Cảm giác một niềm hân hoan to lớn, khác thường choán lấy anh; điều gì đó đã kết thúc, đã được cởi nút; một nỗi buồn khủng khiếp nào đó đã qua đi và tan biến hoàn toàn. Anh cảm thấy thế. Nỗi buồn đó kéo dài năm tuần. Anh giơ bàn tay quấn bằng cái khăn ướt đẫm máu, lẩm bẩm một mình: “Không, giờ thì tất cả mọi sự đều đã kết thúc!”. Và trong cả buổi sáng hôm đó, lần đầu tiên sau ba tuần lễ qua, anh hầu như không nghĩ về Liza, - dường như máu chảy từ những ngón tay bị thương đã có thể “rửa” được thậm chí cả nỗi buồn đó.
Anh ý thức được rằng mình đã thoát được sự nguy hiểm khủng khiếp. “Những người ấy - Veltraninov nghĩ ngợi - chính là những người như vậy trong một phút còn chưa biết là họ có cắt cổ người khác hay không, - nhưng một khi đã cầm con dao trong bàn tay run rẩy của mình và cảm nhận được giọt máu nóng trên những ngón tay của mình, thì cứa cổ còn là nhẹ, - họ có thể “cắt phăng” cả đầu ấy chứ, như những tay tù nhân ở nơi đầy ải thường mô tả. Chính thế đấy”.
Không thể ở nhà lúc này, anh đi ra phố với niềm tin rằng ngay bây giờ điều gì đó nhất định sẽ xảy ra, hoặc bây giờ nó sẽ xảy ra với chính bản thân mình. Anh lang thang trên phố và chờ đợi. Anh vô cùng muốn gặp một ai đó, nói chuyện với ai đó, kể cả với những người không quen biết, và chỉ có điều này cuối cùng cũng khiến anh nghĩ tới việc phải gặp bác sĩ để băng lại bàn tay bị thương một cách cẩn thận. Vị bác sĩ vốn quen với anh từ trước, xem xét vết thương, tò mò hỏi: “Sao lại có thể xảy ra như vậy được nhỉ?”. Veltraninov cười lớn, nửa đùa nửa thật và tí nữa thì kể hết mọi chuyện, song kìm lại được. Vị bác sĩ bắt mạch cho anh và khi nghe kể về cơn đau tối qua, thuyết phục anh uống ngay một loại thuốc giảm đau nhanh mà trước đây ông ta đã kê đơn. Còn vết cắt thì ông ta nói để Veltraninov yên lòng rằng “nó sẽ không để lại hậu quả nghiêm trọng nào cả”. Veltraninov cười vang, thuyết phục ông ta rằng hậu quả thì cũng đã có rồi và rất tuyệt. Niềm mong muốn được nói ra tất cả trong ngày hôm ấy nhắc lại tới hai lần, một lần với một người hoàn toàn không quen biết mà anh là người bắt chuyện trước trong cửa hàng bánh kẹo. Trước nay anh chưa bao giờ bắt chuyện với những người lạ ở chốn đông người.
Anh rẽ vào các cửa hàng, mua báo, rẽ vào hiệu may quen và đặt may cho mình một bộ quần áo. Ý nghĩ phải tới thăm gia đình Pogorelsev vẫn làm anh khó chịu, và anh đã không còn nghĩ tới họ, mà anh cũng không thể tới nhà nghỉ của họ được, có vẻ như anh vẫn đang chờ đợi một điều gì đó ở trong thành phố.
Veltraninov ăn trưa ngon miệng, bắt chuyện với người phục vụ và một khách cùng ăn trưa, uống nửa chai vang. Về khả năng cơn đau tối qua có thể lặp lại anh không hề nghĩ đến; anh tin chắc rằng bệnh tật đã qua khỏi hoàn toàn chính trong cái giây phút khi ngủ thiếp đi tối qua trong tình trạng kiệt sức hoàn toàn, sau một giờ rưỡi vùng dậy khỏi giường và quật ngã kẻ giết người xuống sàn với một sức lực như vậy. Tuy nhiên, tới chiều anh bị chóng mặt và có cái gì đó giống như cơn mê sảng trong giấc ngủ tối qua choán lấy anh một vài khoảnh khắc. Anh quay về nhà khi đã chạng vạng và lúc bước vào anh hốt hoảng khi nhìn thấy căn phòng của mình. Anh cảm thấy kinh hoàng và chết khiếp khi đứng trong phòng. Anh đi lại mấy lần khắp phòng và thậm chí còn vào bếp, nơi trước đây không khi nào anh đặt chân tới. “Ở chỗ này tối qua họ làm nóng những chiếc đĩa” - Veltraninov nghĩ. Anh khóa chặt cửa và thắp nến sớm hơn thường lệ. Trong khi khóa cửa anh chợt nhớ nửa tiếng trước, khi đi qua chỗ người hầu, anh có gọi Mavra và hỏi: “Lúc tôi đi vắng, Pavel Pavlovich có tới nhà không?” - Thực tình, ông này dám rẽ vào lắm.
Sau khi khóa cửa cẩn thận, anh mở ngăn kéo bàn giấy, rút chiếc hộp đựng dao cạo và mở con dao “chiều tối qua” để nhìn. Trên chiếc cán bằng ngà vẫn còn vương vài vệt máu mờ mờ. Anh đặt lại con dao vào chiếc hộp và khóa nó lại trong tủ giấy. Anh muốn ngủ; anh có cảm giác cần phải đi nằm ngay bây giờ, bằng không sáng mai anh sẽ không làm được việc gì. Ngày mai, không hiểu sao, đối với anh sẽ là ngày định mệnh và là ngày “kết cục”. Nhưng vẫn lại những ý nghĩ đó, những ý nghĩ bám theo anh nhằng nhẵng suốt cả ngày, không một phút giây nào chịu rời bỏ, giờ đây quần tụ và đập vào cái đầu đau yếu của anh không ngừng và không thể nào chống đỡ nổi, khiến anh lúc nào cũng nghĩ - nghĩ - nghĩ và rất lâu không làm sao ngủ được…
“Nếu đúng là ông ta dậy để cắt cổ mình một cách không chủ tâm, - anh vẫn lại nghĩ, - thì không hiểu liệu cái ý nghĩ đó đã có lần nào đó xuất hiện trong đầu ông ta không, dẫu rằng chỉ là niềm mong ước trong cơn tức giận?”.
Anh giải đáp câu hỏi một cách lạ lùng, rằng Pavel Pavlovich từng muốn giết mình, song cái ý nghĩ về việc giết người chưa một lần nào xuất hiện trong đầu kẻ giết người tương lai. Nói một cách ngắn gọn: “Pavel Pavlovich từng muốn giết, song không biết là mình muốn giết”. Điều đó thực vô lí, song lại là điều có thực, Veltraninov nghĩ. Đấy không phải chỗ ông ta tìm và ông ta đến Peterbua không phải vì Bagaunov, mặc dù ông tìm kiếm cả ở đây, lẫn chạy tới nhà Bagaunov Veltraninov nghĩ. Ông ta phát điên khi thấy tay này chết; ông ta khinh Bagaunov như rác. Ông ta tới đây vì mình, và tới đây cùng với Liza…”.
“Còn mình, liệu mình có đoán được là ông ta… sẽ cắt cổ mình không nhỉ?” Và anh quả quyết rằng đúng là mình có dự cảm chính là trong cái giây phút khi nhìn thấy ông ta ngồi trong xe ngựa đằng sau xe chở quan tài Bagaunov, “mình cũng có dự cảm về một điều gì đó…, song hiển nhiên không phải là điều này, hiển nhiên không phải việc ông ta định cắt cổ mình!…”
“Và chẳng lẽ, chẳng lẽ tất cả những cái đó đều là sự thật? - anh lại kêu lên, bỗng nhấc đầu khỏi gối và mở mắt - Tất cả những điều mà… lão điên ấy tối qua nhồi vào đầu mình cái ý nghĩ về tình yêu của lão ấy đối với mình, lúc cằm của lão giật giật và tay thì đấm vào ngực?”
– Một sự thật hoàn hảo! - Anh quả quyết, không ngừng nghĩ ngợi và phân tích. Cái gã Kvazimodo[1] từ thành phố T. ấy hoặc quá ngu ngốc, hoặc quá cao thượng, để có thể yêu mến người tình của vợ mình, bà vợ suốt hai mươi năm sống chung lão chẳng nhận ra được một điều gì! Lão kính trọng mình mười năm trời, thờ phụng những kỉ niệm về mình, chẳng hạn những “châm ngôn” của mình - Ôi trời, còn mình thì chẳng hiểu gì! Tối qua lão không thể nói dối! Nhưng liệu lão có yêu mình khi chiều qua cùng lúc lão vừa thổ lộ niềm yêu mến lại vừa nói từ “rửa hận”? Đúng vậy, yêu với tất cả lòng căm thù, đó là thứ tình yêu mạnh nhất…
Mà cũng có thể, chắc là như vậy, rằng mình đã gây một ấn tượng to lớn ở T., cái chính là rất to lớn và “dễ chịu”, và cái chính là đối với loại người kiểu Siler trong hình hài Kvazimodo như lão điều ấy có thể xảy ra! Lão ta phóng đại mình lên gấp cả trăm lần, là bởi mình làm lão ta quá kinh ngạc với cái triết lí tỉnh lẻ nghèo nàn của lão… Kể cũng thú vị nếu biết được mình làm lão kinh ngạc bởi điều gì? Của đáng tội, có thể chỉ là những chiếc găng tay mới và biết cách mang chúng. Những gã Kvazimodo yêu cái đẹp, ôi họ mới yêu làm sao chứ! Những chiếc găng tay cũng là quá đủ đối với tâm hồn cao thượng, hơn nữa còn là tâm hồn của “những ông chồng muôn thủa”. Những cái còn lại tự họ thêm vào gấp cả nghìn lần và thậm chí còn đánh nhau vì anh, nếu như anh muốn điều đó. Lão ta đánh giá rất cao những cách thức quyến rũ của mình! Có thể, chính những cách thức quyến rũ làm lão sửng sốt, bất ngờ hơn cả. Còn tiếng kêu của lão khi ấy: “Nếu là người ấy, thì sau chuyện này còn biết tin ai!”. Sau tiếng kêu như thế người ta có thể biến thành con vật!…
Hừm! Lão đến đây để “ôm lấy mình và khóc”, như tự lão thể hiện một cách ti tiện quái gở, tức là lão tới chính là để giết mình, nhưng lại nghĩ đến để “ôm lấy mình và khóc”… Lão còn dẫn cả Liza tới. Nhưng nếu mình cùng khóc than với lão, thì lão, có thể, sẽ tha thứ cho mình, là vì lão vô cùng mong muốn tha thứ!.. Điều này thể hiện trong cuộc xung đột lần đầu ở những câu nói méo mó vì say rượu, ở bộ dạng biếm họa và ở kiểu than vãn kiểu đàn bà về việc mình mình bị xúc phạm. (Lão ta lấy hai tay làm sừng, làm sừng trên đầu lão!). Để làm được điều đó, khi tới nhà địch thủ phải uống cho thật say để có thể nói ra; nếu không say lão ta đã chẳng thể… Mà lão ta mới thích làm bộ làm tịch làm sao chứ, còn phải nói! Còn phải nói lão mừng như thế nào khi bắt bằng được mình hôn lão! Chỉ có điều khi đó không biết lão sẽ kết thúc bằng cái gì: ôm hôn hay cắt cổ? Kết quả, đương nhiên, tốt nhất là cùng lúc có cả cái nọ lẫn cái kia. Một quyết định hợp lẽ tự nhiên! Đúng vậy, tự nhiên không khoái bọn quái dị và đã bổ sung chúng bằng “những quyết định tự nhiên”. Kẻ quái dị nhất trong bọn chúng, đó là kẻ quái dị có những tình cảm tốt đẹp, cao thượng: mình hiểu rõ điều này theo kinh nghiệm bản thân, chính là Pavel Pavlovich! Tự nhiên đối với bọn quái dị chẳng phải là bà mẹ dịu dàng, mà là mụ dì ghẻ độc ác. Tự nhiên sinh ra kẻ quái dị, đáng ra phải thương nó, lại hành hạ nó, hành hạ một cách thành thạo. Những cái ôm hôn cùng những giọt nước mắt tha thứ ở thời buổi này đối với ngay cả những người tử tế đứng đắn còn chẳng ăn ai, nói gì tới những kẻ như tôi với ông, Pavel Pavlovich!
Phải, lão ta quả là ngốc khi dẫn mình tới chỗ vợ chưa cưới. Trời đất! Vợ chưa cưới!
Chỉ có ở loại Kvazimodo ấy mới có thể nảy sinh cái ý nghĩ về sự “tái sinh trong cuộc sống mới” - bằng sự trong trắng trinh tiết của cô Zakhlebnina! Nhưng bản thân ông không có lỗi, Pavel Pavlovich không có lỗi, ông là kẻ quái dị, do đó mọi cái ở ông nhất định là quái đản rồi - cả ước mơ, cả hi vọng của ông. Nhưng tuy là quái dị, song lão vẫn còn biết nghi ngại cái ước mơ này, điều đó đòi hỏi phải có sự tán đồng, khích lệ mạnh mẽ từ phía mình, Veltraninov, với sự tôn kính đối với một người đáng kính. Cần có sự khích lệ của Veltraninov, sự xác nhận từ anh ta rằng ước mơ không phải là ước mơ, mà là điều có thực. Xuất phát từ sự tôn kính đối với mình, Veltraninov, ông ta đã dẫn mình tới đó và tin tưởng vào những tình cảm cao thượng của mình, lão tin rằng, có thể, mình với lão ở chỗ ấy, sẽ ôm nhau và cùng khóc dưới một bụi cây, ngay bên cạnh sự trinh trắng vô tội. Phải! Cuối cùng thì cái “người chồng vĩnh cửu” ấy cần phải, cho dẫu một lúc nào đó, nhất thiết phải trừng phạt bản thân vì tất cả, nhưng thay vì trừng phạt bản thân, kết cục lão lại vớ lấy con dao cạo, thật ra, chỉ vô tình thôi, nhưng đúng là đã vớ lấy! “Dẫu sao thì anh ta cũng đã đâm bằng dao, cuối cùng kết thúc bằng việc anh ta đã đâm trước sự có mặt của ngài tỉnh trưởng!” Không hiểu trong đầu lão có nẩy sinh ý nghĩ tương tự khi lão kể cho mình câu chuyện tiếu lâm về gã phù rể ấy hay không? Và có thực là có điều gì đó xảy ra cái lúc lão tỉnh dậy, ra khỏi giường và đứng ở giữa phòng? Hừm. Không, khi đó lão đứng đó cốt đùa cợt. Lão thức dậy để làm việc của mình, nhưng khi thấy mình sợ lão, nên lão cứ đứng im mươi phút không trả lời, là vì lão lấy làm dễ chịu lắm khi thấy mình sợ lão… Ở đây, có thể, trong đầu óc lão lần đầu tiên nảy sinh điều gì đó, lúc lão đứng ở giữa phòng ấy…
Nhưng dẫu sao, giá như hôm qua mình không quên để cái dao cạo trên bàn - thì có thể đã không xảy ra chuyện gì. Có phải thế không? Phải thế không? Là vì trước đó lão chẳng đã trốn chạy khỏi mình, hai tuần lão không đến nhà mình; lão trốn mình, lão thương hại mình? Bởi vì lúc đầu lão đã chọn Bagaunov, chứ không phải mình! Bởi vì lão vùng dậy giữa đêm để hấp nóng đĩa chườm cho mình, tính chuyện dựng nghi binh - từ con dao giết người đến sự mủi lòng!… Lão muốn cứu cả bản thân, lẫn mình, bằng những chiếc đĩa hấp nóng!…”
Cái đầu bệnh hoạn của “người thượng lưu” cứ thế tiếp tục làm việc rất lâu, theo kiểu “đấm bùn sang ao”, cho tới tận lúc bình tâm trở lại. Veltraninov tỉnh dậy ngày hôm sau vẫn với cái đầu bị nhức như vậy, nhưng với một nỗi sợ hãi mới và hoàn toàn bất ngờ.
Nỗi sợ hãi ấy bắt nguồn từ niềm tin xuất hiện hoàn toàn bất ngờ trong anh và mỗi lúc mỗi vững chắc, rằng anh, Veltraninov (và là người thượng lưu), ngay ngày hôm nay, tự mình chấm dứt mọi chuyện bằng cách đến chỗ Pavel Pavlovich. Tại sao? Để làm gì? - Anh hoàn toàn không hiểu và cùng với nỗi kinh tởm bản thân, không muốn hiểu điều đó, chỉ hiểu có mỗi một điều rằng không biết sao lại thấy mình buộc phải làm việc này.
– Sự điên khùng này - anh không biết gọi việc làm của mình bằng gì nữa - tuy nhiên đã phát triển tới độ có được một dạng thức hợp lí và một nguyên cớ mang tính quy luật: anh ước Pavel Pavlovich quay trở về khách sạn, khóa trái cửa và… treo cổ tự tử, giống như gã thu ngân mà Maria Cysoeva đã kể. Niềm mong ước ngày hôm qua ấy dần dần từng tí một chuyển thành niềm tin vô thức và vô hình trong anh. “Cái lão ngốc ấy treo cổ để làm gì nhỉ?” Anh trăn trở liên tục. Anh nhớ lại lời của Liza cách đây không lâu… “Mà mình, đứng vào địa vị của ông ta, khéo mình cũng tự treo cổ cũng nên…” - Anh nghĩ tới điều này một lần.
Sự việc kết thúc bằng việc, thay vì đi ăn trưa thì anh lại chạy tới chỗ Pavel Pavlovich. “Nhất định phải hỏi Maria Sysoeva mới được” - anh quyết định. Nhưng còn chưa kịp ra tới phố anh bỗng dừng khựng lại ở trước cổng.
– Có lẽ nào, có lẽ nào - anh kêu lên, mặt đỏ lựng vì xấu hổ - chẳng lẽ mình lê lết tới đó để mà “ôm nhau cùng khóc”? Hành động hèn mạt vô nghĩa này chẳng lẽ lại không đủ cho tất cả sự ô nhục hay sao?
Nhưng thật may, đã có những người nghiêm túc và lịch thiệp cứu thoát anh khỏi hành vi “đớn hèn vô nghĩa” đó. Ngay khi bước ra ngoài phố anh chạm mặt với Aleksei Lobov. Chàng thanh niên có vẻ đang vội vã và lo lắng.
– Tôi tới tìm ngài! Người quen của ngài, ông Pavel Pavlovich, thật quá khủng khiếp?
– Ông ấy treo cổ? - Veltraninov lẩm bẩm một cách kì cục.
– Ai treo cổ? Tại sao? - Lobov trợn tròn mắt.
– Không sao… tôi chỉ nói vậy; cậu nói tiếp đi!
– Phù, thật vớ vẩn, tuy vậy, ngài có kiểu nghĩ thật buồn cười! Ông ta hoàn toàn không treo cổ (tại sao lại phải treo cổ?). Ngược lại, ông ấy đi rồi. Tôi vừa mới đưa ông ta lên tàu, tìm chỗ ngồi cho ông ấy, rồi chạy tới đây luôn. Ôi trời, ông ta uống mới khiếp, tôi sẽ kể cho ngài biết! Chúng tôi uống hết ba chai, Predposylov cũng vậy. Nhưng mà ông ấy uống mới khiếp làm sao chứ! Hát toáng lên ở trong toa tàu, nhớ tới ngài, lấy tay ra dấu cúi đầu chào ngài. Mà ông ấy là hạng đểu cáng, ngài nghĩ sao, hả?
Chàng trai trẻ say thực sự; khuôn mặt đỏ tưng bừng, cặp mắt long lanh, nói líu cả lưỡi, tất cả chứng tỏ điều đó. Veltraninov cười ngất:
– Cuối cùng rồi họ cũng kết thúc được như vậy, bằng cách uống rượu kết nghĩa! Ha- ha! Họ ôm nhau cùng khóc! Ôi, các vị, những Siler - những thi nhân!
– Đừng có chọc ngoáy, xin ngài đấy. Ngài biết không, ông ấy hoàn toàn từ bỏ đám ấy rồi. Hôm qua ông ấy ở đó, hôm nay cũng lại tới đó. Tố cáo, mách lẻo ghê lắm. Người ta nhốt Nadia lại, cô ấy ngồi trên gác xép. Nào là quát lác, nào là nước mắt, nhưng chúng tôi quyết không nhượng bộ! Nhưng mà ông ta uống rượu mới khiếp chứ, tôi sẽ nói với ngài ông ta uống như thế nào! Mà ngài có biết không, ông ấy là loại môve tông, có nghĩa không phải môve tông[2], mà là gì nhỉ?… Và lúc nào cũng nhắc tới ngài, nhưng mà làm sao so được với ngài! Ngài dẫu sao cũng là người nền nếp và thực ra thì lúc nào đó từng thuộc về xã hội thượng lưu, chỉ có bây giờ bắt buộc phải đi chệch hướng, chắc do nghèo… Có quỷ mới biết được, tôi hiểu về ông ta kém lắm.
– Chắc ông ấy kể với cậu về tôi bằng lời lẽ đại loại như vậy phải không?
– Ông ấy, ông ấy, xin ngài đừng giận. Hãy là công dân của một xã hội tốt đẹp hơnTôi muốn nói rằng thời đại chúng ta ở Nga không biết tìm ra ai để mà kính trọng. Cũng phải thừa nhận rằng đó là một căn bệnh rất nặng của thế kỉ: không biết kính trọng ai, có phải thế không?
– Đúng thế, đúng thế, còn ông ta, sao?
– Ông ấy? Ai cơ? À, phải! Tại sao ông ấy lúc nào cũng nói “Veltraninov năm mươi tuổi nhưng đã xuống sắc rồi”? Tại sao lại “nhưng…”, mà không phải là “và…”! Ông ta chỉ cười và nhắc đi nhắc lại tới cả nghìn lần. Ngồi trong toa tàu hát rồi khóc nhìn rõ thật tởm; nhưng cũng đáng thương, say mà. Ôi, tôi chả thích bọn ngu! Ông ấy vung tiền cho đám ăn mày, nói là vì hương hồn của Liza - vợ ông ấy à?
– Con gái.
– Tay ngài sao vậy?
– Cắt phải.
– Không sao, sẽ khỏi thôi. Ngài biết không, quỷ tha ma bắt ông ta cho rồi, cũng may là đã đi hẳn, mà tôi cược rằng ở chỗ ấy, nơi ông ấy tới, ông ấy sẽ lại lấy vợ ngay thôi mà, có đúng không?
– Thì cả cậu cũng còn muốn lấy vợ cơ mà?
– Tôi á, tôi khác, ngài làm sao vậy, thật đấy! Nếu như ngài năm mươi tuổi, thì ông ấy phải sáu mươi. Ở chỗ này phải nghĩ cho có logic, cha ạ! Và ngài có biết không, trước đây lâu rồi, tôi là người theo quan điểm sùng Slavo, nhưng giờ đây chúng tôi đang chờ bình minh đến từ phương Tây… Thôi, xin chào ngài; cũng may mà gặp ngài ở đây, khỏi phải rẽ vào nhà; tôi chẳng vào đâu, đừng có mời, tôi không có thời gian!..
Và chàng trai vội vã chạy đi.
– Ôi, tôi làm sao thế này - bất thình lình cậu ta quay trở lại - là vì ông ta nhờ tôi chuyển cho ngài một bức thư! Thư đây. Sao ngài không đi tiễn ông ta?
Veltraninov quay về nhà và mở phong bì thư đề tên anh.
Trong phong bì không có một dòng nào của Pavel Pavlovich, nhưng lại có một bức thư nào đấy. Veltraninov nhận ra nét chữ của người viết thư. Đó là một bức thư đã cũ, giấy ngả màu vàng theo thời gian, nét mực đã nhạt, được viết cách đây mười năm, hai tháng sau khi anh chuyển đi Peterbua từ thành phố T. Nhưng bức thư này không đến tay anh; khi ấy, thay vì nhận nó, anh đã nhận được một bức thư khác; điều đó thể hiện rõ ràng theo màu giấy ố vàng. Trong thư, Natalia Vasilievna, giống như lời lẽ bức thư kia, viết rằng vĩnh biệt anh mãi mãi và thú nhận mình đã yêu người khác, nhưng cũng không giấu giếm về việc mình mang thai. Ngược lại, để an ủi tình nhân cũ của mình, bà ta hứa hẹn sẽ tìm dịp trao lại cho anh đứa bé tương lai, quả quyết rằng hiện cả hai có những trách nhiệm khác, rằng tình bạn của họ bền chặt mãi mãi. Nói tóm lại, logic bức thư có rất ít, song mục đích trước sau chỉ một: sao cho tình nhân cũ giải thoát bà ta khỏi tình yêu của mình. Thậm chí bà ta còn cho phép anh sau một năm nữa tới T. để nhìn mặt con mình. Có trời hiểu được tại sao bà ta lại nghĩ lại, gửi bức thư khác thay vì bức này.
Veltraninov trong khi đọc thư mặt dần trắng bệch, đồng thời anh cũng tưởng tượng cảnh Pavel Pavlovich tìm thấy bức thư này và đọc nó lần đầu tiên trước cái hộp gỗ mun khảm xà cừ mở toang.
“Chắc chắn ông ấy cũng trắng bệch như người chết” - anh nghĩ, ngẫu nhiên nhìn thấy mặt mình trong gương. Chắc đọc xong, ông ấy nhắm nghiền hai mắt, rồi bất thình lình mở ra với hi vọng rằng bức thư kia biến thành một mảnh giấy trắng… Có lẽ ông ấy nhắc đi nhắc lại hành động đó phải đến ba lần!..”
❀ ❀ ❀
[1] Nhân vật chính trong tiểu thuyết Thằng gù nhà thờ Đức bà của nhà văn Pháp Victo Huygo.
[2] Mauvais ton (Tiếng Pháp) – thiếu giáo dục, không lịch thiệp.