bắt đầu lên kế hoạch toàn diện cho cuộc chiến tranh xâm lược Trung Hoa.
Ngày 18 tháng 9 năm 1931, Nhật quân Quan Đông nhân lúc Trương Học Lương điều động chủ lực Đông Bắc quân vào quan tham gia Trung Nguyên đại chiến, lưu trú tại Hoa Bắc, đã do Tư lệnh Bản Trang Phồn đích thân hoạch định, phá hoại một đoạn ngắn đường sắt Nam Mãn gần Liễu Điều Hồ tại Thẩm Dương, vu khống đây là hành động của Quốc dân Cách mạng quân Trung Quốc. Đêm đó, quân Nhật phát động tấn công vào Quốc dân Cách mạng quân tại Bắc Đại Doanh, Thẩm Dương, đánh dấu sự bùng nổ của "Liễu Điều Hồ sự biến", hay còn gọi là "Sự biến 18/9". Tham mưu trưởng Đông Bắc quân Trung Quốc trấn thủ Thẩm Dương là Vinh Trăn và Trương Học Lương tuyên bố tuân theo mệnh lệnh "không kháng cự" của Tưởng Giới Thạch, nghiêm cấm thuộc hạ tác chiến với quân Nhật (về già thì cho rằng đó là quyết định của bản thân), thế nhưng Đoàn trưởng Vương Thiết Hán cùng những người khác vẫn dẫn quân tiến hành kháng cự, còn có lực lượng cảnh sát Thẩm Dương do Hiển Thanh lãnh đạo đã trở thành một trong những lực lượng vũ trang hiếm hoi tại Đông Bắc đánh trả quân Nhật. Những cảnh sát này sau khi bị tước vũ khí phần lớn đều bị thảm sát. Sau khi Trương Học Lương rút lui cố thủ Cẩm Châu, một bộ phận nhỏ quân Nhật tiến hành tấn công thăm dò, bộ đội Trương Học Lương sụp đổ, không đánh mà rút khỏi Đông Bắc, quân dân Đông Bắc nản lòng, sự kháng cự dần chấm dứt. Sau sự việc, Trương Học Lương nhận tội bị giáng chức, sau đó sang châu Âu để trốn tránh dư luận khiển trách. Trong vòng hai tháng sau sự biến, quân Nhật chiếm đóng nhiều thành phố lớn tại ba tỉnh Đông Bắc Trung Quốc, ngoài sự kháng cự mãnh liệt của bộ đội Mã Chiếm Sơn tại Hắc Long Giang ra, thì không phải chịu tổn thất trọng đại nào. Quân Nhật chỉ trong hơn 3 tháng đã chiếm đóng toàn bộ lãnh thổ Đông Bắc.
Ngày 28 tháng 1 năm 1932, Lục chiến đội Hải quân Nhật tấn công Trát Bắc, Thượng Hải, sự biến 1/28 bùng nổ. Ngày 28 tháng 1, công sứ ba nước Anh, Pháp, Mỹ can thiệp hòa giải. Ngày 5 tháng 5, hai bên Trung - Nhật ký kết "Hiệp định đình chiến Tùng Hỗ", quy định Quốc dân Cách mạng quân Trung Quốc không được trú đóng tại Thượng Hải, chỉ được giữ lại Bảo an đội, Nhật Bản đạt được quyền trú quân tại Thượng Hải. Chủ lực tham gia kháng chiến là Lộ quân thứ 19 buộc phải rời Thượng Hải, đến Phúc Kiến tiễu cộng, quân thứ 5 thì rút lui về vùng Tô Châu, Nam Kinh. Nhật Bản từ trước tới nay luôn dùng thủ đoạn áp bức Tưởng Giới Thạch trừng phạt để làm nhụt sĩ khí dân Trung Hoa. Tháng 5, quân phiệt Nhật rút toàn bộ về Tô giới Nhật Bản.
Tháng 2 năm 1932, Nhật Bản thiết lập Mãn Châu Quốc tại Đông Bắc, người lãnh đạo danh nghĩa của chính quyền bù nhìn này là vị hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh, Ái Tân Giác La Phổ Nghi. Chính quyền này thực chất nằm trong tay quân Quan Đông, chúng lấy chiêu bài Đại sứ thiện chí Nhật - Mãn làm cái cớ chiếm đóng Đông Bắc, nhằm tiếp tục tiến hành xâm lược.
Hoạt động quân sự của quân phiệt Nhật tại miền Bắc Trung Quốc vẫn không dừng lại, chúng tiến vào tuyến Trường Thành, xâm phạm hai tỉnh Nhiệt Hà, Sát Cáp Nhĩ, sử gọi là "Trường Thành sự biến".
Tháng 1 năm 1933, quân Nhật tiến chiếm Sơn Hải Quan, bắt đầu tấn công vào sâu trong quan nội Trung Quốc.
Đêm ngày 7 tháng 7 năm 1937, Lư Câu Kiều sự biến bùng nổ, cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện Trung Hoa bùng phát. Quân Nhật huênh hoang tuyên bố ba tháng sẽ diệt vong Trung Quốc...
Thiên hoàng Nhật Bản Dụ Nhân không dám đưa Ngũ Hành Chí Tôn Thánh Vương Đỉnh về đại lục, mà sau khi sắp chiếm xong toàn bộ Đông Bắc, đã sắp xếp cho Y Nhuận Quảng Nghĩa điều động nhân lực, vật lực khổng lồ để xây dựng một địa cung phòng trộm mới. Địa cung này bắt đầu xây dựng từ cuối năm 1931, kéo dài mãi cho tới trước thềm sự biến Lư Câu Kiều năm 1937. Trong thời gian này, có khoảng gần năm vạn lao công Trung Quốc mất tích, ngoài ra còn có khoảng một vạn bộ đội công binh tinh nhuệ của quân Quan Đông, mang theo lượng lớn thiết bị công trình, không rõ tung tích.
Chỉ có một địa danh đột nhiên lan truyền trong giới hắc đạo Đông Bắc, tên là "Vạn Niên Trấn". Truyền thuyết về nó đủ loại kỳ lạ, từ cứ điểm quân sự đến kho báu Đông Bắc, từ nhà máy khí độc đến đội quân giết người, từ quái thú ma quỷ đến tiên gia Phật pháp, hầu như mọi chuyện kỳ quái có thể nghĩ ra, dường như đều liên quan tới Vạn Niên Trấn. Thế nhưng Vạn Niên Trấn nằm ở đâu, rốt cuộc là một mật danh hay là một địa danh có thật, rốt cuộc là làm cái gì, không một ai nói rõ được.
Tạm không bàn tới những chuyện sau đó nữa, hãy quay trở lại tháng 5 năm 1931, cũng chính là một tháng sau khi Y Nhuận Quảng Nghĩa mang Ngũ Hành Chí Tôn Thánh Vương Đỉnh rời đi.
Phía nam thành Phụng Thiên, vì là nơi hàng hóa từ quan nội nhập thành, khách sạn dịch điếm nhiều không đếm xuể, cho nên vào giờ ngọ, trên đường cái vô số ngựa xe thương hội qua lại, dòng người như thoi đưa. Cộng thêm đúng vào ngày lành tháng tốt, là ngày họp đại chợ, mấy con đường lớn đều chật ních tiểu thương, người bán hàng rong và du khách, vai chen vai, chân chạm chân, cực kỳ náo nhiệt.
Có một thanh niên ngoài hai mươi tuổi, đang đứng giữa đường cái, nhìn cảnh tượng phồn hoa này, trên mặt lộ ra nụ cười hài lòng. Người thanh niên này, đầu đội mũ lưỡi trai màu xám, thân trên mặc chiếc áo khoác da màu đen bóng loáng, sau lưng đeo một chiếc túi da thắt miệng, thân dưới mặc quần tây vải dạ màu nâu, chân mang đôi giày da thể thao đế gân bò màu đen sáng bóng. Mỗi món đồ trên người nhìn qua đều là vật giá trị không nhỏ, trông vô cùng thời thượng, Tây hóa. Người thanh niên ăn mặc kiểu này, ở một đại đô thị như Phụng Thiên cũng không nhiều. Thêm vào đó, dáng người cậu ta cân đối, khuôn mặt tuấn tú, lại tỏa ra khí chất bí ẩn đầy mê hoặc, chẳng những người qua đường nhìn ngó thêm vài lần, mà trên phố nhiều cô gái mới lớn còn thi nhau liếc mắt nhìn, lén lút chỉ trỏ, mặt lộ vẻ thẹn thùng.
Chàng trai này không hề ngó nghiêng đông tây, rõ ràng là rất quen thuộc nơi đây. Cậu hít sâu vài hơi, miệng huýt sáo một tiếng, tự lẩm bẩm: "Nhiều năm rồi không về, thành Phụng Thiên vẫn như cũ nhỉ!"
Cậu chính là Hỏa Tiểu Tà.