H
untington Beach, California
Cảm giác của cô thật nhất khi cô ở phía trước ống kính. Một mình trong phòng ngủ, ngồi trước máy quay, nói chuyện với người hâm mộ, đó là khi cô trở thành một Amanda thực thụ. “Mọi người thích khi bạn chân thực và nguyên sơ,” cô nói trong lúc ngồi vắt vẻo trên chiếc ghế đẩu trong bếp tại nhà của gia đình cô ở bãi biển Hunting. Nguyên sơ, cô nói, giống như trong đoạn video “TMI” mà cô thú nhận rằng mình chưa từng có bạn trai, và cho biết cặp đôi cô ngưỡng mộ nhất là Chuck và Blair trong phim Gossip Girl (Bà Tám xứ Mỹ) và cô còn thú nhận rằng mình sợ chết và sợ nhện; nhưng cô chưa bao giờ tiết lộ cân nặng của mình. “Việc bạn chưa từng trả lời câu hỏi ‘bạn nặng bao nhiêu’ thật là kỳ diệu,” một trong những người hâm hộ của cô trên Youtube bình luận; “điều đó thể hiện sự tôn trọng với những người quá cân. Cô ấy không muốn mọi người cảm thấy bất an.” “Đúng vậy, tôi cũng nghĩ thế,” một người khác bình luận, “cô ấy thật chu đáo và ngọt ngào.”
Người hâm mộ của cô hiểu rõ về cô. “Amanda là thần tượng của tôi,” một trong 1,5 triệu người theo dõi của cô trên YouTube nói. “AMANDA LÀ NỮ HOÀNG CỦA TÔI,” một trong một triệu người theo dõi của cô trên Instagram chia sẻ. “VÀ BẠN KHÔNG THỂ LÀM GÌ ĐỂ THAY ĐỔI ĐIỀU ĐÓ.” Những người ở phía bên kia màn hình đã thấy con người thật của Amanda Steel (cô cho phép tôi sử dụng tên thật của cô), một cô gái 14 tuổi chuyên chia sẻ bí quyết làm đẹp cho kênh Makeup by Mandy24. Cô ấy đi từ phía này đến phía kia của ống kính máy quay như thể cô ấy vừa bước qua cánh cổng hoàng gia, tới một nơi mà cô ấy không còn là một đứa trẻ, mà hóa thân thành một nữ hoàng. “CÔ ẤY LÀ TẤT CẢ.” Từ nơi này - nơi mà mọi thứ đều xám xịt, buồn tẻ, nhạt nhẽo, tới nơi ấy - nơi mọi thứ tỏa sáng và rực rỡ như một suất chiếu Disney, cô trở thành người mà cô hằng mong muốn, trở thành người mà mọi người hằng mong muốn, một cô gái dễ thương, nhí nhảnh, vui tươi, có chút gì đó kỳ quặc, chút gì đó ngốc nghếch, luôn được chải chuốt đến từng centimet, trông thật phong cách, hài hước, ngọt ngào, và mảnh khảnh; nhưng không quá hài hước theo kiểu cợt nhả. Cô là một cô gái Mỹ “hoàn hảo”, ít nhất là theo phiên bản nơi cô là hiện thân của những ngôi sao mạng xã hội.
“Hãy là chính mình,” Amanda trả lời người hâm mộ khi cô được hỏi về câu nói cô yêu thích nhất.
Việc đi sang phía bên kia của ống kính, nơi của Miền đất hứa, được chiếu sáng bởi ánh đèn LED không hề đơn giản. Từng bước đi cũng nhừ tử như hành trình đi bộ thám hiểm ra ngoài vũ trụ - thành người nổi tiếng, trên mạng, nổi tiếng vì “là chính mình”. Nó đòi hỏi sự chuẩn bị và lập kế hoạch kỹ lưỡng, nhiều giờ luyện tập và thực hiện – và một trong số đó là kỹ nghệ selfie phải đạt đến mức hoàn hảo – và còn một điều gì đó khác nữa, một điều thật đặc biệt, thứ mà cô cũng chẳng hiểu được, và cũng không muốn phân tích, cứ thế để nó trôi đi. “Tôi còn chẳng muốn gọi đó là ánh hào quang,” cô nói. “Tôi chỉ muốn đăng ảnh đẹp lên mạng thôi mà. Tôi chỉ, nói sao nhỉ, chỉ là một cô gái bình thường.”
----------
Phía sau ống kính
Hầu như bọn trẻ ai cũng có một chiếc máy ảnh riêng, từ khoảng những năm 1960. Năm 1963, chiếc máy ảnh Kodak Instamatics ra đời với mức giá thấp (16 đô la Mỹ) và dễ sử dụng, bền và nhỏ gọn, vừa nhỏ để bỏ túi hoặc bỏ vào khay trên của tủ đựng giày trên đường đi cắm trại. Logo của Instagram bây giờ cố ý đưa hình dáng của chiếc Instamatics ngày đó – một vạch tối màu phía trên, phần phía dưới bằng kim loại, ống kính và bộ ngắm tròn nằm giữa. Logo mang phong cách hoài cổ, cũng là một lời tuyên bố đầy tự tin rằng ứng dụng di động mới này sẽ tiếp nối sự thành công của bậc tiền bối Kodak trong việc phổ biến nhiếp ảnh trong xã hội. Từ năm 1963 đến năm 1970, có hơn 50 triệu chiếc Instamatics được bán trên thị trường, khiến chiếc máy ảnh này trở thành chiếc máy ảnh bán chạy nhất mọi thời đại, tính đến lúc đó. Theo số liệu của Instagram, tính từ thời điểm ứng dụng này ra đời vào năm 2010, bởi hai kỹ sư phần mềm của Thung lũng Silicon gặp nhau tại Đại học Stanford, cho đến năm 2015, Instagram đã có hơn 400 triệu người dùng thường xuyên trên khắp thế giới, còn nhiều hơn số người sống ở Mỹ.
Instamatics cũng là chiếc máy ảnh đầu tiên được quảng bá trực tiếp đến các cô gái. Trước đó, vào năm 1932, Kodak đã cho ra đời chiếc máy chụp hình dành cho con trai mang tên Boy Scout Brownie (dựa theo chiếc Brownie rất nổi tiếng của hãng này, được ra mắt năm 1900). Chiếc máy này được nhiều chàng trai trẻ yêu thích, đặc biệt là những chàng trai luôn muốn được trải nghiệm cuộc sống phiêu lưu giống như cuộc sống của những người cắm trại, những nhà thám hiểm, sống gần những người quả cảm mà cuộc sống của họ xứng đáng được ghi lại. Sau đó hãng Kodak nhận ra còn một đối tượng khách hàng rất lớn họ cần phải tiếp cận: đó là các cô gái trẻ. Nhưng lần này, thông điệp để tiếp cận các cô gái trẻ này lại khác. Họ cho rằng các cô gái có thể sử dụng máy chụp ảnh để trở nên nổi tiếng, và thế là chiếc Instamatics ra đời.
Trong những năm 1960, trẻ vị thành niên, cả nam và nữ đều trải qua những thay đổi văn hóa nhanh chóng, đặc biệt là các cô gái, họ đã có những biến đổi thực sự trong cuộc sống. Nhiều cô gái đã tìm được công việc bán thời gian để kiếm tiền, hoặc có thể sử dụng những khoản tiền dành dụm của bố mẹ để tiêu xài, mua nhiều quần áo và đồ trang điểm, những thứ mà họ nhìn thấy trong những bài quảng cáo. Bạn có thể nghe thấy đâu đó tiếng của Don Draper, một nhân vật cực kỳ phân biệt giới tính trong bộ phim Mad Men (Những kẻ điên) đang lẩm nhẩm mấy câu nói của Kodak: “Tại sao con gái thích có máy ảnh? Vì họ đa cảm, họ phù phiếm, họ muốn được nổi tiếng, họ muốn khoe với thế giới những bộ cánh đẹp và những người bạn mà họ có. Họ muốn có nhiều kỷ niệm. Và họ muốn trông xinh đẹp trong những kỷ niệm này.”
Kodak bán những chiếc máy ảnh Instamatics cho con gái nhờ những quảng cáo toát ra một thứ cảm giác hoài cổ (mà Draper có lần đã mô tả là “nhẹ nhàng, nhưng đầy tính thuyết phục”). Một quảng cáo trên tờ Seventeen (Tuổi mười bảy) vào năm 1968 đã giục giã các cô gái mua máy ảnh Instamatics trước khi họ quay lại trường học sau kỳ nghỉ hè, dòng chữ ghi lớn: “Bạn xứng đáng có một chiếc máy ảnh tuyệt cú khi quay lại trường.” Rồi đến nội dung quảng cáo chi tiết: “Bạn có thể tưởng tượng được chính xác điều gì đang diễn ra. Lễ diễu hành đầu năm học. Những trò chơi. Những điệu nhảy. Những người bạn cũ và những gương mặt mới. Thật tuyệt nếu bạn có một chiếc máy ảnh tốt. Thật tuyệt nếu bạn sở hữu một trong những chiếc Kodak Instamatics của chúng tôi… Đó là một phục trang bạn cần phải có khi trở lại trường.” Như thể một cô gái chỉ có thể cảm nhận một thiết bị công nghệ khi nó mang lại những tiện ích giống một chiếc váy ngắn vậy.
Nội dung quảng cáo này được quảng bá cùng với hai hình ảnh trông rất vô tư. Bức ảnh đầu tiên có một cô gái tóc vàng trong trang phục của đội cổ vũ, cô được vây quanh bởi 5 cầu thủ bóng rổ nam sau một trận chung kết. Vị huấn luyện viên đang giơ chiếc cúp lên, vậy là đội đó chiến thắng. Cô gái đang hôn lên má một chàng trai, trông có vẻ là một đội trưởng dễ thương của đội bóng. Bức ảnh kia cũng chụp cô gái và chàng trai ấy, trong buổi tiệc dạ hội trung học, cô mặc một chiếc váy trắng tinh khôi và đeo găng tay trắng. Tóc cô uốn thành nhiều lọn, một bông hoa được gắn trên vạt váy, cô ấy đang tỏa sáng. Chàng trai đứng bên cạnh cô, trông thật tinh tế trong bộ lễ phục trắng.
Thông điệp là: những chiếc máy ảnh là công cụ để thể hiện những hình ảnh lý tưởng của bản thân, và những bức ảnh là cách để quảng bá cho chính mình. Và cô gái lý tưởng (xinh đẹp, tóc vàng, da trắng, theo góc nhìn của Kodak) sẽ được các chàng trai chú ý. Giá mà mọi người đều thấy được cô ấy được yêu mến đến thế nào.
Instagram cũng trao cơ hội ấy cho các cô gái. Cách mà các cô gái sử dụng ứng dụng này cũng không khác là mấy với cách mà các cô gái được dạy để sử dụng nhiếp ảnh trong nhiều thập kỷ qua. Sự khác biệt là giờ đây, các cô có cơ hội để thể hiện sắc đẹp, bạn trai, những kỷ niệm đặc biệt, quần áo đẹp với cả thế giới chứ không chỉ với những bạn học cùng trường. Và sức lan tỏa mạnh mẽ ấy đi kèm với cơ hội thật đáng mơ ước: cơ hội để không chỉ được yêu mến trong trường, mà còn trở thành người nổi tiếng. Nổi tiếng vì là chính mình.
“Tôi cho rằng việc bạn lên một chương trình truyền hình thực tế và khiến mọi người yêu bạn vì con người thật của bạn giống như một thử thách vậy,” Kim Kardashian nói với Barbara Walters trong số đặc biệt của chương trình Most Fascinating People (Những người thú vị nhất). Walters đã không chỉ ra rằng những chương trình truyền hình thực tế này thực ra là những thông tin giải trí có kịch bản, và Kim cũng không hề nhắc đến chuyện này.
Huntington Beach, California
Chỉ trong có một năm, nhưng kể từ khi tôi gặp Amanda Steele ở Huntington Beach cho đến khi tôi ngồi viết về cô, cô đã trở thành một ngôi sao thực thụ trên mạng xã hội. Khi tôi nói chuyện với cô vào năm 2014, cô lúc đó đã có một lượng người theo dõi lớn khi là một cô gái hướng dẫn cách làm đẹp trên Youtube, và là người được yêu mến trên Instagram; những hãng mỹ phẩm và thời trang mời cô quảng bá cho sản phẩm của mình trên kênh Youtube của cô. Một năm sau đó, cô đã bước trên thảm đỏ trong Lễ trao giải Video Âm nhạc MTV năm 2015, sánh ngang với Miley Cyrus, Kim Kardashian và Nicki Minaj. Amanda lúc đó là “người đại diện mạng xã hội” cho hãng trang điểm CoverGirl.
Vào năm 2014, các kênh truyền thông truyền thống đã nhận thấy một thực tế rằng giới trẻ đã tự tạo ra những “ngôi sao” cho riêng mình, và không còn chỉ nhìn vào những gương mặt nổi tiếng trên Hollywood và ngành âm nhạc để thần tượng và bắt chước theo, chúng tìm thấy thần tượng của mình trên điện thoại. Cũng năm đó, trang Variety đã chạy một dòng tít đáng chú ý: “Bản nghiên cứu: Những ngôi sao YouTube nổi tiếng hơn những ngôi sao chính thống trong lòng giới trẻ Mỹ.” Năm ngôi sao được bình bầu nhiều nhất trong bản điều tra này, do trẻ vị thành niên Mỹ từ 13 đến 18 tuổi tham gia, không thuộc về Jennifer Lawrence, Taylor Swift, Hilary Clinton hay Barack Obama, mà là những cái tên trên YouTube.
Cuộc nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, đối với giới trẻ, hai yếu tố quan trọng nhất để khiến họ thần tượng một ai là do họ cảm nhận được những cá tính của người đó trên mạng dễ hiểu và gần gũi với mình. “Bạn cảm thấy như bạn hiểu họ,” chia sẻ của Sophia, cô gái ở Montclair, “vì họ cũng đang làm những gì chúng ta làm”, đó là việc sử dụng mạng xã hội theo cách mà giới trẻ dùng, chứ không phải cách sử dụng mạng xã hội của những người trưởng thành hay nhiều ngôi sao chính thống. “Những người nổi tiếng dựng nên một tượng đài của riêng họ,” Victoria – bạn của Sophia – nói. “Họ không quay những đoạn vlog và cũng không thân thiện kiểu, Chào cả nhà, mình chuẩn bị uống sinh tố đây.” Khi tôi nói với các cô gái rằng tôi đã phỏng vấn Amanda Steel, Sophia reo lên: “Cô ấy là thần tượng của tôi.”
Đã quá rõ ràng, rằng sẽ không chỉ thiếu sót mà còn nguy hiểm nếu giới truyền thông lờ đi sự tồn tại của những thần tượng trẻ mới. Trong năm 2015, khi một biên tập viên của trang Eonlinecom, tên là Seija Rankin, đăng lên một câu chuyện mà trong đó cô trêu đùa rằng cô chưa từng nghe thấy tên những người được đề cử trong Lễ trao giải Sự lựa chọn của Giới trẻ, toàn là những người nổi tiếng trên mạng. “Eva Gutowski? Lele Pans? Joey Graceffa? Felix Kjellberg? Những cái tên này thậm chí có phải là người thực không vậy?” Rankin viết (và rất tiếc đã viết sai chính tả tên của ngôi sao Lele Pons trên Vine).
Phản ứng trên mạng xã hội về bài này rất nhanh và mạnh mẽ. “Nếu ‘bài báo’ này là của @eonline, tôi thấy đáng lo cho tương lai của thương hiệu này,” Tyler Oakley, một người dùng YouTube, một người bảo vệ quyền của giới LGBT, và một “anh cả” không chính thức của tất cả những gì liên quan đến mạng xã hội của giới trẻ, đã đăng lên Twitter như vậy. “Xin chào @ eonline! Tôi là Joey Graceffa, người tạo ra YouTube và là tác giả của những bài viết được yêu thích nhất trên New York Times, rất hân hạnh được biết bạn!” là nội dung bài đăng của Graceffa, người đã viết hồi ký năm 2015 mang tên Câu chuyện có thật: Hành trình dẫn tôi đến Thế giới số, trong đó kể về quá trình từ một nạn nhân bị hăm dọa trên thế giới ảo, trở thành một người nổi tiếng trên mạng xã hội (đây là điều diễn ra với nhiều ngôi sao trên Internet). Và rồi có những nhóm người hâm mộ xuất hiện để hỗ trợ những vị thần trên mạng của mình, với những lời lẽ cay nghiệt nhất. “@seijawrites [Người theo dõi Rankin trên Twitter ] Tôi ngờ rằng chẳng có ai biết cô và thích cô cả? Những nhân vật trên YouTube mà cô nhắc tên có hàng triệu người theo dõi, còn cô có 486 người,” @likelionz đăng trên Twitter.
Tôi đã nghe các cô gái nhắc tới tầm quan trọng của những cá tính mạng xã hội trong thế giới họ đang sống, vì thế, tôi muốn gặp một người và hỏi về lý do và cách mà cô đã làm để đạt được những thành tựu đáng mơ ước như hiện nay: Điều gì đã cho cô cảm hứng để thử trở thành người nổi tiếng trên mạng, và điều đó có ảnh hưởng thế nào đến cuộc sống của một cô gái trẻ? Tôi đã liên hệ với Amanda Steele sau khi nhìn thấy cô trên Instagram, và vào ngày hè, tôi lái xe đến ngôi nhà của cô ở Huntington Beach.
Huntington Beach là một thị trấn với dân số khoảng 200 ngàn người, cách Los Angeles khoảng 35 dặm về phía Nam. Thị trấn này nằm trên một bãi biển tuyệt đẹp trải dài khắp 9,5 dặm, nơi những con sóng biển Thái Bình Dương vỗ rì rào, khiến cho nơi này là một địa điểm lý tưởng để lướt sóng. Với thương hiệu “Thành phố lướt sóng của Mỹ”, đây là nơi tổ chức giải Lướt sóng Mở rộng Mỹ hàng năm, cuộc thi lướt sóng lớn nhất thế giới. Những người ở Huntington Beach đi dép lê suốt năm, tạo một cảm giác rất thư thái cho thị trấn này.
Những con phố thuộc khu vực mà Amanda sinh sống nối tiếp nhau với hàng dài những cây cọ cao, gầy guộc và những ngôi nhà nhỏ bé, bãi cỏ khô xơ xác trong cái nắng hạn của vùng California. Dọc đường lớn, bạn có thể nhìn thấy nhiều chiếc thuyền đang đỗ và nhiều cờ Mỹ đang bay hơn cả ở những buổi gây quỹ của những người thuộc Đảng Cộng Hòa. Cao cao trên không, những đường dây điện thoại đan vào nhau chằng chịt. Thật ngạc nhiên là cô ấy đang sống ở đây, trong khi những bức ảnh trên Instagram thể hiện một cuộc sống long lanh hơn nhiều. Cô thường xuất hiện bên cạnh hồ bơi sau vườn, khoác trên mình những bộ cánh mốt nhất, đeo những cặp kính râm thời thượng. “Đời mình thật là thất bại,” một người than thở trong những dòng bình luận dày đặc những dòng chữ FOMO (viết tắt của Fear of Missing Out – nghĩa là nỗi sợ khi bỏ lỡ những điều tốt đẹp). “THẬT TỆ KHI CỨ BỊ ÁM ẢNH VỚI HÌNH BÓNG CỦA CÔ ẤY THẾ NÀY. GIÚP TÔI VỚI,” một người khác nói. “Cho chúng tôi xem nhà đi!”, nhiều người năn nỉ.
Amanda sống trong một ngôi nhà một tầng, sơn trắng, đồ đạc nội thất trông giống như trong những bộ phim sitcom dài tập kiểu Everybody Loves Raymond (Ai cũng thích Raymond). Đó là một ngôi nhà kiểu Mỹ dễ chịu với màu nâu, be chủ đạo, khu vườn sáng sủa phía sau nhà có một bể bơi nhỏ xíu hình tròn. Bố cô, ông Gerry Steele, ra mở cửa. Ông đi chân trần, mặc một chiếc áo phông và chiếc quần soóc rộng. Trông ông giống Mark Harmon, nam diễn viên đóng vai ông bố dượng ngớ ngẩn trong bộ phim Freaky Friday (Thứ Sáu Kỳ Dị) (phiên bản năm 2003, với sự tham gia của Lindsay Lohan). Ông cho biết ông là một giáo viên lịch sử bậc trung học, còn mẹ của Amanda là một luật sư, hiện đang đi làm.
“Nó luôn có xu hướng như vậy,” ông nói về Amanda, “dù khi nó còn rất nhỏ.” Ông lấy từ trên tường xuống một bức ảnh được lồng khung chụp Amanda khi cô lên tám, rất hãnh diện khoe với tôi. Trong bức ảnh, cô ấy mặc đồng phục của đội tuyển và đang ném một trái bóng mềm, gương mặt cô đầy quyết tâm, những vệt mồ hôi lăn dưới khóe mắt. “Đây là bức ảnh của nó mà tôi rất thích,” ông nói.
“Bây giờ,” ông nói trong lúc cẩn thận đặt khung hình trở lại vị trí cũ, “Tôi nghĩ rằng, cô không hình dung được đế chế của nó đã lan mạnh cỡ nào đâu. Mọi thứ con bé chạm vào đều biến thành vàng. Để tôi nói cô biết, người hâm mộ của nó còn nhận ra cả tôi. Chúng nó muốn xin chữ ký của tôi. Chúng nói, ‘Bố của Amanda kìa,’” Ông cười khúc khích.
Amanda đang ngồi chờ bố cô nói hết. Cô cười mỉm. Cô có dáng người mảnh khảnh, mái tóc đen ngang vai, và đôi mắt màu xanh da trời nhạt. Cô mặc chiếc quần soóc màu đen, một chiếc áo ngắn màu đen, và một chiếc áo khoác nhẹ dáng kimono với những hoa văn tối màu, trông như những cánh bướm. Tay cô có những chiếc móng dài, sơn màu xanh cô-ban. Nước da cô màu trắng sữa (mà MTVcom đã từng đăng bài ‘Bí quyết để có làn da như Amanda Steele’), gương mặt được trang điểm kỹ lưỡng. Cô không hề toát lên cái vẻ nhí nhảnh thường thấy trên những video YouTube, cô trông đĩnh đạc đến mức khó tin.
“Disney,” bố cô nói tiếp, “đã trả thêm rất nhiều tiền để nó đăng tải đoạn quảng cáo của nó lên YouTube chứ không phải trên tivi, điều đó cho thấy họ nghĩ rằng họ sẽ kiếm được bộn tiền từ mạng xã hội. Cô biết không, có những đứa trẻ nổi tiếng trên tivi đang rất muốn thâm nhập vào thế giới mạng xã hội. Tôi đang thấy một sự biến chuyển lớn, mọi thứ đang hướng đến mạng xã hội,” ông nói với sự hào hứng của một người thích thú khi thấy những biến động mang tính lịch sử.
“Khi là một người dùng YouTube,” Amanda nói, cố tham gia vào cuộc trò chuyện, “việc kết nối với người hâm mộ sẽ rất khác…”
“Nó có tính tương tác,” bố cô xen lời, “vì mọi người có thể bình luận…”
“Họ cũng sẽ cảm giác như họ là người bạn thân nhất của mình vậy,” Amanda giải thích. “Tôi nghĩ đó là lý do tại sao nhiều người đến những buổi gặp offline đến thế” – nghĩa là những sự kiện nơi những người hâm mộ có thể gặp thần tượng trên mạng của mình, thường được tổ chức ở các trung tâm mua sắm. “Họ cảm thấy họ rất thân quen với tôi.”
Tôi hỏi cô mọi thứ bắt đầu vào lúc nào.
“Khoảng hơn một năm trước,” cô nói. “Tôi ký với Big Frame, mạng lưới của tôi,” một mạng lưới đa kênh YouTube tập hợp những người nổi tiếng trên YouTube và những nhà quảng cáo để hợp tác vì lợi ích kinh tế chung; năm 2014, ban truyền thông số của DreamWorks Animation đã mua lại mạng lưới này. Big Frame quản lý Tyler Oakley và những siêu sao trực tuyến khác.
Amanda nói, “Tôi có một người quản lý ở đó…” “Mọi chuyện là thế này,” bố cô ngắt lời. “Khi nó bắt đầu với công ty đại diện này khoảng một năm trước, nó có khoảng 100 ngàn người theo dõi trên YouTube, bây giờ nó có 1,5 triệu người.” Vào cuối năm 2015, con số có thể lên tới 2,7 triệu người. “Là của nó cả. Nếu ký với những bên khác – Invisalign, Disney, Kohl’s – thì đại lý sẽ được trích phần trăm. Bây giờ có những đại lý chỉ dành cho YouTube. Tôi cho rằng sự thành công của nó đến từ một thứ rất đa chiều – nó rất thông minh, xinh đẹp, và nó rất giỏi khi đứng trước ống kính. Mọi thứ với nó đều rất đúng lúc, như thể được các ngôi sao phù trợ. Cô biết đấy, bọn con gái tuổi nó có thể rất thô tục, nhưng Amanda được yêu quý vì hầu hết con người nó. Nó biết nói gì, và không nên nói gì. Và mọi thứ như bùng nổ, cứ thế tăng lên theo cấp số nhân.”
Ông Gerry cho tôi xem một đoạn video trên điện thoại của ông quay cảnh một hàng dài các cô gái đang đứng xếp hàng chờ Amanda ở một trung tâm thương mại ở California. Ông xem lại đoạn phim ấy với sự hào hứng kèm chút đăm chiêu.
“Mấy đơn vị quảng cáo đều muốn nó làm việc cùng,” ông nói. “Ngày nào chúng tôi cũng nhận được hai đến ba hộp đồ, mấy công ty cứ gửi đồ cho nó, hy vọng nó sẽ nhắc đến tên những sản phẩm ấy trong những video của mình trên Instagram. Tôi luôn nói rằng Amanda có tất cả những gì mấy cô gái trẻ mơ ước, tất cả áo váy và đồ trang điểm trên cuộc đời này…”
Amanda mím môi. Bố cô vẫn tiếp tục nói.
“Bố có thể ra đây được không?”, cô nói, ra hiệu cho bố cô bước ra phía ngoài.
Giọng cô vọng qua cánh cửa: “Bố thậm chí không biết bố đang nói về điều gì. Bố không liên quan đến chuyện này… Bố có thể không nói nữa được không?”
----------
YouTube
Một “beauty-guru” là gì? “Beauty-guru” là để chỉ một cô gái hoặc phụ nữ trẻ hướng dẫn các cô gái và phụ nữ trẻ khác cách trang điểm. Cô ấy sẽ tư vấn về các xu hướng thời trang và cách làm tóc. Cô ấy gợi ý các sản phẩm làm đẹp, thường là những sản phẩm mà cô ấy được người ta trả tiền để giới thiệu. Cô ấy thỉnh thoảng chia sẻ những gì xảy ra trong cuộc sống của mình và nói về những lo lắng về vẻ bề ngoài. Cô ấy còn nói về áp lực phải xinh đẹp đã khiến cô mất tự tin thế nào. Và đáp án cho những vấn đề như vậy luôn là: trông đẹp hơn, xinh hơn, vì điều đó sẽ khiến bạn tự tin hơn và cảm thấy tốt hơn.
Trong nền văn hóa của sắc đẹp, khái niệm này được gọi là: “liệu pháp sắc đẹp.” Một beauty-guru là một kiểu nhà trị liệu sắc đẹp, sống trong một chiếc máy tính, cô ấy như một người bạn gái, chị gái am hiểu về cách làm đẹp, và luôn vui vẻ không ngừng. “Họ tỏ ra rất tốt bụng và nhiệt tình,” Victoria – cô gái ở Montclair nói. Và họ luôn xinh đẹp.
Những beauty-guru rất phổ biến đối với các cô gái Mỹ. Năm 2015, có hơn 180.000 cô gái thế này trên YouTube, đăng lên hàng triệu các video hướng dẫn. Những người thành công nhất có hàng triệu người theo dõi trên kênh của mình. Họ như những phiên bản sống của những trang “chia sẻ bí quyết” trên các tạp chí dành cho phụ nữ trong hơn một thế kỷ qua (từ những năm 1850, Tạp chí The Englishwoman’s Domestic Magazine đã chỉ dẫn phụ nữ cách để trông hợp thời trang). Sự hiện diện của những beauty-guru trên YouTube – kênh truyền thông có sức lan tỏa rộng nhất trong thời kỳ hiện đại với hơn một tỷ người dùng – nhiều hơn so với bất cứ một người phụ nữ nổi tiếng nào trên YouTube trong một vai trò nào đó. Có những nhà hài kịch là phụ nữ, rồi ca sĩ, diễn viên, các nhà hoạt động, những người truyền bá chủ nghĩa nữ quyền, và nhiều vai trò khác nữa. Họ đăng tải nội dung lên trang này, nhưng những beauty- guru vượt xa họ về số lượng cũng như số lượt xem.
Beauty-guru xuất hiện lần đầu không lâu sau sự ra đời của YouTube vào năm 2005. Một trong những cô gái đầu tiên có người theo dõi là Michelle Phan, lúc đó là một cô gái 20 tuổi sống ở thành phố Tampa. Vào năm 2007, cô đăng lên một đoạn video dài 7 phút với tiêu đề “Hướng dẫn cách trang điểm tự nhiên”. Trong đó, cô nhìn chằm chằm vào ống kính khi cô thực hiện cách dùng kem che khuyết điểm và kem nền trên nền nhạc nhẹ nhàng mà các trung tâm chăm sóc sắc đẹp hay bật. Cho tới nay, Phan đã có hơn một tỉ lượt xem trên YouTube và đã có được sự nổi tiếng và gia tài lớn, cũng chính là sự hứa hẹn của một giấc mơ Mỹ thông qua mạng xã hội: cô ấy sở hữu một dòng sản phẩm L’Oréal riêng (em), một công ty sản xuất hàng dùng thử cho các sản phẩm làm đẹp (tên là Ipsy, với mức doanh thu lên tới 120 triệu đô la Mỹ trong năm 2015), và một mạng lưới những người giỏi mạng xã hội (Icon). Năm 2015, Forbes đã xếp cô trong danh sách “30 Under 30 – Art & Style” – danh sách 30 người xuất sắc dưới 30 tuổi trong lĩnh vực Nghệ thuật và Phong cách, ghi nhận những người “đang tạo ra và thiết kế nên tương lai, từ đường phố đến sàn diễn.
Nhưng Phan có phải là một người theo chủ nghĩa nữ quyền không? Trong một thời khắc văn hóa, dường như đây là một câu hỏi khiến cho bất cứ một nữ ngôi sao nào cũng đứng ngồi không yên (Taylor Swift, Miley Cyrus, Ellen Page, Shailene Woodley, Meghan Trainor, Kelly Clarkson – có, có, có và không, không, không), Phan nói không. “Tôi không tin vào việc đưa chính trị vào một ý tưởng nào đó, giống như chủ nghĩa nữ quyền,” cô chia sẻ trên Cosmopolitancom vào năm 2015. “Tôi thích ý tưởng rằng phụ nữ cần được tôn vinh, nhưng tôi nghĩ rằng đàn ông cũng xứng đáng được như vậy.”
Một bài đăng trên Seventeencom tranh luận rằng có vẻ là “ngốc nghếch” khi Phan đã gieo vào mọi người một khái niệm nhầm lẫn rằng “chủ nghĩa nữ quyền có nghĩa là hạ thấp đàn ông,” tuy nhiên, cô ấy vẫn là một nguồn cảm hứng cho chủ nghĩa nữ quyền vì cô là một “người phụ nữ thành công khi đi theo tiếng gọi của ước mơ.” Trong khái niệm thường được biết đến về chủ nghĩa nữ quyền, một người phụ nữ là một người nữ quyền đơn giản là khi cô ấy thành công trong sự nghiệp của mình.
Không chỗ nào trên Seventeencom, và hầu như không bài viết nào xoay quanh chủ nghĩa nữ quyền đưa ra câu hỏi về việc liệu sử dụng mỹ phẩm để làm đẹp có đi ngược lại với chủ nghĩa nữ quyền hay không. Liệu việc một phụ nữ kiếm sống bằng việc chỉ cho những phụ nữ khác bí quyết có “cặp lông mày hoàn hảo” và làm đầy môi, đang làm việc trong một công ty phản đối chủ nghĩa nữ quyền, có phải là một điều đáng lưu tâm, nhất là khi việc đó khiến cô ấy giàu có và nổi tiếng.
Những người theo chủ nghĩa nữ quyền ủng hộ những áp lực của truyền thông đối với vẻ đẹp cũng bảo vệ mong muốn của người phụ nữ với việc làm đẹp mình hơn nhờ sự trợ giúp của mỹ phẩm, phẫu thuật thẩm mỹ hay bất cứ hình thức nào mà họ lựa chọn.
Đây là một thay đổi so với những ngày sơ khai của chủ nghĩa nữ quyền, khi những người theo chủ nghĩa này hoài nghi về giá trị và quyền năng của sắc đẹp. Năm 1968, hàng trăm người ủng hộ nữ quyền đã đi xe buýt tới thành phố Atlantic để phản đối chống lại cuộc thi Hoa hậu Mỹ, vì họ cho rằng cuộc thi này chỉ mang tính phân biệt giới tính khi đánh giá vẻ ngoài của người phụ nữ. “Đây là một sự kiện mang tính sỉ nhục và đánh một dấu mốc vào lịch sử nước Mỹ, một dấu mốc đã bị lờ đi từ những năm 1960 nói chung, và từ năm 1968 nói riêng trở về trước,” Susan J. Douglas đã ghi lại trong cuốn Where the Girls Are: Growing Up Female with the Mass Media (Nơi chốn của các cô gái: Trưởng thành cùng Truyền thông đại chúng). Những người phụ nữ tham gia vào cuộc biểu tình này phản đối những giá trị mà những cuộc thi sắc đẹp quảng bá, họ phản đối phụ nữ, họ đưa ra những tiêu chuẩn không thực tế và cứng nhắc về cái đẹp.
Một sự kiện khôi hài đã xảy ra khi những người biểu tình dựng lên một “Thùng Rác Tự Do” và ném vào đó những vật được coi là tượng trưng cho sự đàn áp phụ nữ, như giày cao gót, túi nilon, dây nịt, lông mi giả, đồ trang điểm và áo lót (sự kiện này là nơi phát sinh ra truyền thuyết trong giới truyền thông rằng những người nữ quyền đã “đốt áo lót của mình”). Trong đoạn phim tài liệu của PBS mang tên Miss America (Hoa hậu Mỹ), Gloria Steinem đã phản ánh về quan điểm của những người theo chủ nghĩa nữ quyền rằng những cuộc thi sắc đẹp đang tượng trưng cho việc các nhóm người yếu thế trong xã hội phải ganh đua để “Giành được uy quyền. Vì thế, nếu không phải là một cuộc thi sắc đẹp, thì cái gì có thể là một ví dụ điển hình hơn?”
Cuốn sách của Naomi Wolf mang tên The Beauty Myth: How Images of Beauty Are Used Against Women (Sắc đẹp & câu chuyện hoang đường: Những hình ảnh về cái đẹp được dùng để chống lại phụ nữ), được xuất bản vào năm 1991 đã nói rõ hơn về quan điểm này. Wolf nhận thấy, cùng với những áp lực gia tăng khiến phụ nữ thấy mình phải đẹp, là phản ứng đi ngược lại với chủ nghĩa nữ quyền. Bà cho rằng, phái nữ đã giành được nhiều quyền lực chính trị và xã hội hơn, đồng nghĩa với việc những yêu cầu về “cái đẹp” có thể làm yếu đi quyền lực của người phụ nữ. “Phụ nữ vượt qua càng nhiều trở ngại về pháp lý và vật chất, thì những hình ảnh về sắc đẹp phái nữ càng gây những áp lực nặng nề hơn, cay nghiệt hơn,” bà viết. “Trong suốt thập kỷ qua, phụ nữ đã bứt phá trên những nấc thang quyền lực, nhưng đồng thời, chứng rối loạn ăn uống là một vấn đề ngày càng nổi cộm, và phẫu thuật thẩm mỹ đã trở thành ngành tăng trưởng nhanh nhất… Và 33 ngàn phụ nữ Mỹ chia sẻ với những nhà nghiên cứu rằng họ thà giảm được 5 đến 10 cân hơn là đạt được bất cứ thành tựu nào khác… Chưa bao giờ, số lượng phụ nữ giàu có, uy quyền, hiểu biết, và được ghi nhận lại nhiều như vậy, nhưng nếu nói đến cảm giác của chúng ta về vẻ bề ngoài của mình, thì có lẽ chúng ta đã thua thế hệ đi trước, dù ở đời ông bà chúng ta, phụ nữ còn chưa được giải phóng.”
Cuốn sách của Naomi Wolf đã nhận được chỉ trích từ những người phụ nữ da màu vì nó không thể hiện được những vấn đề về hình thể và phân biệt chủng tộc. Jeannie Amber, một phóng viên hỗ trợ tờ Essence cho rằng, “Mọi người đều đồng lòng cho rằng cuốn sách của Wolf đã không nhận ra vấn đề, rằng những người phụ nữ da màu cũng đang chịu chung một trận chiến không kém phần căng thẳng, nhưng những tiêu chuẩn về cái đẹp lại rất khác.” Nhiều người theo chủ nghĩa nữ quyền khác thuộc những năm 1990 cũng phản đối bài viết của Wolf, nhưng theo những lập luận khác. Những người theo trường phái “nữ tính” cho rằng cái đẹp chính là sức mạnh của phái nữ. Cái đẹp chính là cách để phụ nữ bộc lộ bản thân mình, và cái đẹp là hiện thân của sự tự do chứ không phải của sự đàn áp, thực tế, ta có thể coi cái đẹp chính là cách phụ nữ tự bày tỏ quan điểm của mình, theo đó phụ nữ có quyền tự nhìn nhận sự nữ tính của mình thông qua cái đẹp. Cách người phụ nữ lựa chọn trang phục, và việc họ có sử dụng các sản phẩm làm đẹp hay không là do họ tự quyết định, và không phải theo sự kiểm soát mang tính áp đặt nào.
Làn sóng thứ ba của nữ quyền về cái đẹp ảnh hưởng rõ rệt đến thái độ của những cô gái tôi phỏng vấn ở cuộc thi sắc đẹp Miss Houston Teen – Hoa khôi tuổi Teen Houston – và Miss Houston – Hoa hậu Houston – vào mùa xuân năm 2014. Khi tôi hỏi những thí sinh cuộc thi hoa khôi, tuổi từ 14 đến 18 về lý do họ tham gia cuộc thi này, hầu hết họ đều nói rằng vì nó khiến họ cảm thấy họ có thêm sức mạnh. Họ nói về cảm giác mà các cuộc thi sắc đẹp mang lại cho họ như thể một câu thần chú: “Trên sân khấu tôi mạnh mẽ hơn”. “Tôi thấy mình không là gì cả cho tới khi tôi đi thi sắc đẹp.” “Cuộc thi này đã cứu vớt tôi.” Bri (tên thật của cô, tôi đã được sự cho phép dùng tên cô cũng như những thí sinh khác trong cuộc thi này), lúc đó cô 16 tuổi, cô nói, “Khi lớn lên, tôi luôn cảm thấy mình béo. Tôi luôn cảm thấy mình không đủ xinh đẹp, và… [tham gia thi sắc đẹp] đã giúp đỡ tôi. Những cuộc thi thế này khiến mọi người tự tin hơn. Khiến ta cảm thấy mình như một cô công chúa trên sân khấu.” Taylor, lúc đó 17 tuổi, một thí sinh cuộc thi Hoa khôi tuổi Teen Houston cho biết, cô đã từng bị dọa nạt ở trên mạng và ở trường trung học. Việc tham gia những cuộc thi sắc đẹp đã khiến cô thêm “tự tin”. “Chúng nó nói đầu tôi quá to so với thân thể nên chúng gọi tôi là con búp bê Bratz,” Taylor vừa nói vừa cười lớn. “Có một lần tôi nhận được một tin nhắn dài ngoằng trên Facebook chỉ nói về việc tôi xấu xí thế nào, kẽ răng của tôi to ra sao, rằng tôi sẽ chẳng đạt được gì ý nghĩa trong cuộc đời này và không xứng với ai cả.” Hầu như tất cả những thí sinh mà tôi nói chuyện cùng đều đã trải qua một việc gì đó gây tổn thương trong quá khứ (trong đó có một cô gái 21 tuổi, nói rằng cô ấy từng bị bạn trai đánh), vậy mà chỉ việc trở nên “xinh đẹp” và “trông như một công chúa” trên sân khấu đã giúp họ vượt qua tất cả.
Việc gắn liền sắc đẹp với sức mạnh nữ giới thực ra đã là một phần trong chiến dịch marketing của những cuộc thi sắc đẹp trong nhiều thập kỷ qua. Sau làn sóng phê bình chủ nghĩa nữ quyền những năm 1960, các cuộc thi sắc đẹp gần như bị buộc phải thay đổi cách làm thương hiệu của mình. Thi sắc đẹp là phân biệt giới tính ư? Không phải vậy, thực ra phải là ngược lại với phân biệt giới tính, những cuộc thi này trao quyền cho phái nữ, thông điệp mới của những cuộc thi phái đẹp nói vậy. Câu khẩu hiệu của cuộc thi Hoa hậu Mỹ hiện là “Phong cách, Vì cộng đồng, Học bổng và Thành công.” Ý tứ của nó nhấn mạnh rằng việc tham gia những cuộc thi sắc đẹp thế này sẽ giúp các cô gái và phụ nữ trẻ sẵn sàng hơn để bước vào thế giới kinh doanh. “Người ta gọi cô ấy là một nữ hoàng sắc đẹp, chúng tôi gọi cô ấy là một học giả,” một quảng cáo gây quỹ của cuộc thi đã viết như vậy.
Susan J. Douglas, một tác giả và một giáo sư ngành Nghiên cứu giao tiếp tại trường Đại học Michigan nói, “Tôi cho rằng trong những năm 90, nhiều nhà quảng cáo cho những doanh nghiệp Mỹ đã tận dụng phong trào ‘sức mạnh nữ giới’ của làn sóng thứ ba. Họ đã tận dụng những khao khát của người phụ nữ muốn có quan điểm bình đẳng với nam giới, và họ khai thác triệt để mong muốn đó. Họ đưa ra ý tưởng ‘thể hiện giới tính, thể hiện sức mạnh’ và truyền bá quan điểm này tới những phụ nữ trẻ.”
Phong cách thời trang bộc lộ nữ tính là một cách thể hiện sức mạnh nữ giới – tư tưởng này cũng có thể thấy trong cuộc tranh luận về quy định trang phục của các trường học Mỹ. 2014 là năm đánh dấu một “trận chiến” về vấn đề quy định trang phục khắp cả nước, ở Illinois, Iowa, New York, California, Utah, Texas và các bang khác, các nữ sinh biểu tình chống lại việc cấm các trang phục như áo bó ngắn, quần yoga, và quần soóc ngắn tới mông; và các cô cho rằng điều này mang tính phân biệt chủng tộc. Các cô gái còn đưa ra một hashtag riêng dành cho sự việc này - #iammorethanadistraction – tôi không phải là một trò tiêu khiển – mà họ sử dụng trong các bài đăng trên Twitter để thể hiện sự giận dữ khi bị bắt phải mặc gì, nhất là khi bọn con trai không chịu những hạn chế tương tự. Hashtag này liên quan đến sự việc mà một vài trường học đã cho rằng trang phục của các cô gái trong trường khiến cho các nam sinh bị xao lãng, như thể họ ưu tiên đến quyền của con trai nhiều hơn.
Beatriz Bellido-Guevara, học sinh một trường trung học ở Montclair, đã viết một lá thư tới Thời báo Montclair để lên án sự “xúc phạm giới tính” của các cô gái mà những quy định trang phục này thể hiện. “Tại sao các trường học không làm gì đó để dừng sự phân biệt giới tính và văn hóa cưỡng bức này lại, thay vì sỉ nhục con gái và cho rằng họ hư hỏng vì hình thể của họ?”, cô hỏi. Đó là một luận điểm mạnh, và cũng là một ví dụ thể hiện những lập trường phức tạp trong những tranh luận về bình quyền. Các cô gái cho rằng họ đã bị xúc phạm đến giới tính nhưng khi họ tự biến mình thành một đối tượng như vậy, thì có người lại gọi đó là thể hiện nữ quyền, hoặc là chối bỏ rằng mình đã tự làm vậy, và đưa ra thứ gọi là sự sỉ nhục và một ví dụ của văn hóa cưỡng bức. Vấn đề này giống như một chiếc cửa cuốn rỉ sét. Một bài báo về những động thái biểu tình phản đối những quy định hạn chế về trang phục trên tờ The Nation đã chỉ ra rằng báo cáo của APA năm 2007 nghiên cứu về sự xúc phạm giới tính với nữ giới đã đồng quan điểm rằng những quy định hạn chế về trang phục là xúc phạm giới tính, phần báo cáo viết cụ thể như sau, “Việc xúc phạm giới tính xảy ra khi giá trị của một cá nhân chỉ dựa trên sự hấp dẫn và hành vi giới tính của người đó, mà không tính đến những yếu tố khác.’”
Những sắc thái của tranh luận này thường không được phụ huynh biết tới, nhất là những bà mẹ ủng hộ quan điểm rằng con gái họ có thể mặc bất cứ thứ gì mình muốn như là một biểu hiện chính đáng quyền của một người phụ nữ trẻ bình đẳng. Một bà mẹ của một cô gái 14 tuổi ở Brooklyn nói với tôi rằng, “Ở trường trung học của chúng tôi có tổ chức một buổi họp phụ huynh về quy định trang phục, và một bà mẹ phát biểu ‘Mọi người đang xúc phạm giới tính đến những cô gái này.’ Nhà trường nói ‘Nghe này, có những nữ sinh mặc áo sơ mi và quần tất đi học – không phải quần legging, mà là quần tất – loại quần mà bạn có thể nhìn rõ đồ lót bên trong. Liệu chúng ta có thể coi đó là một sự lựa chọn tốt cho chúng được không?’” Và khi bàn về việc gây xao lãng, báo cáo APA cũng chỉ ra kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy những trang phục quá gợi cảm của phụ nữ có thể là một lý do gây xao lãng cho chính những người mặc chúng, thậm chí ngăn cản chức năng nhận thức của họ.
Và không phải cô gái nào cũng thấy dễ chịu khi nhìn những trang phục hở hang mà những bạn gái khác mặc đến trường, chưa kể đến sự khó chịu của chính những cô gái đang mặc những bộ trang phục ấy, điều mà thường không được bàn tới. Một cô gái 15 tuổi ở New York chia sẻ, “Tôi thực sự khó chịu khi tất cả những gì mình nhìn thấy khi đi lên cầu thang là mông.”
Thực tế là việc kiểm soát phong cách ăn mặc của phụ nữ lâu nay đều là theo một cơ chế áp đặt, từ những chiếc áo nịt ngực khung sắt chật đến khó thở, đến chiếc mạng che mặt (theo quan điểm của nhiều người). Và thực tế cũng cho thấy rằng nhiều giáo viên và nhân viên trường học trên khắp đất nước đã lạm quyền để phạt và sỉ nhục các học sinh nữ về cách ăn mặc theo những cách thể hiện sự phân biệt giới tính và không thể chấp nhận được. Đã có báo cáo về những vụ nhân viên trường học bắt học sinh nữ ra khỏi lớp và bị bắt về nhà, thậm chí đình chỉ học tập vì cách ăn mặc, cũng như đưa ra những bình luận không phù hợp về hình thể và bề ngoài của học sinh. Lấy trường hợp của một học sinh trung học cơ sở ở Batavia, Ohio là một ví dụ để thấy được điều gì đang ẩn sau những quy định về trang phục ở trường học. Trong bức ảnh chụp tập thể lớp học, chiếc áo phông được cho là “nữ tính” của em đã bị photoshop khỏi bức ảnh (sau khi học sinh và mẹ của học sinh lên tiếng, hiệu trưởng nhà trường đã xin lỗi). Thật đáng khâm phục khi các cô gái sau dùng biểu tình để thể hiện sự giận dữ sau những sự việc thế này. (Sophie Thomas – cô gái có chiếc áo “nữ tính” – đã thực hiện một chiến dịch trên Twitter.) Nhưng thật là lạ khi nhiều cô gái coi những quy định về trang phục này là thành tâm điểm của những hoạt động thể hiện nữ quyền trong khi còn nhiều vấn đề khác họ đang phải đối mặt.
Soraya Chemaly, một diễn giả tại nhiều trường học, cho biết, “Bất cứ nơi nào tôi đến, nữ sinh đều muốn nói về quy định trang phục. Tôi nói với họ rằng, đây chỉ là phần kem trên một chiếc bánh. Hoàn toàn bình thường nếu các bạn có thể đối mặt với nhân viên trong trường và cố gắng tạo ra những quy phạm mới. Nhưng nếu những quy định trang phục của nhà trường là bất bình đẳng về giới tính và cứng nhắc, điều đó có nghĩa là có thể có những việc quan trọng hơn đang diễn ra trong trường. Quy định về trang phục như vậy là không công bằng giữa hai giới tính, nhưng đó có thể là dấu hiệu của những việc khác đang diễn ra trong cộng đồng trường học.”
Những việc khác có lẽ là những điều mà các cô gái ngại ngần khi phản đối một cách công khai hay trong các cuộc biểu tình, vì nếu bị buộc tội làm những điều này thì hậu quả còn nghiêm trọng hơn rất nhiều: chẳng hạn như, các trang đen trong trường học, bị quấy rối tình dục ở trường, vì bị các bạn trai và các bạn gái khác sỉ nhục trên các trang mạng xã hội. Các quy định về trang phục, kỳ lạ thay, lại là một đề tài an toàn để các cô gái thể hiện quan điểm về nữ quyền.
Chemaly cho biết, “Tôi chia sẻ với họ một ví dụ về các cô gái nghe từ hiệu trưởng của mình rằng ông ta e ngại mọi người sẽ nhầm tưởng các cô là ‘gái làm tiền’ nếu như các cô mặc quần soóc khi đi dã ngoại cùng lớp.
Tôi nói ‘Vậy thì, các bạn đã làm gì để các học sinh nam tham gia vào vấn đề này? Tất cả các bạn trai có thể mặc quần soóc cùng các bạn.’ Vấn đề là, mặc dù các nam sinh không bị trách móc vì những quy định này, nhưng họ lại được ưu tiên trong chính sách ấy. Tuy vậy, không một bạn gái nào lên tiếng về việc liệu các học sinh nam có cần chịu trách nhiệm với những gì đang diễn ra với các bạn nữ đồng lứa với họ hay không. Những bạn nữ cảm thấy những vấn đề này không liên quan gì đến các bạn trai cả, và điều đó là không đúng.”
Và việc các cô gái bị xúc phạm giới tính không chỉ thể hiện trong những quy định trang phục. Theo báo cáo APA, trong số nhiều kênh thông tin, việc này có thể thấy trong ngành thời trang, làm đẹp, trên thông tin truyền thông, trên mạng Internet. Ta có thể thấy việc đó trong thái độ của những bậc phụ huynh khi “thường xuyên” nhắc đến chuyện “béo mập” khi nói chuyện với con gái mình, và luôn tỏ ra “vô cùng lo ngại” về vẻ bề ngoài của chúng. Việc đó còn đến từ giáo viên, và những người trưởng thành khác, và đôi lúc là cả bạn bè cùng lứa.
Trong khi đó, việc này đã không ngừng gây những ảnh hưởng xấu lên một lượng lớn nữ sinh. Chứng rối loạn ăn uống đã tăng lên đáng kể từ những năm 1950, và cho tới nay đã ảnh hưởng đến tất cả các chủng tộc. Theo Hội Rối loạn ăn uống Quốc gia, 40-60% các cô gái độ tuổi từ 6 đến 12 lo lắng về cân nặng của mình và lo sợ việc quá cân, và nỗi lo này sẽ còn tồn tại trong suốt cuộc đời người phụ nữ của họ. Quá nửa số các cô gái vị thành niên sử dụng những phương pháp giảm cân không khoa học như bỏ bữa, nôn đồ ăn ra, uống thuốc xổ, và bỏ đói. Một nghiên cứu được thực hiện năm 2014 bởi những nhà nghiên cứu tại Đại học bang Florida đã cho thấy mối liên quan giữa nguy cơ rối loạn ăn uống của nữ sinh đại học và thời gian họ dành cho Facebook, nơi tập trung các yếu tố dễ gây ảnh hưởng như các thông tin truyền thông và áp lực từ bạn bè đồng lứa.
Mức độ lo lắng và tính trầm cảm của các cô gái tuổi vị thành niên cũng đang gia tăng trong thời gian qua, điều này liên quan đến mức độ sử dụng mạng xã hội và các nội dung mang tính gợi dục. Năm 2014, theo một bản tổng kết của 19 nghiên cứu được thực hiện ở 12 quốc gia công nghiệp khác nhau, những cô gái vị thành niên trên khắp thế giới đang chịu đựng cảm giác lo lắng và trầm cảm do “kỳ vọng quá lớn ở phái nữ về hình thể và cân nặng”, cũng như các yếu tố khác. “Rõ ràng là sự lo lắng và áp lực mà các cô gái đang gánh chịu có thể nói là nhiều gấp đôi so với các chàng trai,” phát biểu của William Bor - trưởng nhóm nghiên cứu – chuyên gia tâm lý trẻ em thuộc trường Đại học Queensland... Nhà tâm lý học Elian Fink – tác giả chính của nghiên cứu – cho biết, “Chúng tôi rất ngạc nhiên khi chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ trong những vấn đề tâm lý của nữ giới trong một khoảng thời gian tương đối ngắn.” Điều này có thể liên quan đến thực tế là phần lớn các cô gái đều sở hữu điện thoại thông minh trong năm năm qua.
Đối với nhiều cô gái, việc kiếm tìm những lượt “like” và sự chú ý trên mạng xã hội cũng giống như một thí sinh trong một cuộc thi sắc đẹp không bao giờ có hồi kết, trong cuộc thi ấy, họ luôn phải biểu diễn để làm hài lòng những vị giám khảo ngày càng đòi hỏi nhiều hơn. Bởi lẽ giờ đây, chỉ xinh thôi là chưa đủ, kể cả đẹp về tâm hồn cũng vẫn là chưa đủ, các cô gái và phụ nữ cần phải “hoàn hảo,” “không tì vết”. Trong những năm 2000, những công ty chuyên về các sản phẩm làm đẹp bắt đầu quảng bá những sản phẩm giúp phụ nữ “không tì vết” và “hoàn hảo”. Max Factor, Laura Mercier, babeMinerals, Avon, Pond’s, và hàng chục những thương hiệu làm đẹp khác giờ đây đều bán những sản phẩm có chữ “hoàn hảo” và “không tì vết” trong tên gọi. Đây là một xu hướng marketing được dùng đi dùng lại trong thế giới của các cô gái. Việc nhận xét một cô gái là “không tì vết” đã trở thành một cử chỉ ngoại giao, một câu khen thường gặp nhất, mà các cô gái nói với nhau – “#không_tì_vết”, các cô gái bình luận trên ảnh tự sướng của nhau. “Nếu tôi nhận được 1 đô la cho mỗi lần một ai đó bình luận là ‘bạn đẹp không tì vết’ trên những bức ảnh selfie trên Instagram của Kendall Jenner/ Shay Mitchell/ Selena Gomez, tôi sẽ có đủ tiền để mua một chiếc túi Birkin1,” một blogger tên Zara Husaini đã trêu đùa như vậy trên website của College Candy.
1. Một dòng sản phẩm của hãng Hermès.
Theo một khảo sát được thực hiện năm 2013, các cô gái bắt đầu trang điểm ở độ tuổi ngày càng trẻ hơn, khi các cô ở độ tuổi 8 đến 13. Cứ năm cô gái Mỹ được hỏi, thì có ba cô cảm thấy tiêu cực về vẻ bề ngoài của mình khi không trang điểm, chẳng hạn như cảm thấy không hấp dẫn, không tự tin, hoặc có cái gì đó “thiếu thiếu” trên mặt. Khi việc trang điểm vẫn chưa đủ để họ xua đi cảm giác thiếu hấp dẫn, có những người lại tìm đến phẫu thuật thẩm mỹ. Có hơn 220.000 ca phẫu thuật thẩm mỹ được thực hiện với những bệnh nhân từ 13 đến 19 tuổi trong năm 2013, và trong cùng năm đó, những bác sỹ phẫu thuật thẩm mỹ nhận thấy, những cô gái trẻ vị thành niên muốn “thay đổi gì đó” vì một lý do mới – để trông đẹp hơn trong những bức ảnh selfie. Học viện Phẫu thuật chỉnh sửa và Thẩm mỹ mặt Hoa Kỳ (AAFRS) đã báo cáo về sự gia tăng nhu cầu phẫu thuật thẩm mỹ ở những người vị thành niên do họ quan tâm nhiều hơn vào hình ảnh của họ trên mạng xã hội. “Những trang xã hội như Instagram, Snapchat, và ứng dụng Selfieim của iPhone thường có nền tảng là một trang chia sẻ hình ảnh, vì vậy chúng thúc ép người dùng soi xét hình ảnh của mình nhiều hơn và họ chưa bao giờ có cái nhìn khắt khe với chính mình như vậy,” Edward Farrior, chủ tịch AAFPRS, chia sẻ.
Để trở nên “không tì vết” và “hoàn hảo”, một bộ phận các cô gái tìm đến những beauty-guru. Nếu tìm những bài hướng dẫn được xem nhiều nhất, bạn sẽ thấy: “Vẻ đẹp không tì vết cho buổi hẹn đầu tiên với Lancôme và Michelle Phan.” “Tất cả về Không tì vết: 5 bước trang điểm bởi MakeupByMandy24 | COVERGIRL” với Amanda Steel. Và “Trang phục, Trang điểm và Kiểu tóc hoàn hảo để quay lại trường sau kỳ nghỉ!” với Bethany Mota.
Bronx, New York
“Chào các bạn!” Bethany Mota, còn được biết với cái tên Macbarbie07, nói, giọng sôi nổi.
“Ngay bây giờ đây tôi sẽ thực hiện một phần nữa trong loạt nội dung ‘Quay lại trường cùng Beth’, và nội dung của video hôm nay sẽ xoay quanh cách lựa chọn trang phục, trang điểm, và kiểu tóc hoàn hảo để bắt đầu năm học mới.”
“Tôi yêu Bethany Mota,” cô gái 14 tuổi, tên Jasmine nói.
Chúng tôi đang ngồi xem Bethany trên chiếc giường của Jasmine, khu nhà cô ở phía Đông công viên Crotona, vùng Nam Bronx.
“Tôi đang dùng phong cách trang điểm này mà tôi thực sự rất rất mê,” Bethany nói, trông vui vẻ, giọng cười khúc khích, “và có thể tôi sẽ trang điểm thế này hàng ngày… Trông rất xinh xắn và tôi rất thích nó. Nó khiến tôi thấy thật tuyệt.”
“Tôi yêu mọi thứ về cô ấy,” Jasmine nói trong chất giọng New York nhẹ nhàng.
Bài hướng dẫn này của Mota được đăng vào năm 2013 đã có hơn 3 triệu lượt xem. Trong đoạn video này, cô hướng dẫn các cô gái cách trang điểm thật phong cách để bắt đầu năm học mới, trong đó có nhắc đến các sản phẩm của Almay, Maybelline, CoverGirl, và L’Oréal. “Đương nhiên là chúng ta cần phấn rồi,” Mota nói, ngoáy ngoáy chiếc cọ quanh hai gò má. “Chúng ta không muốn đến trường với một gương mặt bóng dầu…”
“Tôi theo dõi cô ấy trên Instagram,” Jasmine nói. “Tôi thích xem tất cả những bài hướng dẫn của cô ấy.”
Jasmine là một cô gái Latinh với mái tóc đen thẳng dài, mắt đeo một cặp kính quá khổ. Cô mặc chiếc quần Jeans rách rất phong cách, một chiếc áo len hồng, và một chiếc băng-đô có cái tai mèo mà cô nói cô đã mua sau khi thấy Taylor Swift đeo một chiếc giống vậy trong một video ca nhạc. Cô thú nhận rằng mình là một cô gái “rất nữ tính” giống như Mota; phòng ngủ màu hồng của cô được trang trí bằng những búp bê Hello Kitty, không giống với căn phòng nữ tính nơi Mota quay những video hướng dẫn của cô.
“Tôi thích cô ấy vì chẳng ai nói xấu gì về cô ấy cả,” Jasmine nói. “Cô ấy là một tấm gương tốt. Cô ấy tốt bụng, dễ thương. Và sẽ thật tuyệt nếu tôi được gặp cô ấy.”
Dễ thương và tốt bụng là hai đặc tính cơ bản nhất về thương hiệu Mota. Trong video của mình, cô thường ca ngợi về những gì cô thích, dù là giày tennis, hay là màu móng tay, hoặc là chiếc nơ cài tóc, mà cô nói rằng cô “bị ám ảnh” với chúng vì chúng “dễ thương”, “nữ tính”, và “siêu đáng yêu”.
Jasmine nói, “Cô ấy, thế nào nhỉ, cô ấy không rẻ tiền.” Jasmine nói với tôi rằng cô ấy muốn thoát khỏi khu nhà ở này hơn bất cứ điều gì khác. “Về cơ bản, tôi đang bị giam cầm ở đây,” cô ấy nói, “vì mẹ tôi không cho tôi đi đâu cả vì quá nguy hiểm.” Sau chuyến ghé thăm tới phía Đông Công viên Crotona năm 1977, Tổng thống Jimmy Carter gọi nơi này là “khu ổ chuột tệ nhất của Mỹ”. Khu vực này đã bị phá hoại vào những năm 1970 bởi bạo lực, tội ác, và “trào lưu” thích đi đốt nhà người khác; và sau đó, những năm 1980, những ngôi nhà bị nứt. Với những tòa nhà bị đốt rụi và những khu đất trống, Crotona trở thành một ví dụ điển hình của một khu nông thôn tàn rụi. Khu này được điều hành bởi những băng đảng, những kẻ nguy hiểm, và những người nghèo. Đồng thời, đây cũng là nơi mà sự sáng tạo, nghệ thuật graffiti, âm nhạc và văn hóa hip hop thăng hoa.
Crotona ngày nay đã được xây dựng lại nhiều. Mọi người nói nó đã “bình tĩnh lại”, mà theo một vài người dân nơi đây, là do sự xuất hiện thường xuyên và không được chào đón của cảnh sát. Những chiếc xe cảnh sát màu xanh da trời pha trắng kéo còi đi dọc các khu nhà. Những con đường được dọn dẹp sạch sẽ trông đã đẹp đẽ trở lại, với khu căn hộ lớn được trang trí đầy nghệ thuật, và những dãy nhà nhỏ ấm cúng. Nhưng vẻ ngoài cũng có thể gây hiểu lầm. Năm 2013, Ủy ban Nhân dân vì trẻ em, một nhóm biện hộ cho trẻ em, đã gọi khu Nam Bronx – một trong những khu vực khó khăn nhất ở thành phố New York – là một em bé. Vào năm 2010, đây là quận nghèo nhất của cả nước, với 250 nghìn người sống trong nghèo khó. Theo US. Census, 49% trẻ em của vùng Nam Bronx năm đó sống trong nghèo khó.
Khi Mota trang điểm xong, trông cô như thể đã sẵn sàng bước trên thảm đỏ trong lễ trao giải Emmy, và như thể trường lớp đã bị cô cho vào quên lãng. Sau đó, cô ấy chỉ cách sử dụng các sản phẩm khác nữa, và một chiếc máy uốn tóc để tạo sóng cho mái tóc của cô. “Trông thật đáng yêu,” cô nói về mái tóc của chính cô trong khi nhìn chăm chú vào chiếc gương.
“Tôi không thể nào làm mái tóc đẹp vậy được,”
Jasmine nói, tay chạm vào mái tóc của mình. “Tóc tôi dày quá.”
Mota, một cô gái Latinh đến từ Los Banos, California, trở thành nhà sản xuất những nội dung về làm đẹp số một trên YouTube trong năm 2015, vượt qua nữ hoàng sắc đẹp trước đó Michelle Phan. Vào tuổi 19, giờ đây cô có 9 triệu người theo dõi và 25 triệu lượt xem mỗi tháng. Tạp chí Wall Street Journal đã lý giải sức hút của Mota với cách những “video của cô tập trung vào việc khuyến khích những người hâm mộ tuổi ‘teen’ tự tin hơn.” Buzzfeed gọi cô là “cô gái hàng xóm hoàn hảo.” Time đưa tên cô vào danh sách “Những người trẻ có sức ảnh hưởng của năm 2014.” Vào năm 2015, cô chụp một tấm ảnh selfie với Tổng thống Obama tại Nhà Trắng khi cô được mời tới đó cùng một nhóm những ngôi sao mạng xã hội khác.
“Một ngày nào đó tôi sẽ tới đó,” Jasmine nói. “Tôi sẽ nổi tiếng. Có thể là nhờ một chương trình truyền hình thực tế.” Cô nói cô cũng muốn trở thành một nhà thiết kế thời trang nữa. “Tôi nghĩ phong cách của tôi rất hay.”
Mota mặc đồ, một chiếc “váy dễ thương”, ngắn, in hình hoa, của Brandy Melville, một hãng thời trang của Ý, được nhiều cô gái yêu thích; dòng trang phục này đã bị nhiều trang truyền thông và các trang blog buộc tội là đã khuyến khích người ta cảm thấy “mặc cảm hình thể” với cách thiết kế kiểu “một cỡ vừa mọi dáng”, mà hóa ra chỉ phù hợp nhất với những cô gái thân hình mảnh mai.
Mota đã gọi chiếc áo cardigan Brandy Melville quá khổ của cô là “hoàn hảo… Tôi thực sự yêu chiếc áo này.”
“Tôi cũng yêu nó nữa,” Jasmine nói. “Tôi sẽ mặc nó. Và nó sẽ vừa với tôi.”
Mota bắt đầu thực hiện những bài vlog vào năm 2009, khi cô 13 tuổi, như là một lối thoát khỏi những vụ hăm dọa trên mạng mà cô gặp phải, cô nói rằng những lượt thích mà những video của cô nhận được khiến cô cảm thấy tốt hơn về mình. Những video lúc đầu cô đăng lên có nội dung “khoe hàng”, là những video mà các cô gái thường khoe về những gì họ mua được khi đi mua sắm, thường là đồ trang điểm và quần áo. “Tôi thấy thật là đáng yêu!” Mota nói trong một video kiểu như vậy vào năm 2014, tay cầm một váy họa tiết hoa hướng dương của hãng Forever 21. “Tôi yêu hoa hướng dương, đó là loài hoa yêu thích của tôi, thế nên khi tôi thấy chiếc váy này, tôi phải thốt lên ‘Ôi thật là đáng yêu.’”
Những video kiểu này xuất hiện trên YouTube vào năm 2007, cho đến năm 2010, đã có hơn 250.000 video như vậy trên trang này. Vào thời điểm mà truyền thông ngập tràn hình ảnh khoe khoang của những thương hiệu siêu sang và những lần mua sắm chỉ để khoe mẽ sự giàu có, một nghiên cứu cho thấy những khán giả của YouTube thích xem những video “khoe hàng” với những sản phẩm được giới thiệu có mức giá hợp lý, các món hàng “thời trang và làm đẹp có giá từ thấp đến trung” hơn là những sản phẩm sang trọng chỉ thấy trong những tạp chí thời trang như Teen Vogue.
“Tôi mua đồ trên mạng,” Jasmine nói. “Đó là nơi bạn có thể tìm thấy mọi thứ với giá rẻ.” Cô sống với người mẹ đơn thân của cô. Bố cô là một người đưa thư sống ở Brooklyn.
Sau khi nhận được sự theo dõi của mọi người với video “khoe hàng” của mình, Mota bắt đầu hướng dẫn làm đẹp và thời trang. Phong cách đặc trưng của cô là kiểu tự phản đối mình rất nữ tính, ví dụ như cô làm những vẻ mặt thể hiện cảm xúc, liếc mắt, hoặc gây chú ý tới những thứ rất “kỳ quặc” của mình. Cô giống như phiên bản “xì-tin” của những nữ diễn viên có bộ dạng xấu xí nhưng dễ thương mà bạn thường thấy trong những bộ phim hài lãng mạn, kiểu nhân vật cứ tự ngã chẳng vì lý do gì cả. Phong cách dễ gần, dễ kết nối, và cách nói chuyện nữ tính nhẹ nhàng của Mota đã được chứng mình là rất thu hút với những doanh nghiệp muốn tài trợ. Cô ấy kiếm được khoảng 500.000 – 700.000 đô la Mỹ hàng năm từ các hợp đồng quảng cáo. Cô còn có dòng thời trang của riêng cô với hãng Aéropostale.
Tôi hỏi Jasmine liệu cô có biết cô gái nào hành xử giống Mota, giống một cô gái hướng dẫn làm đẹp luôn nhí nhảnh và không hề nao núng, trong đời thực hay không. Cô cười và nói không. “Bạn sao có thể hành xử như vậy trong khu vực sống này được,” cô nói. “Mọi người sẽ nghĩ bạn quá ủy mị.” Trong khu vực sống này, cô nói, bạn phải mạnh mẽ. “Bạn phải cho mọi người thấy họ không thể trêu chọc bạn được.”
“Quá nhiều người bị giết, bị đi tù, buôn bán ma túy, và những thứ kiểu vậy,” Jasmine nói. “Có nhiều hoạt động băng đảng. Ở tòa nhà nơi bà tôi đang sống, có những người làm những trò bẩn thỉu trong sảnh. Có những người ngất đi khi kim tiêm vẫn đang cắm vào cánh tay họ. Tôi không được phép đi vào tòa nhà đó. Tôi thấy không an toàn khi thân gái đi lại một mình quanh khu nhà tôi. Tôi thấy sợ. Tôi chưa bao giờ đi bộ một mình quanh khu này.”
Trên màn hình máy tính của cô, Bethany Mota đang đi vào trường nhẹ như một cơn gió thoảng, cô đang mặc theo phong cách quay lại trường “hoàn hảo” của cô.
Theo dõi đoạn video của Mota cùng Jasmin khiến tôi nghĩ rằng, với những cô gái nghèo, việc xuất hiện nhan nhản những bức ảnh thể hiện tầm quan trọng của “cái đẹp” trên mạng xã hội có một lớp ý nghĩa khác, và một tầng áp lực khác. Đẹp thì phải tốn tiền. Khi Jasmine so sánh cô với Mota, và khả năng mà Mota có thể trông “không tì vết”, cô ấy không chỉ suy nghĩ về việc sẽ phải trang điểm ăn mặc thế nào, mà nó còn nhắc cô nhớ rằng không dễ dàng để cô có thể mua những đồ dùng cần thiết để có vẻ ngoài như vậy. Dù cho Mota có cố gắng thế nào khi đến Forever 21 để mua đồ, thì Brandy Melville vẫn là một thương hiệu đắt tiền. Và còn cả vấn đề về chủng tộc nữa. Có nhiều người hướng dẫn làm đẹp là người da màu, và Mota cũng là người Latinh. Nhưng với Jasmine, tính cách “dễ thương” của Mota thể hiện văn hóa, và không “rẻ tiền”, và vì thế có tính truyền cảm hứng. Jasmine muốn giống Mota. Nhưng khi cô ấy không thể giống Mota được, chẳng hạn như khi cô không thể để kiểu tóc giống Mota vì nó “quá dày”, thì nó lại một lần nữa nhắc cô nhớ đến những khác biệt về chủng tộc, mà theo đó, những cô gái da màu thì “quá” cái này, hoặc “chưa đủ” cái kia trong vẻ bề ngoài của mình.
“Cô muốn xem một đoạn phim khác không?” Jasmine hỏi.
Ithaca, New York; Salem, Massachusetts; và New York, New York
Joan Jacobs Brumberg, tác giả của cuốn Dự Án Hình Thể: Cái nhìn gần vào lịch sử các cô gái Mỹ, nói. “Việc xảy đến với các cô gái như thế này không thuần tự nhiên, việc khao khát một hình ảnh hoàn hảo,” đến với cuộc sống của các cô một cách không đàng hoàng. Các cô bị ám ảnh cần phải có hình thể và gương mặt hoàn hảo vì sự phát triển của công nghệ và sự lan rộng của kiểu văn hóa thương mại, cũng như những mảng trong ngành công nghiệp sắc đẹp đã được ráp lại với nhau.
“Các cô gái giờ đây bắt đầu cuộc sống ngập thứ văn hóa công chúa,” Rebecca Hains, tác giả của cuốn Vấn đề Công chúa: Dẫn lối để các cô gái vượt qua những năm tháng ám ảnh với văn hóa công chúa muốn nói đến sự ám ảnh về vẻ ngoài công chúa của những em bé gái từ khi Disney cho ra đời hình ảnh của các công chúa và đồ chơi công chúa vào năm 2000. “Tôi cho rằng văn hóa công chúa bị ảnh hưởng một phần do sự thụt lùi của chủ nghĩa nữ quyền,” Hains cho biết. “Sự ám ảnh với hình ảnh các công chúa này xảy ra cùng lúc với cú chuyển mình về văn hóa khi đảng Cộng hòa quay lại cầm quyền vào những năm 2000 và đưa ra chiến dịch Cuộc chiến với Phụ nữ [vào những năm 2010],” là những động thái để hạn chế quyền sinh sản và quyền phụ nữ trong các lĩnh vực khác. “Những cô gái lại tiếp tục cảm thấy mình cần phải xinh đẹp, ngọt ngào, bị động, rõ ràng đây là một phần của sự thay đổi văn hóa ảnh hưởng bởi bối cảnh chính trị,” Hains nói.
“Khi các cô gái nói, ‘Tôi muốn trở thành người mẫu,’ các cô đã đặt vẻ bề ngoài quan trọng hơn hết những giá trị khác, như trí óc chẳng hạn,” chia sẻ của Jennifer Sky, một nữ diễn viên, cựu người mẫu, và hiện nay đang là một diễn giả phê bình, lên tiếng về cách đối xử mà ngành công nghiệp thời trang hiện nay đang dành cho những người mẫu vị thành niên. “Không nhất thiết là có giá trị này thì không thể có những giá trị khác. Nhưng là một người mẫu đồng nghĩa với việc bạn là một món hàng, cơ thể của bạn trở thành một vật thể, bạn là một người đi bán những sản phẩm của người khác. Bạn không phải là một con người với trí óc và tiếng nói. Tôi cho rằng thật thú vị khi đúng lúc phụ nữ có quyền bầu cử ở Mỹ thì một vài người đàn ông đã nhóm lại với nhau và cho ra đời cuộc thi Hoa hậu Mỹ,” ở Atlantic City vào năm 1921.
Garden City, Long Island
Buổi tối hôm đó là buổi hẹn đầu tiên của Lily, và cô đang lo lắng không biết liệu chiếc bút kẻ mắt cô đặt hàng trên Amazon có tới đúng hẹn không. Thực ra, nó cũng không hẳn là buổi hẹn hò đầu tiên của cô, cô nói – cô đã hẹn hò trước đó, ít nhất là kiểu như vậy, từ hồi học lớp 7, nhưng đây là lần đầu tiên cô “thực sự thích” người bạn trai đó. Cậu ấy “rất thông minh, rất vui tính, rất khỏe mạnh, rất cao,” cô mô tả trong lúc đang ăn những miếng khoai tây xắt lát trên chiếc bàn gỗ dài trong phòng bếp nhà cô – ngôi nhà tám phòng ngủ trên một con phố xao xác lá ở Garden City. “Chúng tôi đã làm bạn một thời gian rồi” – kể từ mùa hè trước, khi bọn trẻ cùng đi cắm trại với nhau ở một trường đại học Ivy League1 (“nghe có vẻ mọt sách, tôi biết, và đúng là như vậy, nhưng thực ra rất vui mà”) – “tôi rất thích cậu ấy, và cậu ấy cũng rất thích tôi, thế nên… vậy đó.” Cô ấy bối rối sửa lại mái tóc.
1. Những trường Đại học lừng danh của Mỹ..
Lily nói cô ấy muốn buổi hẹn phải thật “hoàn hảo”, vì thế cô ấy rất cần phải có đúng loại bút kẻ mắt Lancôme để chuẩn bị trước khi đến buổi hẹn. “Đây là loại chất lượng tốt nhất và bạn có thể vẽ đuôi mắt theo kiểu Audrey Hepburn. Tôi đã thấy kiểu đó trong một bài hướng dẫn làm đẹp. Tôi xem hàng tấn những bài như vậy vì những bài đó có rất nhiều thông tin hữu ích.”
Cô ấy đã đặt hàng bút kẻ mắt trên Amazon vào ngày hôm trước, và đăng ký chế độ lấy hàng vào ngày hôm sau. “Thông tin thẻ tín dụng của mẹ tôi ở trên đó,” cô nói, “thế nên chúng ta có thể mua bất cứ thứ gì chúng ta muốn. Mẹ tôi chẳng bao giờ để ý cả.”
Chuông cửa reo lên và người đưa thư mang đến hai gói bưu phẩm: một gói đựng những trái bóng màu chóe kêu chút chít cho em gái của Lily, tên là Olivia, 10 tuổi, và gói kia là chiếc bút kẻ mắt của Lily. “Ôi, cảm ơn bác!” Lily nói với người đưa thư trong lúc ký nhận mấy gói bưu phẩm.
“Không được nói với mẹ đâu đấy,” cô nói với Olivia khi kẹp gói đồ dưới tay mình. “Mẹ đâu rồi?”
“Mẹ đưa Henry đến cửa hàng Apple rồi,” Olivia vừa nói vừa xé toang chiếc túi đựng bóng của cô bé. Henry là em trai của Lily, 12 tuổi.
“Tại sao?” Lily hỏi.
“Để mua cho anh ấy một chiếc iPhone mới,” Olivia nói. “Anh ấy làm hỏng điện thoại cũ rồi. Anh ấy đã ném điện thoại vào tường khi anh ấy tức giận lúc đang chơi điện tử. Ném tận 2 lần liền.”
Lily mừng vì Henry không có nhà trong lúc cô đang sửa soạn cho buổi hẹn, cậu ta chỉ toàn nói những điều khiến cô mất tự tin, luôn so sánh cô với cậu ta, nói rằng cậu ấy giỏi thể thao hơn, và cô ấy quá “ngốc” khi cứ quan tâm đến quần áo và son phấn. “Mấy thằng em trai, cô biết đấy?” cô than vãn. “Cậu ta là một cái nhọt. Cậu ta chỉ ghen tức vì tôi lớn tuổi hơn và cậu ta tính trẻ con hơn. Cậu ấy bị bệnh tăng động giảm tập trung, cậu ấy không bao giờ muốn làm bài tập về nhà. Và đôi khi còn rất hôi nữa.” Lily cũng bị mắc chứng bệnh này, nhưng cô ấy uống thuốc mà bác sĩ kê đơn nên vẫn có thể tập trung. “Tôi thì chỉ, kiểu, hoạt động nhiều,” cô ấy nói thêm. Cô ấy còn nói rằng mình hay bị lo lắng và cũng uống thuốc để trị bệnh này.
Lily là một trong những học sinh giỏi nhất khối lớp cô đang học ở một trường tư thục có tiếng ở Manhattan.
Cô còn là một vận động viên, giỏi nhiều bộ môn thể thao. “Nhà tôi ai cũng giỏi thể thao,” cô ấy nói với chất giọng thều thào. “Đó cũng là một trong những lý do cả nhà đến khu Garden City ở, để em trai tôi có thể chơi bóng đá.”
Garden City là một khu làng với dân số khoảng 22.000 người, cách Manhattan khoảng một giờ lái xe, một cộng đồng người dân giàu có với nhiều nhà thờ, một nơi người ta tập trung nhiều vào chuyện giáo dục con cái để chúng thành đạt. Khoảng 99% học sinh tốt nghiệp trung học ở Garden City học tiếp lên đại học, thường là những trường có thứ hạng cao. Khu vực trường học này nổi tiếng với thế mạnh về thể thao, chiều chiều, những sân chơi ở đây chỉ toàn là những học sinh, mặc đồng phục nhóm, chạy lên chạy xuống. “Tụi trẻ con ở Garden City phát cuồng vì thể thao,” lời của Matt, một cậu bé 17 tuổi ở sân Roosevelt, một khu thương mại phía Đông Garden City, khu thương mại lớn thứ 10 Hoa Kỳ, trước đó khu này là một sân bay.
“Bạn tập tành chăm chỉ, thật giỏi thể thao,” Matt nói, “vậy là bạn có thể vào một trong những trường đại học Ivy League, hoặc những trường như NYU hoặc một trường đại học ở Boston, bạn khiến cha mẹ tự hào, và họ sẽ trả tiền cho bạn. Họ nhìn mọi thứ qua lăng kính của đồng tiền và đó là cách họ thể hiện tình yêu – bằng tiền.” “Nhưng nhiều đứa chẳng ra gì cũng nhận được bất cứ thứ gì chúng muốn mà,” bạn của cậu, Roxanne, 16 tuổi, quan sát và nói.
Trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, Thời báo New York đã viết một bài về cách mà những dân cư ở khu Garden City đã đương đầu với cuộc khủng hoảng này. Một cư dân, là một nhà quản lý của cải, chia sẻ với báo chí rằng, “Những người ở khu Des Moines có thể không lấy gì làm buồn khi những người giàu có ở đây bị mất tiền, nhưng ai cũng dần sống quen với mức thu nhập của mình.” Người ta ước tính có khoảng 20% cư dân của khu Garden City làm việc trong lĩnh vực tài chính và bất động sản.
Bố của Lily là một luật sư, ông làm việc ở Manhattan, còn mẹ cô ở nhà chăm sóc con cái và gia đình. Là chị cả của 4 đứa em, Lily nói rằng cô chưa bao giờ cảm thấy bố mẹ thực sự dành hết sự quan tâm tới cô cả; mấy đứa em đã ngốn hết thời gian của mẹ cô và “bố thì, chẳng bao giờ ở nhà cả.” Mẹ có để tâm đến cô, cô nói vậy, nhưng “luôn theo kiểu kiểm soát tôi và để chắc chắn là tôi luôn làm đúng mọi chuyện.” Vậy nên giờ đây mọi thứ rất tuyệt – “thật tuyệt,” cô nói – khi có một người trong cuộc đời cô giống như là Josh vậy, người bạn mà cô đang hẹn hò, người mà luôn trò chuyện với cô, lắng nghe cô nói, và nói rằng cô thật xinh đẹp, “Trời ơi, cậu ấy cứ nói vậy suốt thôi.”
Hai người thực ra chưa gặp mặt nhau trong suốt gần một năm qua. Sau lần đi cắm trại, họ thường chỉ liên lạc qua Facebook Messenger, thỉnh thoảng nhắn tin, thích những bài đăng của nhau, và thích những bức ảnh mà người kia đăng lên Instagram. “Tôi vẫn chỉ nghĩ về cậu ấy như một người bạn sau đợt đi cắm trại, cho đến khoảng một, hai tháng trước,” Lily nói. Và sau đó có một chuyện đã xảy ra khi họ cùng nói chuyện trên Skype. “Chúng tôi cứ nói chuyện trong suốt bốn tiếng đồng hồ, và cậu ta thực sự thích nói chuyện với tôi, và tôi cũng rất thích nói chuyện với cậu ta, thế nên… vậy đó.” Cô ấy lại bối rối chỉnh sửa mái tóc.
Kể từ khi đó, cô nói, Josh và cô cứ nói chuyện qua Skype khoảng một giờ mỗi tối, cuối tuần thì nói dài hơn trong khoảng ba, bốn giờ, và chỉ dừng lại “khi chúng tôi phải đi vệ sinh, hay đi tắm.” Bây giờ thì họ nhắn tin cả ngày cho nhau, ngày nào cũng vậy, kể cả lúc đang học trên lớp (“Chúng tôi chỉ chia sẻ với nhau chúng tôi đang làm gì, hoặc nói kiểu như ‘Chào cậu, có gì hay không, chào nhé, tạm biệt’”). Cậu ấy là người cuối cùng cô nói chuyện cùng trước khi đi ngủ và là người đầu tiên cô nói chuyện cùng vào mỗi buổi sáng, “khi tôi mở mắt”.
“Cậu ấy cứ mời tôi đi chơi suốt,” cô nói, “nhưng tôi từ chối, vì xung quanh tôi có quá nhiều thứ đang diễn ra và tôi không cảm thấy tôi có thời gian. Ở trường có rất nhiều áp lực, rất mệt mỏi. Mỗi tối, tôi phải dành hàng giờ để làm bài tập về nhà, và có rất nhiều bài. Một phần là áp lực tôi tự đặt ra cho mình, và một phần khác là áp lực bố mẹ đặt lên vai tôi để học thật tốt – tất cả những thứ áp lực này cộng lại, áp lực phải học tại trường rồi phải thật thành công, có thể khiến bạn cảm thấy hơi quá sức. Dĩ nhiên là tôi muốn đạt được những điều tuyệt vời,” cô nói, “nhưng nếu tất cả mọi người đều nói đi nói lại với bạn điều này, thì thực sự rất mệt mỏi. Tại ngôi trường mà tôi đang theo học, chỉ một điểm xấu thôi có thể hủy hoại cả một con người.”
Và vì thế, cô không chắc liệu mình có thể nhét thêm “một mối quan hệ” vào lịch trình dày đặc của cô hay không. Josh cũng sống ở Long Island, ở một thị trấn gần đó, nhưng trong suốt thời gian nhắn tin, rồi Skype, rồi thích những bài đăng trên mạng, họ chưa từng sắp xếp được để gặp mặt nhau. “Và đó là lý do tại sao tôi muốn đi xem phim trong buổi hẹn này,” Lily nói lan man như không dừng lại được, “một cuộc hẹn đôi, vì nếu gặp lại nhau mà thấy kỳ kỳ, thì vẫn còn có người khác ở đó.”
Cô đã nhờ sự giúp đỡ của người bạn thân nhất, Priya, đi cùng cô ngày hôm đó “phòng khi không khí kỳ cục và khó xử,” và Josh cũng dẫn theo một chàng trai khác để đi cùng Priya. Họ sẽ xem bộ phim 22 Phố Jump, phim cấm trẻ em dưới 17 tuổi. “Bố tôi sẽ mua vé xem phim và ông sẽ ngồi trong xe chờ trong lúc chúng tôi trong rạp. Bố tôi phát khùng, ông phải kiểm tra chàng trai này thật kỹ.”
Thế nên tối nay “kiểu là một sự kiện lớn,” Lily nói.
“Thực ra, không hẳn là một sự kiện lớn, ý tôi là, tôi chỉ đi gặp chàng trai này để xem tôi có thực sự thích cậu ấy trong đời thực không mà thôi, phải vậy chứ?” Tuy vậy, cô ấy vẫn rất vui khi chiếc bút kẻ mắt đã đến kịp – “Ơn Chúa.” Trong phòng ngủ, cô có một chiếc giá 5 tầng đựng đồ trang điểm, lấp lánh với những món đồ sáng loáng, nhiều màu sắc.
Giờ đây, khi cô đã có chiếc bút kẻ mắt, việc tiếp theo là phải quyết định sẽ mặc đồ gì. Cô tìm khắp tủ và cả những đống quần áo trải khắp phòng. Phòng cô bừa bộn, mọi thứ chật chội: một chiếc giường, bàn, ghế, quần áo, sách, giày dép, đồ chơi không dùng tới, và một chiếc máy tập hình e-líp cô dùng để “giữ dáng”. “Những lúc tôi mệt mỏi quá, tôi thường lên máy tập khoảng một giờ, và sẽ không thấy mệt mỏi nữa.”
Cô bắt đầu ghép mấy món đồ lại để có bộ trang phục cho tối nay. “Tôi có gu thời trang tương đối tốt,” cô nói. “Tôi từng làm người mẫu trong khoảng hai năm, nhưng rồi tôi dừng lại vì tôi thấy tệ trên sàn diễn,” trong một buổi diễn tập, “và tôi không còn thích nữa. Tôi làm người mẫu hồi tôi 11 đến 13 tuổi, tôi hoạt động trong một trung tâm người mẫu. Cũng hay, cũng vui, nhưng mọi thứ trở nên quá tải, nên tôi nghỉ.” Khi tôi nói chuyện với mẹ của Lily sau đó, bà nói rằng Lily “có thể” trở thành một người mẫu, nếu cô ấy cao hơn một chút. “Người phụ nữ ở trung tâm người mẫu có thể giúp trang điểm, và chúng tôi có thể có những buổi chụp hình thử, và chúng tôi có thể tập đi catwalk trên giầy cao gót,” Lily nói. “Cảm giác khi tất cả mọi người tập trung ánh nhìn vào bạn cũng rất vui, và cũng thật thích khi có thể nói rằng ‘Tôi làm ở một trung tâm người mẫu.’”
Tôi hỏi cô điều gì đã khiến cô muốn trở thành người mẫu. Cô suy nghĩ một hồi. “Có thể là vì tôi nhìn thấy những người mẫu trên ti vi và trên tạp chí, cảm giác như ‘Ôi, nếu tôi là một người mẫu, các cô gái khác cũng sẽ nhìn tôi đầy ngưỡng mộ cũng giống như tôi ngưỡng mộ những cô gái này.’ Bất cứ khi nào tôi nhìn thấy những người mẫu trên tạp chí, tôi cũng cảm thấy họ thật là xinh đẹp, và nếu tôi có thể là một người mẫu, các cô gái cũng sẽ phải thốt lên ‘Ôi, cô ấy thật là đẹp.’ Tôi rất thích chương trình America’s Next Top Model. Nếu được xem cuộc sống ấy sẽ như thế nào thì thật tuyệt. Đó là một cuộc sống thật hoa lệ.”
Chương trình America’s Next Top Model, do Tyra Banks dẫn chương trình, là một trong những chương trình được các cô gái Mỹ yêu thích nhất trong suốt hơn một thập kỷ. Từ khi chương trình lên sóng năm 2003 cho tới khi dừng lại vào năm 2015, nó được phát sóng ở hơn 146 quốc gia. Chương trình thực tế này là cuộc đua tài của những người mẫu trẻ, Tyra tham gia với vai trò một người hướng dẫn và một thành viên ban giám khảo; và những nhận xét của Tyra có thể rất căng thẳng, không chỉ về vẻ bề ngoài của các thí sinh, mà còn về tính cách và động lực của họ nữa – mức độ quyết tâm “đạt được” thành công của họ đến đâu.” Đôi khi Tyra trêu đùa những người mẫu tương lai trong chương trình nếu họ quá sốt sắng; trong một tập, nói đến chủ đề của những câu nói dễ lan truyền, Tyra đã quát thẳng vào mặt một cô gái mà cô cho rằng chưa thể hiện đủ quyết tâm, khiến cô ta khóc. (“Tôi đã rất ủng hộ bạn! Tất cả chúng tôi đều ủng hộ bạn! Sao bạn lại dám làm vậy!” Tyra nạt nộ cô)
Khi tôi phỏng vấn Tyra vào năm 2007, cô ấy nói rằng, lớn lên ở Los Angeles, “Tôi từng là một cô gái xấu tính. Cực kỳ xấu tính. Tôi chuyên đi bắt nạt người khác.” Chương trình America’s Next Top Model có nhiều cảnh các cô gái nói xấu nhau. (Một bình luận xấu tính đặc trưng kiểu như: “Cô ấy suốt ngày ăn kẹo.”) Chương trình luôn thể hiện hình ảnh của những thí sinh là những người hời hợt và không thông minh cho lắm. Nhiều thí sinh của những cuộc thi sắc đẹp mà tôi từng phỏng vấn cho biết đây là chương trình yêu thích của họ. “Tôi xem nó suốt ngày,” chia sẻ của Bailey, 17 tuổi. “Chương trình đó khiến tôi quyết định rằng tôi muốn trở thành người mẫu.” Livia, 16 tuổi, nói, “Tôi bị ám ảnh với America’s Next Top Model.”
Còn với Lily, cô nói rằng cô nhận thức được việc mình bị ảnh hưởng bởi truyền thông, thậm chí ngay lúc điều đó xảy ra – mọi người nói nhiều về nó ở trường cô, có những diễn giả đến để chỉ dạy những cô gái và những nhóm học sinh mà các bạn nữ bày tỏ cảm nghĩ của họ về áp lực truyền thông.
“Ồ đúng vậy, đó là một việc lớn,” cô nói. “Chúng tôi nói về chuyện ấy liên tục. Văn hóa nhạc Pop và thông tin truyền thông có ảnh hưởng lớn đến những cô gái tầm tuổi tôi – chúng tôi đang lớn lên, đang trên đường tìm hiểu về bản thân, mình là ai và mình muốn làm gì. Chúng tôi đang cảm thấy thoải mái và không thoải mái với hình thể của mình ra sao, và điều đó góp một phần quan trọng để hình thành cảm nhận của chúng tôi về chính mình.
“Tôi tự tin với cơ thể của tôi”, cô nói tiếp, “Tôi tự tin với vẻ ngoài của tôi, tôi không hề lo lắng về chuyện đó. Nhưng đối với rất nhiều bạn gái khác đồng lứa với tôi, đó là một vấn đề thực sự nghiêm trọng. Chứng biếng ăn và cả chứng ham ăn cũng xuất phát từ việc các cô gái nhìn thấy các cô gái khác trên ti vi, tạp chí, Instagram và muốn trông giống như họ. Thật là khó cho các cô gái không tự tin với hình thể của mình, bởi cuộc sống của họ có thể phát sinh ra những điều tồi tệ, chẳng hạn như chứng rối loạn ăn uống, mà có thể ảnh hưởng đến cuộc sống cho tới khi họ trưởng thành.” Cô nói rằng ở trường cô có một bạn gái mà cô “chưa từng nhìn thấy bạn ấy ăn trong ba năm qua.”
Tôi hỏi tại sao cô ấy lại nghĩ rằng các cô gái chịu nhiều ảnh hưởng từ truyền thông, kể cả khi họ nhận thức được những áp lực mà nó mang lại. Cô trả lời, “Tôi không biết. Nó thật kỳ lạ. Đôi khi tôi tự hỏi có phải vì những bậc phụ huynh,” cô dừng lại trong giây lát. “Tôi tự hỏi tại sao cha mẹ lại cho chúng tôi làm những việc của người lớn. Giống như việc họ cho chúng tôi đến các bữa tiệc chẳng hạn. Tại sao?” Cô nói về những bữa tiệc trưởng thành của các cô gái đạo Hồi, và các bữa tiệc sinh nhật mà ở đó có “mocktail”, hay là những thức uống giả rượu đặt trong những ly cốc-tai. “Trong nó chẳng khác gì rượu cả,” cô nói. “Có quá nhiều thứ người lớn ở những buổi như vậy. Chúng tôi đến những bữa tiệc này trong những bộ cánh đắt tiền, đi giầy cao gót, trong khi chúng tôi mới 12, 13 tuổi và những bữa tiệc kéo dài đến tận một giờ sáng. Kết quả là, đến khi chúng tôi học đại học, chúng tôi đã biết cảm giác tiệc tùng tới một giờ sáng là như thế nào rồi. Lúc đó chúng tôi sẽ làm gì để vui vẻ đây?”
Cô nói về một bữa tiệc mà trong đó có phần “trình diễn thảm đỏ,” và ở đó, các cô gái có thể “chọn một chiếc váy thiết kế, mặc nó lên người, trình diễn, và có thợ ảnh đứng ngoài chụp ảnh để chúng tôi có thể vờ như mình rất nổi tiếng.”
“Phong cách ăn mặc của bọn con gái bây giờ thật lố bịch,” Lily nói.
Cô ấy đang chần chừ để lựa chọn một trong hai bộ cánh cho buổi hẹn tối hôm đó: một chiếc đầm ngắn màu đen của hãng Brandy Melville hoặc một chiếc váy ngắn trắng và một chiếc áo ngắn đen của hãng Urban Outfitters. Cô treo hai bộ cánh này trên cửa phòng ngủ để cô có thể nhìn ngắm kỹ hơn, đứng lùi lại, và đánh giá.
“Giống như, ở một bữa tiệc họ tổ chức cho những trường tư thục, bữa tiệc diễn ra trên một chiếc thuyền, và các cô gái đều mặc những chiếc đầm cắt xẻ, cắt xẻ lung tung,” cô nói tiếp, “chẳng hạn như xẻ ở rốn để khoe rốn; bạn có thể thấy những đứa 12 tuổi mặc như vậy. Chúng mặc những chiếc váy ngắn nhất. Tại sao mẹ chúng lại có thể cho phép chúng mặc như vậy ra đường nhỉ?”
Cô quyết định rằng để có thể lựa chọn được bộ cánh nào cho buổi hẹn, cô sẽ mặc lên cả hai bộ, chụp ảnh lại, rồi gửi những tấm ảnh đó cho Priya, để có thêm một ý kiến khách quan. Cô vào phòng tắm và mặc chiếc váy ngắn màu trắng và chiếc áo ngắn bó màu đen. “Trông thế nào?”, cô hỏi trong lúc quay vòng lại để nhìn thấy mình trong chiếc gương đặt ở phòng ngủ. “Trông có giống như trang phục của một buổi hẹn không nhỉ, hay trông nó quá bình thường?”
Tôi hỏi liệu cô có cho rằng bộ này là một ví dụ cho những trang phục mà cô vừa nhắc tới hay không, những trang phục hở hang quá nhiều.
“Tôi không cảm thấy tôi cần phải trần truồng đi ra ngoài đường,” cô nói, “nhưng nếu cô gái nào cũng ăn mặc gợi cảm, bạn sẽ cảm thấy bạn cũng cần phải làm vậy. Thông tin trên truyền thông ngày nay mang tính gợi dục quá mức, trên tất cả các tạp chí, ai nấy đều mặc những đồ gợi cảm. Đó là thứ mà chúng ta nhìn thấy hàng ngày, và chúng ta làm theo những gì chúng ta nhìn thấy. Nhiều cô gái ở lứa tuổi của tôi học theo những cô gái lớn tuổi mặc những bộ đồ nóng bỏng trên tạp chí, về cơ bản là những người bạn thấy trên tạp chí đều là những minh tinh màn bạc. Ai cũng yêu Mila Kunis. Rihanna. Ý tôi là, tôi có thể kể tên cả Miley Cyrus nhưng nó có thể gây tranh cãi. Một nhóm người sẽ nói, ‘Miley cố lên,’ nhưng một nhóm người khác sẽ kiểu ‘Không, Miley.’” Cô ấy cười lớn.
“Những người ủng hộ Miley yêu cô ấy vì cô đang là chính mình, điều đó tốt cho chính cô ấy nữa. Nhưng cá tính thật của Miley không phải là điều nhiều người muốn cô ấy có, và nhiều người khác lại coi cô là một hình mẫu. Vì thế, những người nói ‘Không, Miley’ nói điều đó khi thấy cô mặc bộ đồ bó sát hở hang trên sân khấu và nhảy nhót với chú gấu bông,” ý cô nói đến cuộc tranh cãi liên quan đến Miley Cyrus năm 2013 khi cô biểu diễn tại Lễ trao giải Video Âm nhạc MTV, “và điều đó thật kỳ lạ. Cô ấy chỉ bộc lộ bản thân mình, nhưng không theo cách mà ta muốn bọn trẻ nhìn thấy.”
Có một chiếc đĩa DVD Hannah Montana trên chiếc kệ ở phòng cô, một di sản của năm tháng đã qua. Một chiếc gối One Direction trên giường cô. “Tôi biết, thật xấu hổ,” cô nói.
Lily chụp hình cô trong chiếc váy ngắn trắng và chiếc áo ngắn bó rồi gửi nó cho bạn Priya. “Cô ấy sẽ cho tôi biết cô ấy nghĩ gì,” cô nói. “Cô ấy rất thẳng thắn.” Sau đó cô lại vào phòng tắm một lần nữa và thay sang bộ đầm đen ngắn. Cô chụp thêm ảnh và gửi ảnh đi. Priya nhắn lại: “Chiếc màu đen trông giống như đồ mà một bà mẹ mặc đi dự đám cưới vậy.” “Tôi đoán vậy là quyết định xong,” Lily vừa nói vừa cười. Cô nhắn lại cho Priya hình một chiếc mặt cười vật vã đến mức chảy cả nước mắt xuống má.
Cô nói rằng “áp lực” về việc mặc gì và trông như thế nào đến từ các cô gái khác nữa. “Nếu bạn không mặc đúng, họ sẽ nhìn vào bạn, và bạn sẽ có thể sẽ bị tẩy chay,” cô nói. “Bọn con trai thì không xấu tính như hội con gái, và họ thư thái hơn nhiều, vì thế nên tôi thích chơi cùng hội con trai. Tôi thuộc tuýp con gái thích chơi với con trai, chứ không phải là con gái. Tôi có nhiều bạn là con trai lắm.”
Có bao giờ những “áp lực” đó đến từ các chàng trai không? Tôi hỏi.
“Ôi, chắc chắn rồi,” Lily nói. “Khi tôi đi học cùng các bạn trai, tôi chắc chắn là có cảm thấy mình cần phải trang điểm và mặc đẹp, vì nếu có một chàng trai bạn thích mà các cô gái vây quanh mặc đồ thời thượng, trang điểm và trông rất xinh đẹp, bạn không thể lép vế được. Bạn sẽ thấy bạn cần phải làm điều đó, đó chắc chắn là một áp lực tăng thêm, bạn muốn trông xinh đẹp, bạn muốn bọn con trai nghĩ rằng bạn xinh đẹp, và vì thế bạn sẽ thấy bạn cần phải trang điểm. Nhưng tôi chắc rằng cô không…,” cô nói thêm, giọng nhỏ lại.
“Rất dễ xao lãng,” cô nói, “đặc biệt là nếu chàng trai ấy cũng thích bạn, bạn sẽ, kiểu, nhìn nhau suốt thôi và không thể tập trung được – thực sự là nếu bạn thích một chàng trai cùng lớp, sẽ rất mất tập trung. Bạn sẽ suốt ngày ‘Làm thế nào để nói chuyện được với cậu ta nhỉ? Làm cách nào để cậu ta chú ý đến mình?’ Tôi chắc rằng hầu hết các cô gái đều như vậy.”
Lily nói rằng cô ấy “hẹn hò” với các chàng trai lần đầu khi cô học lớp 7. “Đó là lúc tôi có bạn trai lần đầu tiên. Tôi nghĩ là nếu nói đến những lần thích ai đó một cách rất trẻ con thì phải tính từ năm lớp bốn, nhưng tôi không đi những buổi hẹn hò. Tôi không có những mối quan hệ nghiêm túc vào lúc này, vì để làm gì cơ chứ, sao phải vội? Bạn vẫn có thể trẻ trung và vui vẻ. Nhưng nhiều bạn gái tuổi tôi đã có bạn trai nghiêm túc, những cuộc hẹn hò nghiêm túc. Họ đến những nhà hàng sang trọng với nhau, đến những bữa tiệc với nhau. Thật điên rồ. Họ còn lập kế hoạch tương lai cùng nhau, kiểu như họ sẽ làm gì khi vào đại học, và tôi bảo ‘Sao cậu có thể nghĩ đến điều đó vào lúc này?’”
“Những cô gái học cùng trường tôi và những cô gái sống ở Long Island nơi tôi ở,” cô nói tiếp, “họ làm những việc giống nhau. Có những bức ảnh trên Facebook chụp những cô gái cùng tuổi tôi đi ăn ở những nơi sang trọng, mặc những bộ váy đắt tiền, như thể họ sẽ tổ chức đám cưới vào tuần sau vậy. Họ đăng ảnh lên mạng xã hội – đó là một việc lớn, bạn trai và mạng xã hội. Những cô gái có bạn trai đăng khoe ảnh của họ trên Facebook và Instagram. Không phải là, họ có ý ác khi muốn mọi người nghĩ kiểu, ‘Ôi, nhìn bạn trai của tôi xem, cậu ấy đẹp trai hơn bạn trai cô nhiều,’ họ chỉ muốn khoe những gì họ đang làm, và những chàng trai cũng muốn khoe những gì họ đang làm, thế nên bạn sẽ thấy những bức ảnh này trên Facebook, Instagram và Twitter, những bài cập nhật được đăng 24/7 – có thể chỉ để khiến mọi người ghen tị.”
“Năm lớp 7 là khi mọi việc bắt đầu,” cô nói. “Các trường trung học tư thục có những điệu nhảy cho học sinh lớp bảy. Tôi gặp bạn trai đầu của mình ở một sự kiện như thế. Dễ thương lắm, hôn trên má các kiểu; đôi lúc chúng tôi lại ra ngoài ăn kem. Lớp 7 là thời mà mọi thứ nóng dần trên mạng xã hội. Đó là lúc mà mấy chàng trai bắt đầu thích tất cả những bài đăng của bạn để gây chú ý. Nếu một chàng trai thích nhiều bài đăng của bạn, có nghĩa là cậu ta thích bạn. Đặc biệt là khi cậu ta thích ảnh đại diện của bạn, vì đó là cách bạn thể hiện cá tính của mình trên mạng – nếu cậu ấy thích ảnh đại diện của bạn, thì đó là khi bạn biết.”
“Mạng xã hội thể hiện được đến 95% những gì đang diễn ra trong các mối quan hệ,” cô nói. “Cách chúng ta nói chuyện thể hiện trên mạng xã hội. Nhiều người thậm chí còn chẳng gặp nhau, nhưng họ vẫn có một người bạn trai trên mạng. Các cô gái gặp bạn trai của mình trên mạng. Tôi thấy điều đó thật đáng sợ. Tôi có một người bạn, cô ấy vừa gặp một chàng trai trên mạng – cô ấy chưa bao giờ gặp anh ta trong đời – và giờ họ đang hẹn hò, và điều đó khiến tôi thấy thật quái đản, vì nếu anh ta là một kẻ giết người hàng loạt thì sao chứ? Ý tôi là, thật tốt khi cô ấy có một người bạn trai, nhưng, cô ấy chưa thực sự gặp cậu ta bao giờ, cô ấy chỉ gặp cậu ta trên iFunny – là nơi mà bạn có thể chia sẻ ảnh các kiểu, và tạo những caption buồn cười cho mấy cái ảnh; họ mở ra một phòng trò chuyện và bắt đầu ‘chat’ và Snapchat. Tôi thấy thật đáng sợ khi nghĩ ‘Liệu, nếu anh chàng này là một tên hiếp dâm thì sao?’”
Tất cả những điều này trở nên vô cùng phức tạp trong một môi trường mà sự phô bày mang tính gợi dục ngày càng phổ biến. Chẳng hạn như, nhiều cô gái ngày nay cảm thấy việc nhận được nhiều lượt thích và những bình luận khen ngợi trên những bức ảnh gợi tình của họ là một thành tích, một thứ thể hiện giá trị của bản thân, kể cả khi những lượt thích và bình luận đó đến từ người lạ. Những bình luận về hình thể và sắc đẹp của họ, thường là đến từ những người khác phái mà họ biết, nhưng dù từ những người họ không biết, thì cũng luôn được coi trọng, chứ không bị coi thường. Nhiều cô gái thể hiện sự biết ơn với những lời bình luận, mà nếu lời này được nói trên phố, thì có thể bị cho là trêu chọc hoặc quấy rối. Nhưng trong văn hóa mạng xã hội, một cô gái thường phản hồi với những lời bình luận này với lòng biết ơn, chẳng hạn như: “Ôi, cảm ơn bạn,” đi kèm với những hình động tuôn ra những nụ hôn. Văn hóa mạng xã hội khiến những cô gái không kháng cự lại những bình luận đó, để trở thành một cô gái chẳng “vui vẻ” chút nào, mà chỉ biết phản đối.
“Điều đấy cũng từng xảy ra với tôi,” Lily nói, “việc những chàng trai tôi không hề quen biết tiếp cận tôi trên mạng và muốn hẹn hò với tôi. Có một người có vài người bạn chung với tôi sẽ rủ tôi đi chơi và nói, ‘Xin chào, bạn rất xinh, bạn có thể đi chơi cùng tôi được không?’ Kiểu như vậy, và điều đó thật đáng sợ vì tôi không biết cậu ta – tôi cảm thấy kiểu ‘Tại sao cậu lại nói chuyện với tôi chứ? Eo ơi.’” Cô cũng nói rằng có một chàng trai khác từng hỏi xin ảnh khỏa thân của cô. “Chỉ là một đứa nào đó cỡ tuổi tôi, tôi không biết gì nhiều về cậu ta,” cô nói. “Và tôi đúng là, choáng luôn, vì tại sao cậu ta lại nghĩ rằng tôi sẽ gửi ảnh khỏa thân của tôi cho cậu ta khi mà tôi chẳng biết cậu ta là ai cả?”
“Tôi không kể cho ai ngoài bạn bè tôi biết, và có mấy bạn cũng bảo ‘Ừ, điều đó cũng xảy đến với tôi,’” cô nói. “Tôi không kể cho mẹ tôi vì ba mẹ tôi sẽ phát hoảng lên và sẽ gọi điện cho cảnh sát hay làm gì đó. Có một người bạn khác khuyên tôi rằng tôi có thể gửi cho cậu bạn kia một bức hình tôi khỏa thân nhưng không có mặt, như thế không ai biết đó là tôi, nhưng tôi sẽ không bao giờ làm điều đó…
“Tôi cho rằng lỗi của tôi là đã thân thiện với anh ta ngay từ đầu,” cô nói tiếp, “và đương nhiên là tôi đã xóa tên anh ta khỏi danh sách bạn tôi ngay khi anh ta làm tôi sởn gai ốc. Tôi đã từng nghe những việc còn tệ hơn – giống như cô gái này ở trường tôi, cô ấy dùng ứng dụng Kik và một anh chàng lớn tuổi hơn nói rằng anh ta 16 tuổi, xin cô ấy ảnh khỏa thân, và anh ta biết cô ấy mới 14 tuổi. Sao cô ấy có thể biết rằng anh ta thực sự 16 tuổi chứ? Anh ta hoàn toàn có thể là một ông trung niên 40 tuổi với một chiếc bụng bự.
“Tôi từng gặp một trường hợp khác,” cô nói. “Có một bạn rất đẹp trai làm bạn với tôi trên Facebook, và thực sự là bạn ấy rất dễ thương, và bạn ấy chào tôi và tôi chào lại thôi, rồi chúng tôi trò chuyện và cậu ấy hỏi, ‘Bạn bao nhiêu tuổi rồi?’ Lúc đó tôi nghĩ ‘Thật là kỳ cục khi hỏi như vậy.’ ‘Bạn bao nhiêu tuổi?’ Và bạn ấy nói, ‘Ừm, mình 23 tuổi và mình sống ở Pháp và mình nghĩ bạn rất xinh.’ Tôi cảm thấy ‘Khôngggg, tôi mới 14 tuổi.’ Có những chàng trai kết bạn với bạn nhưng già hơn bạn rất nhiều. Tôi thấy, điều đó không thể xảy ra được. Điều đó bất hợp pháp.
“Thật quá dễ dàng cho những kẻ lừa gạt đã lớn tuổi, họ chỉ cần lên mạng, tìm một cô gái; việc đó quá dễ dàng vì cô gái nào cũng muốn có nhiều bạn nhất, nhiều người theo dõi trên mạng nhất, nhiều lượt thích nhất, vì thế nếu ai đó kết bạn với họ, họ sẽ kết bạn lại ngay lập tức mà không cần phải biết người đó là ai. Vì thế dù đó là một kẻ giết người hàng loạt, họ vẫn kết bạn lại và thậm chí có thể nói chuyện với người đó nữa. Thật đáng sợ. Đặc biệt là khi nhiều cô gái còn đăng ảnh mình mặc áo lót hoặc áo tắm lên mạng, và những người mà họ kết bạn cũng có thể nhìn thấy những bức hình này.
“Tôi không làm vậy,” cô nói thêm. “Tôi biết rằng những trường đại học có thể thấy điều đó, ai cũng có thể thấy điều đó, đó là một trong những điều tốt khi đi học tại một ngôi trường có thể chỉ dạy cho bạn những điều này, họ nói cho bạn biết mọi người có thể thấy điều gì và những điều phù hợp để đăng lên mạng. Nhưng có những cô gái không biết về điều này, và họ cứ đăng mọi thứ lên, họ không được giáo dục đủ để biết rằng mọi người có thể thấy điều đó và bất cứ ai cũng có thể hiểu nhầm và đeo bám họ. Đặc biệt là với những ứng dụng như Twitter, Instagram, hay Facebook, khi bạn còn đánh dấu định vị của mình, mọi người có thể thấy bạn đang ở đâu, và những cô gái chia sẻ chính xác vị trí của mình, mọi người thấy điều đó và có thể đến đó để tìm các cô.”
Những bức ảnh mà Lily đăng lên Facebook và Instagram chủ yếu là những bức selfie; có nhiều bức ảnh đẹp chụp cô khi đang chu môi và làm mặt “chim sẻ”, tên gọi của một dáng chụp selfie mà hai môi mím chặt. Có những bức ảnh cô ấy vui đùa thè lưỡi sang một bên, theo phong cách Miley Cyrus, và những bức hình khác khi cô khéo léo khoe khe ngực hoặc tạo dáng trong chiếc quần soóc ngắn. Như thể cô ấy đang cố thể hiện một phiên bản rất gợi cảm của mình trong những giới hạn mà cô biết cha mẹ và nhà trường sẽ chấp nhận.
Tôi hỏi cô tại sao cô cho rằng những cô gái đăng quá nhiều ảnh mang tính khiêu khích lên mạng.
“Tôi nghĩ là chỉ để gây chú ý thôi,” cô nói, “để có thêm nhiều ‘like’, mọi việc đều xoay quanh những lượt ‘like.’”
“Ai cũng muốn trở nên nổi tiếng,” cô vừa nói vừa thở dài. “Cũng chỉ có một vài loại người muốn trở nên nổi tiếng. Tôi cho rằng mình không thể chịu nổi sự chú ý và những chiếc máy chụp hình.”
Huntington Beach, California
Ngày Amanda tạo video đầu tiên, cô 10 tuổi. Học lớp 6. Cô hồi đó là một cô bé yêu thời trang. Cô muốn trở thành một nhà thiết kế. “Tôi từng thiết kế quần áo cho mình,” cô nói. Và rồi một ngày nọ, khi đang tìm kiếm trên YouTube một video hướng dẫn cách khâu đồ, cô rơi vào một thế giới sặc sỡ, lấp lánh, nơi những cô gái lớn chỉ cho nhau cách trang điểm, mua sắm và ăn mặc. Cô bị cuốn theo, xem những cô gái xinh đẹp này thoa kem nền, vẽ mắt, phất phất những chiếc chổi quanh mặt, và nói rất tự tin trước ống kính. Cô thấy có hàng chục, hàng trăm ngàn người ấn vào để xem họ nói về những sản phẩm làm đẹp và cách làm mình trông thật xinh đẹp. Cô đặc biệt bị cuốn hút bởi Blair Fowler, còn được biết với cái tên JuicyStar07, một trong những vị nữ hoàng trong vương quốc của những beauty-guru, người mà đã có hơn 251 triệu lượt xem trên YouTube và gần 2 triệu người theo dõi tính đến năm 2014. JuicyStar07 trở thành “tấm gương” cho Amanda.
“Nhìn cô ấy,” Amanda nói khi đang ngồi trên chiếc ghế đẩu trong nhà cô, “khiến tôi được truyền cảm hứng và muốn làm của riêng mình.” Cô đặt chiếc máy ảnh trong phòng ngủ và làm một video về cách vẽ “mắt màu khói nâu.” Cô đã thực hành trang điểm rất nhiều, cô nói. “Tôi có nhiều đồ trang điểm hơn mẹ tôi… Tôi lúc đó chỉ 10 tuổi, thế nên video hồi đó cũng không phải quá tốt. Tôi nhận được nhiều lượt ghét. Tôi ngừng làm video trong một thời gian chỉ bởi vì mọi người có vẻ xấu tính.”
Những người bình luận trên những video hồi đầu Amanda đăng lên tự hỏi tại sao một cô gái nhỏ như vậy lại phải trang điểm: “Tôi 11 tuổi và tôi chỉ được bôi son bóng hoặc son dưỡng trẻ em và mascara KHÔNG MÀU… nhưng có những cô gái mới 8 tuổi đã đánh mắt tối màu và kẻ mắt , rồi bôi son đỏ khi đi học, và tôi chỉ biết kêu lên ‘Oaaaaa.’” “Và Amanda có nhiều đồ ‘trang điểm đắt tiền’ như vậy bằng cách nào?” một vài người hỏi, “Khi tôi 10 tuổi tôi còn chẳng biết Mac là gì!”
Tuy nhiên, vẫn có những cô gái thích nhìn một ai đó cỡ tuổi mình, nói chuyện với mình thật gần gũi trên màn hình. Đọc những bình luận này, Amanda thấy bạo dạn hơn. “Khi tôi bắt đầu làm những việc này,” cô nói, “chẳng có ai tầm tuổi tôi trên YouTube cả. Tôi nghĩ đó là lý do họ thấy tôi gần gũi với họ hơn… họ nói kiểu như ‘Ôi, cô gái này chẳng khác gì mình.’”
“Tôi cũng chỉ là gặp may thôi,” cô nói thêm. “Khi bạn tìm theo từ khóa ‘Hướng dẫn Trang điểm Trung học,’ video của tôi là một trong những nội dung hiện lên trên cùng, vì thế nó cũng giúp ích nhiều. Rất nhiều người xem video đó” – khoảng hơn 1 triệu người. Mẹ của Amanda rất ủng hộ sở thích mới của cô. “Mẹ hay nói, ‘Được đó, con nên làm đi.’” Và Amanda lại đi, chạy, làm video mỗi tuần.
Những video cô làm hồi đầu thể hiện hình ảnh một cô gái nhỏ bình tĩnh và tự tin, rất tự nhiên xuất hiện trước ống kính, đang uốn mi cong và nói về việc dùng kem nền che mụn trứng cá như thế nào – mặc dù cô chưa từng có trứng cá, cô vẫn kịp nhắc đến điều này. Trong đời thực, cô luôn là một cô gái được chú ý, cô trong đội cổ vũ và là một ngôi sao môn bóng mềm – áo cầu thủ của cô có số 24, vì thế nên cô chọn cái tên: MakeupbyMandy24. Sau video đầu tiên đó, cô tạo ra hàng trăm cái khác. Cô làm từ nội dung hướng dẫn trang điểm đến hướng dẫn thời trang, đến các video “khoe hàng”. Cô nói, “Tôi rất thích xem những video khoe hàng.”
Và rồi lại có những video mà cô mô tả là video “phong cách sống”, chỉ nói về bản thân cô, Amanda, “thật và thô”. Năm 2014, có video “Buổi sáng mùa hè của tôi”, mà quay hình cô ăn sáng và đánh răng; video đó có hơn 1 triệu lượt xem. “Khi tôi thức giấc, tôi vớ lấy điện thoại và lên Twitter, Instagram,” Amanda nói trên màn hình, “và nhận ra tôi phải ra khỏi giường và phải làm gì đó.” Sau đó cô ra khỏi giường và trang điểm.
“Mọi người thích khi bạn là chính mình,” Amanda nói. “Tôi nghĩ rằng điều đó rất giống với kênh của tôi. Có những người dành rất nhiều thời gian để chỉnh sửa và quay video để trông chúng thực sự chuyên nghiệp.
Tôi không làm điều đó nhiều vậy” – mặc dù thực ra cô có dùng một phần mềm chỉnh sửa video chuyên nghiệp, Final Cut Pro. “Tôi nghĩ là mọi người xem video của tôi vì tính cách của tôi,” cô nói.
“Việc ngày càng nhiều người lên mạng xã hội,” để tìm những ngôi sao họ yêu thích, “thật điên rồ, và rất nhiều người có thể ‘nổi tiếng’ trên mạng xã hội, cũng giống như các trang khác,” cô nói. “Nó thực sự đã lớn hơn rất nhiều, và mọi người nhận thấy thật hay ho khi thích một ai đó giống như mình hơn là một nhân vật trên ti vi.”
Ví dụ như, có một video Amanda làm từ năm 2014 tên là “Một ngày trong cuộc đời tôi” quay cảnh cô đi đến một khu mua sắm với một người bạn “vừa làm lông mày.” “Còn tôi thì lười quá,” Amanda nói trên màn hình, lúc này cô đang nằm trên ghế bành cùng chiếc máy tính. “Thế nên tôi chỉ thư giãn trên Netflix. Netflix là cuộc sống của tôi. Netflix là ‘bae’ của tôi – nghĩa là một người bạn, bạn trai, hoặc là người mà mình đang thầm thích.” “Tôi đang xem phim Những nội trợ kiểu Mỹ,” cô nói, nhắc đến bộ phim hài kịch được làm những năm 2000 về những người phụ nữ giàu có vừa là bạn, vừa là thù. Video mà thực sự chỉ quay cảnh cô đang ngồi xem ti vi có hơn một triệu lượt xem.
“Tất cả những gì trang YouTube và các trang mạng xã hội của tôi thể hiện chỉ xoay quanh những gì mọi người muốn từ tôi,” Amanda giải thích. “Ở phần cuối của mỗi video, tôi luôn hỏi, ‘Các bạn muốn xem gì tiếp theo?’ bởi vì họ là tất cả đối với tôi,” ý cô nhắc đến những người theo dõi và hâm mộ cô. “Họ là tất cả những lượt xem của tôi… thế nên tôi thực sự muốn biết họ muốn gì… Bạn cần hiểu được khán giả muốn gì, điều gì thu hút họ,” để thành công trên YouTube, cô nói.
“Tôi nghĩ rằng điều đó quan trọng hơn là mọi người nghĩ,” cô nói. “Tất cả những gì bạn cần làm là khiến khán giả vui lòng, tuy nhiên, đôi khi mọi người phán xét bạn dù bạn có làm gì đi nữa, thế nên, nó luôn là một điều bạn nghĩ trong lòng, như kiểu ‘Tôi có nên là chính mình ở trên mạng không, hoàn toàn là mình? Hoặc tôi có nên làm theo những thứ mà mọi người muốn xem nhiều hơn nữa?’ Thế nên cũng rất khó,” cô nói – ý cô nói đến việc tìm hiểu xem liệu mọi người thích con người thật của bạn, hay liệu bạn cần phải trở thành người mà họ muốn bạn trở thành, để có thể thu hút được nhiều sự chú ý và lượt thích hơn.
“Và bây giờ nó đã trở thành một việc lớn này,” cô nói giọng vui vẻ, nhắc đến cô và thành công của cô. Cô cười. “YouTube đã chiếm trọn cuộc sống của tôi… Mọi thứ trong cuộc sống của tôi đều xoay quanh mạng Internet.”
Khi số người theo dõi Amanda tăng lên, cá tính trên mạng của cô bắt đầu thay đổi; cô gái bé nhỏ vui vẻ, thực tế đã nhường chỗ cho một “cá tính” tự đắc, một cô gái mà phong cách kỳ quái mang đầy vẻ tán tỉnh, rất giống với những beauty-guru huyền thoại trên YouTube đã xuất hiện trước thời của cô. Cô đã học theo nụ cười tỏa nắng của một người dẫn chương trình buổi sáng – mà thực tế, cô đã trở thành người dẫn cho chương trình trực tuyến của chính cô, The Meetup – Gặp gỡ. Trên màn hình, cô đã chuyển mình thành một cô gái nữ tính, nói nhiều, quyến rũ, cháu gái của Sally Field’s Gidget và Annie Hall.
Những người hâm mộ dường như thích cô Amanda mới này, cũng giống như việc họ thích cô gái trên trang Instagram của Amanda, người mà dường như là một cô gái khác. Trên Instagram, cô là một Amanda “nghệ thuật”, một tín đồ thời trang, một cô gái quyến rũ, một cô gái trông xinh đẹp cả khi cô làm kiểu mặt con vịt. Cô giờ sắc sảo hơn – mái tóc giờ nhuộm màu bạch kim – và có thể khoe chiếc đầu gối rất khêu gợi trong chiếc quần bò rách, hoặc khoe hình thể trong một chiếc áo bơi. (“Bạn mới 15 tuổi… 15… đừng làm quá,” một người theo dõi cô bình luận vậy.) Bạn có thể thấy cô ngồi ăn tối ở nhà hàng Nobu ở Malibu, hoặc tiệc tùng ở nơi trông như một câu lạc bộ đêm; lúc thì cô tạo dáng bên những cô gái xinh đẹp khác; lúc thì cô đi trên thảm đỏ, tận hưởng những khoảnh khắc tuyệt vời. “Tôi muốn giống cô ấy, trời ơi, chẳng công bằng chút nào,” ai đó bình luận như vậy.
“Shopping là bài tập thể dục của tôi,” Amanda viết trên một bức ảnh Instagram mà cô chụp trong một cửa hàng cao cấp, đôi mắt cô như trống rỗng. Trang Instagram của cô thể hiện phong cách của những cô gái lớn lên ở Beverly Hills, những cô gái mua đồ ở Rodeo Drive và khi lớn lên sẽ trở thành Những bà nội trợ kiểu Mỹ.
“Cô ấy đang cố trở thành Kylie Jenner,” một người hâm mộ khó tính bình luận.
“Thật khó khi sống ở tuổi tôi và bị các cô gái khác tấn công liên tục,” Amanda nói, “nhưng bạn phải học từ những điều đó – Tôi trở nên tự tin hơn, mạnh mẽ hơn; nếu tôi không gặp phải những điều ấy, tôi đã không thể vượt qua được, tôi không biết nếu vậy tôi sẽ như thế nào. Những điều này chắc chắn khiến bạn trưởng thành.”
Cô ấy nói cô vẫn chưa thực sự hiểu tại sao các cô gái lại thích cô, bởi cô quá “bình thường”. “Khi tôi tổ chức một buổi gặp với các bạn hâm mộ, hoặc khi tôi tham dự sự kiện mà có những người đứng chờ tôi, tôi vẫn cảm thấy rất sửng sốt. Tôi không hiểu nổi, thật điên rồ. Tôi quá là… bình thường – Thực sự tôi cũng giống như cô vậy. Tôi có thể là bạn thân của bất cứ cô gái nào đến gặp tôi, nhưng họ vẫn… hâm mộ tôi” – cô vẫy vẫy hai tay, diễn tả sự hâm mộ - “và tôi nghĩ ‘Gì cơ?’” Cô lại cười. Năm 2015, cô có hơn 2 triệu người theo dõi trên Instagram và gần 800.000 người trên Twitter.
Cô nói thêm rằng cô không làm bạn với người hâm mộ nào của cô, mặc dù thỉnh thoảng cô lại theo dõi một bạn trên mạng xã hội hoặc thích những bài đăng của họ. “Việc đó làm họ rất phấn khởi,” cô nói. Cô nói rằng cô không làm bạn với ai nữa, ngoại trừ những đứa trẻ nổi tiếng khác trên mạng. “Tất cả bạn bè tôi bây giờ là từ Internet và điều đó thật tuyệt vời,” cô nói, “bởi vì chúng tôi đều liên quan đến nhau… và chúng tôi rất hợp nhau, vì tất cả chúng tôi đều hiểu… Chúng tôi hiểu cảm giác này” khi là những ngôi sao trên mạng Internet.
“Rất nhiều người trong số họ là những người nổi tiếng trên YouTube hoặc trên Vine hay các trang mạng xã hội khác,” Amanda giải thích. “Chúng tôi gặp ở những sự kiện và những buổi gặp người hâm mộ tổ chức ở khắp nước. Có sự kiện tổ chức ở khắp nơi - ở Los Angeles thì có VidCon,” một buổi gặp mặt những ngôi sao trên mạng từ các trang khác nhau, VidCon được thành lập vào năm 2010. “Sự kiện đó rất lớn. Có tới 20 nghìn người và có sân khấu dành cho những người biểu diễn trên mạng xã hội. Có những nhân vật trên YouTube và những chàng trai Magcon,” nhóm những chàng trai ngôi sao của Vine, họ thường lưu diễn cùng nhau và tổ chức những sự kiện của riêng họ. Amanda giờ đây nằm trong một nhóm bạn gồm khoảng 100 người nổi tiếng, tất cả đều là những ngôi sao mạng xã hội; mỗi người đều có không ít hơn 500 nghìn người theo dõi trên trang YouTube của mình – đó là con số tối thiểu được ngầm hiểu là điều kiện để gia nhập nhóm, cô nói.
“Đó là một điều kỳ diệu và thật tuyệt khi là một phần trong đó,” Amanda nói. “Tôi muốn làm bạn với những người ở cùng vị trí với tôi… Họ đến từ các bang khác nhau nhưng giờ đây họ đều chuyển đến LA để theo đuổi sự nghiệp của mình.” Cô nói cô có một tầm nhìn rằng sự nghiệp của cô sẽ là sự phát triển của tất cả những gì bây giờ cô đang làm; cô muốn tập trung nhiều hơn vào nghề người mẫu, diễn viên, có một dòng thời trang của riêng mình. “Tôi muốn thử mọi thứ. Tôi muốn có một thương hiệu riêng vào một ngày nào đó.”
“Giờ tôi đang theo học một trường học trên mạng,” cô nói. “Tôi phải nghỉ học ở trường cũ. Tôi đi du lịch quá nhiều và làm việc quá nhiều nên tôi không theo học ở trường đó được. Sẽ thật tuyệt nếu được là một cô gái bình thường, đến trường học, nhưng tôi thực sự thích cuộc sống của tôi bây giờ.”
“Nó không thể đến trường được,” chị gái của Amanda, Lauren, nói. Lauren đến trò chuyện cùng chúng tôi. Cô đang học đại học, và về nhà sống trong đợt nghỉ hè. Cô có mái tóc đen dài, đeo chiếc khuyên mũi, và mặc một chiếc áo phông rách mang phong cách ‘rock ‘n’ roll’ bên ngoài một chiếc áo lót đen. Lauren thường xuất hiện trong những bức ảnh Instagram của Amanda với tư cách một bà chị sắc sảo. “Mọi người phát sợ nó luôn,” Lauren nói. “Nhưng nó lại là đứa nhút nhát nhất. Mấy đứa 14, 15 tuổi toàn ăn mặc luộm thuộm, còn nó lúc nào cũng sạch sẽ và gọn gàng. Nó không làm bạn với mấy đứa nhóc ở trường được. Nó thể hiện mình tốt hơn. Bọn kia toàn ghen tị với nó.”
Amanda không nói gì, chỉ lắng nghe.
Chiều muộn ngày hôm đó, Amanda bước ra trong bộ đồ đen, và tự quay cảnh cô bên hồ bơi. Cô đặt chiếc Canon DSLR với một chiếc micro bọc mút bên ngoài trên một chiếc chân máy ảnh và chụp một tấm hình thời trang, khoe vẻ ngoài của cô. “Chào các bạn, mình là Amanda,” cô nói, vẫy tay với chiếc máy ảnh và mỉm cười. “Hôm nay tôi sẽ cho các bạn xem những bộ trang phục trong tuần của tôi…” Cô tạo dáng với chiếc quần soóc, móng tay, giày, khăn cuốn. Cô uốn éo rồi nhảy lên. Cô diễn một cách đầy quyến rũ, hôn gió với chiếc máy ảnh. Khi cô đã quay xong, cô ngồi xuống trên chiếc ghế bành ở phòng khách và chụp một vài tấm selfie. Cô thè lưỡi ra rồi mím môi lại và cười, và nháy mắt với hình ảnh của cô trên màn hình iPhone.
----------
Vine
Khi tôi hỏi những cô gái ở khắp đất nước tại sao những chàng trai lại cư xử như những “kẻ man rợ” và những “thằng khốn nạn”, nhiều cô nói: “Vine.” “Những ngôi sao Vine.” “Họ muốn giống như Nash Grier và mấy chàng trai nổi tiếng trên Vine.”
Vine được thành lập vào năm 2012 bởi ba chàng phát triển web ở New York và được Twitter mua lại trước khi nó được tung ra. Giờ đây, theo thông tin của Vine, ứng dụng này đã trở thành một trong những dịch vụ trực tuyến phổ biến nhất, với 200 triệu thành viên hoạt động tích cực hàng tháng và 1,5 tỷ phim Vine được xem hàng ngày. Nó là một chuỗi những khoảnh khắc diễn ra thường ngày: mọi người nói chuyện, mua sắm, lái xe, ăn, đi bộ, chơi với em bé và chó, tồn tại, thường là để khiến những người xem cười. Khi người xem cười nhiều, họ có thể trở nên nổi tiếng. Họ trở thành “người Vine”.
Những sao Vine nổi tiếng nhất thường là những chàng trai trẻ hoặc đàn ông trưởng thành. Năm 2015, Business Insider đưa ra một danh sách gồm 30 người nổi tiếng nhất trên Vine dựa theo số lượng người theo dõi; chỉ có 5 người trong đó là nữ. Những “người Vine” được yêu thích nhất là những diễn viên kịch vui, và những người pha trò, nhiều chàng trai Mỹ biểu diễn lang thang và nói những câu chuyện phiếm. Họ đều có những thắng lợi riêng. Họ dễ thương và ngốc nghếch, và hàng triệu cô gái yêu họ theo cách mà những cô gái từng yêu John, Paul, George và Ringo – thực tế là, rất nhiều những đoạn phim Vine bây giờ cần phải trả công cho phong cách sống động của bộ phim Đêm của một ngày vất vả của Beatles (không kể đến cách làm phim tài năng). Những trò lố của họ thường là vô hại: họ trượt trên ván trượt đi loanh quanh, họ cưỡi mấy chiếc xe đẩy siêu thị, họ nhảy theo những bản nhạc rap trong phòng khách, và các trò tinh nghịch khác.
Tuy nhiên, cũng có những dấu vết độc hại trong văn hóa của những chàng trai Vine mà thường không được để ý trong những hồ sơ truyền thông đẹp đẽ của họ, khi mà sự chú ý họ nhận được trong thế giới trực tuyến đã chuyển hóa thành sự nổi tiếng trong thế giới thực, với những hợp đồng quảng cáo cho các hãng thời trang, các bộ phim và các chương trình truyền hình. Thậm chí, gần như đã có một thể loại nội dung trên Vine, trong đó các chàng trai Vine lấy các cô gái ra làm trò cười – cách các cô nói chuyện, ăn mặc, thể hiện, nhảy múa, và liên hệ với các chàng trai. Nhưng chúng ta cũng có thể cảm nhận nội dung này như một sự vui đùa không có ác ý – rằng “các chàng trai Vine chỉ đang cư xử như các chàng trai bình thường mà thôi,” và không có ý hại ai cả - còn nếu bạn phản đối, bạn có thể trở thành đối tượng mà các chàng trai Vine trêu chọc.
Có những nội dung Vine mà các chàng trai trong đó tỏ ra hung ác, “man rợ,” theo ý đơn thuần là mang tính xúc phạm. Trong một nội dung trên Vine của Carter Reynolds, một chàng trai 19 tuổi đến từ North Carolina, một cô gái nói với cậu ta rằng cô ấy đã có một buổi hẹn hò vui vẻ với cậu, và cậu trả lời, “Mình không thể chờ để được gặp lại những chiếc núm vú, à ờ, lúm đồng tiền to đẹp của cậu!” Sam Pepper, 26 tuổi, một ngôi sao người Anh trên YouTube và Vine, đã đưa ra một đoạn video “tinh quái” năm 2014 khi cậu ta đi loanh quanh quay lại phản ứng của những phụ nữ khi bất ngờ bị anh chàng sờ mông. Còn có những vụ việc khó chịu hơn liên quan đến các ngôi sao Vine trong đời thực. Năm 2014, Viner Curtis Lepore, bây giờ 32 tuổi, bị buộc tội tấn công nghiêm trọng cô Jessi Vasquez, hiện giờ 22 tuổi, một người nổi tiếng trên Vine với cái tên Jesse Smiles, người đã buộc tội Lepore cưỡng bức cô (lời buộc tội này không cấu thành tội danh). “Tôi không còn cảm thấy đáng sống trên đời này nữa. Tạm biệt” Smiles đã chia sẻ trạng thái này sau khi Lepore bị bắt. Bây giờ có vẻ cô ấy đã khá hơn rồi. Và Lepore cũng vậy. “Theo tin khác,” anh đăng sau khi nhận quyền tự bào chữa, “tôi vừa có 3,9 triệu người theo dõi trên Vine. Ngoài những chuyện không may kia ra, tôi vẫn đang sống tốt.” Anh thêm vào biểu tượng hình của bàn tay ra dấu hiệu “OK.”
Nash Grier là ngôi sao lớn thứ hai trên Vine mọi thời đại – anh tự nhận mình là “Vua Vine”, với hơn 12 triệu người theo dõi. Anh đã xuất hiện trên danh sách những trẻ vị thành niên có sức ảnh hưởng nhất năm 2014 của Time và được Tin tức ABC gọi là “người phi thường trên mạng xã hội”. Năm 2015, Grier, giờ 18 tuổi, một anh chàng mắt xanh da trời gốc Bắc Carolina, được đánh giá cao hơn cả Nhà Trắng trên mạng xã hội. Cũng giống như Reynolds, anh là thành viên của “gia đình Magcon”, hội anh em Vine gồm Cameron Dallas, Jack Johnson, Jack Gilinsky, Taylor Caniff, Shawn Mendes, Aaron Carpenter và Matt Espinosa (nhóm này đã tan rã vào năm 2014). Một bài đăng trên website của Magcon viết, “Đừng lo, bố mẹ của các bạn trai này sẽ đến để đảm bảo rằng họ sẽ không làm điều gì họ không nên làm. Bạn có thể nghĩ rằng những chàng trai này ích kỷ, coi mình là nhất, còn thiếu chín chắn và chỉ đang tìm kiếm sự chú ý và tiền bạc. Nhưng không, họ không phải vậy. Nhiều cô gái đã chia sẻ, bình luận, hoặc nói trực tiếp với họ rằng họ đã cứu sống các cô. Những chàng trai này đã thuyết phục nhiều cô gái rằng các cô có nhiều giá trị và cuộc sống này đáng để đấu tranh. Họ đã giúp cứu sống nhiều cô gái.”
Sự nổi tiếng của Grier vẫn giữ vững giống như Reynold sau một scandal xảy ra vào năm 2014 khi anh được Vua YouTube – Tyler Oakley – gọi tên vì đã đăng lên trên Vine một video trong đó anh ta hét to chữ “thằng đồng tính.” (Grier sau đó đã xin lỗi, nói rằng lúc đó anh ta “không ở một trạng thái tốt,” và đã gỡ video đó xuống.) Sau đó, mọi người phát hiện ra Grier đã từng dùng những từ khác nữa thể hiện sự miệt thị với người đồng tính, trong nhiều bài đăng trên Twitter.
Anh ta cũng từng đăng những nội dung nói móc mé người châu Á trên Vine.
Nhưng điều thực sự khó hiểu là tại sao Grier vẫn có thể thu hút thêm nhiều người hâm mộ sau khi một video YouTube có tên “Con trai Tìm gì ở Con gái” khiến mọi người bất bình về nội dung mang tính phân biệt giới tính của nó. Trong một đoạn hội thoại dài chín phút, Grier và hai người bạn khác, ngôi sao Vine – Cameron Dallas – 19 tuổi và ngôi sao YouTube – Jc Caylen – 21 tuổi, nói về “điều gì ở con gái thu hút chúng ta nhất,” mà không liên quan đến tính cách hay trí thông minh. Grier có nói rằng anh ta thích những bạn gái có “những mục tiêu và tham vọng riêng,” nhưng lại nói về việc “nhiều cô gái ngày nay chẳng làm gì cả, họ chỉ muốn trúng quả, kiểu như… phải rồi, tôi sẽ cưới một anh chàng giàu có.” Để trở nên hấp dẫn, Grier nói, một cô gái “cần [phải] thú vị… làm vui được tôi.” “Tôi ghét khi mấy cô gái cứ sồn sồn lên, nói to và nổi khùng… bình tĩnh nào,” anh ta nói. Anh ta còn đưa lời khuyên cho những cô gái khi nhắn tin cùng con trai: “Nếu bạn chảnh quá, thì mọi thứ sẽ kiểu ’Ôi, cô ấy thậm chí chẳng thích tôi,’ nhưng nếu bạn quá dễ dãi, thì mọi thứ lại kiểu ’Ôi, cô ấy quá lẳng lơ.’ Hãy tìm điểm cân bằng ở giữa.” Video này được đăng lên trong vài ngày và sau đó bị gỡ xuống, nhưng mọi người vẫn thấy nó trong các bài đăng lại.
“[Video] đó là một việc lớn,” Sophia ở Montclair nói.
“Ai cũng xem được. Nhưng trên YouTube có cả triệu video giống như vậy.” Thực tế là, nếu bạn tìm kiếm “cách để có một chàng trai” trên YouTube, thì sẽ cho ra hơn 26 triệu kết quả. “Giống như, ’10 cách để có một chàng trai,’ ‘Làm sao để khiến một chàng trai thích bạn,’ ’10 cách thể hiện chàng không thích bạn,’ dạng như vậy,” Sophia nói. “Các chàng trai luôn đăng lên những video trên YouTube nói cho con gái cách để gây ấn tượng với họ - nó ở khắp nơi trên YouTube, và có hàng triệu lượt xem. Tôi xem chúng suốt. Tôi muốn biết bọn con trai nghĩ gì về tôi – như kiểu ‘Ôi chờ đã, liệu tôi có nên hất tóc nhiều hơn, hay cắn môi nhiều hơn không?’”
Brooklyn, New York
Trên lối đi từ tàu điện ngầm lên đường cái để về khu nhà mình ở, Edie vẫn nghe bài hát ấy. Chạy lên những bậc thang đến Grand Army Plaza, cô vẫn nghe bài hát ấy; vừa khóc vừa chạy xuống Seventh Avenue, cô bật bài hát ấy. Cô đã tưởng tượng ra được cảm giác sẽ thế nào nếu trở thành một người khác, một con người bí mật mà không ai biết đang tồn tại; cô đang dần sẵn sàng cho việc mà cô chuẩn bị làm – và thứ cảm giác nhẹ nhõm, buông tay khỏi tất cả những gì đã xảy ra ngày hôm đó, cũng như mọi ngày khác, ở trường.
“I’m so fancy / You already knoooow”
Cô đóng sầm cánh cửa và chạy vào phòng, ném chiếc ba lô lên giường, cởi bỏ bộ quần áo đang mặc và chui vào chiếc quần soóc ngắn nhất, chiếc quần cô không được phép mặc khi ra ngoài và cũng chưa bao giờ muốn mặc (nếu mặc thì sẽ “xấu hổ” lắm), và một chiếc áo ngắn bó – cũng như trên – và trong chiếc tủ thuốc của mẹ, cô thấy vài thỏi son, NARS đỏ rừng rú, và ở phía đằng sau tủ của mẹ, đôi giày cao gót Steve Madden mà mẹ cô hay dùng trong các buổi hẹn hò.
Tai nghe sẵn sàng, iPod đã bật, cô hít một hơi dài khi đứng trước tấm gương đang treo trên phía sau cánh cửa phòng ngủ, cô ngắm nhìn mình trong gương và cảm nhận mình đang nóng bỏng dường nào, cô đã hoàn toàn lột xác. Cô không còn là cô gái nhàm chán trong chiếc áo len, giày thể thao và quần jeans nữa. Trông cô giống như một cô gái trên Instagram, trên Tumblr.
Một ngôi sao.
Trong cuộc sống thực, cô không phải là một cô gái mà các chàng trai cho là “nóng bỏng”. Cô là một cô gái được xếp vào danh sách “Những cô gái xấu xí nhất.” Những chàng trai thường có thang điểm từ 1 đến 10 và Edie được đánh giá bằng một số “0” tròn trĩnh. Nhưng trong thâm tâm, cô biết rằng mình không thuộc về danh sách ấy. Khách quan mà nói, cô có thể nhìn xung quanh và thấy rằng, mình không khác gì mấy so với những cô gái được cho là “nóng bỏng”. Nhưng hồi học lớp 8, cô nói, cô bị cho là “xấu xí” vì cô không phải người da trắng. “Hoặc tôi không phải là một cô gái da đen ‘đúng loại’,” cô vừa nói vừa đưa tay lên làm dấu ngoặc kép. “Tôi không phù hợp với những tiêu chuẩn họ mong đợi ở một cô gái da đen. Tôi bị xã hội ruồng bỏ.”
Cô và Iggy Azalea lang thang trong khu sảnh, cười vào những cô gái không thể đứng bên cạnh họ. Cô nhảy múa.
Điều mà Edie không hiểu đó là những cô gái “nổi tiếng” và những cô gái “không mấy nổi tiếng” trong trường ăn mặc giống y như nhau – “kiểu, rất hở hang” – thế nhưng những cô gái nổi tiếng thì không bị gọi là thế này thế nọ, còn những cô gái không nổi tiếng lắm thì sẽ bị gọi là “lẳng lơ.”
Thực sự là rất khó hiểu.
Cô không hiểu được tại sao một cô gái như Minerva, mặc quần ngắn áo crop-top và hầu như ngày nào cũng vi phạm trang phục – đó là lúc bạn bị gọi vào trong văn phòng và được yêu cầu thay sang quần áo phòng tập hoặc thậm chí bị gửi về nhà – thì bị cả con trai và con gái gọi là “dâm”; nhưng Savannah, người ăn mặc gần như y chang với Minerva, quần soóc ngắn và áo ngắn khoe ra nửa ngực, thì lại nổi tiếng và cầm đầu trường này, và chẳng ai gọi cô ấy là gì cả. (“Lộ một chút ngực thì cũng đâu có hại ai,” Kendall Jenner đặt tên cho một bức ảnh gợi cảm trên Instagram vào năm 2014.) Chẳng có vẻ gì là công bằng cả.
Có phải bởi vì bố của Savannah nổi tiếng không? Ông ta là một người hay xuất hiện trên tin tức. Edie cho rằng có thể liên quan đến điều đó. “Ở New York, nếu bố hay mẹ bạn là người nổi tiếng, thì mọi người đều nghĩ bạn thật ngầu.” Và có vẻ như những người nổi tiếng có thể làm bất cứ điều gì họ muốn. Bố mẹ của Savannah hút cần sa với Savannah và chẳng quan tâm nếu bạn trai cô ngủ trên cùng chiếc giường với cô vào buổi tối. Bố mẹ cô nói rằng việc để bạn ấy ngủ lại là lựa chọn của Savannah. Hoặc chỉ là Savannah nói vậy. Mọi người nghĩ rằng bố mẹ của Savannah thật “ngầu”. Họ nói Savannah thật ngầu. Edie nghĩ rằng nó thật kỳ cục.
Giờ đây khi bạn trai của Savannah, Sam, có một nhóm các cô gái cổ động đi theo, Savannah trở nên rất quyền lực. Họ theo Sam đi khắp nơi và bám theo cậu ta trên mạng xã hội. Họ thậm chí còn cắt tay vì cậu ta – họ nói họ đang “cắt tay vì Sam,” tự cắt tay mình như cách mà họ từng nghe về những cô gái “cắt tay vì Bieber.” (Năm 2013, những thành viên của bảng thông tin Internet mang tên 4Chan đã tung ra một tin thất thiệt rằng nhiều cô gái vị thành niên đã tự cắt tay mình để ngăn Justin Bieber ngừng hút cần sa. Những tài khoản ảo của Twitter đã đăng lên những bức ảnh của những cánh tay và cổ tay chảy máu cùng hashtag #cắt_tay_vì_ Bieber. Dù cho đây là những tin thất thiệt, nhưng mọi người vẫn lo lắng rằng #cắt_tay_vì_Bieber có thể kích động nhiều người làm theo)
Nhiều cô gái phát cuồng lên về việc nhận được sự chú ý, Edie nói, như thể họ có thể làm bất cứ điều gì để có nó. Bất cứ thứ gì để nhận được những lượt ‘like’. Minerva có thể đăng một bức ảnh cô ấy trong bộ bikini và mọi người sẽ trêu chọc cô và gọi cô ấy bằng tên này tên khác, nhưng cô ấy vẫn nhận được đến 100 lượt thích – đa phần là từ các chàng trai. Những cô gái sẽ đăng lên những bình luận để trêu chọc Savannah và cân nặng của cô, rồi dáng người cô, kiểu như vậy (“Dạo này ăn kiêng ah?”). Và rồi Savannah sẽ đăng lên một tấm hình cô ấy mặc chiếc áo tắm nằm bên cạnh bể bơi của bố mẹ ở Hamptons – “Chỉ thư giãn thôi,” có thể caption sẽ ghi vậy, hoặc một thứ gì đó “ngu ngốc” giống vậy – và cô sẽ nhận được đến 300 lượt thích cho bức hình đó. “Đúng vậy luôn, phải đến 300 lượt like”.
Edie và Savannah từng là bạn thân nhất khi họ còn nhỏ. Họ thường chơi cùng nhau ở công viên Prospect. Bà vú của họ cũng là bạn của nhau. Họ cùng đu xích đu với nhau, chạy trên sân chơi cùng nhau, đẩy xe đẩy với những cô búp bê trong đó bên cạnh nhau. Họ là bạn thân cho tới lớp 5, rồi lớp 6… và lớp 7 thì một việc đã xảy ra. Savannah trở nên rất ngầu. Còn Edie thì không. Cô là một cô gái da đen lớn lên trong một khu toàn người da trắng – Park Slope – vì thế mọi người đều khiến cô nhận thấy sự khác biệt về chủng tộc của cô. Họ làm vậy mà, cô nói, “ngày nào cũng thế.” Mọi người luôn nói này nọ với cô và mẹ cô – những điều kỳ lạ, như là, “Bạn là cái gì vậy?” như thể Edie còn không phải là người mà là một sự vật gì khác. Từ sớm, cô đã biết được rằng cô có nước da màu “nhờ nhờ”. “Mọi người từng hỏi tôi có phải tôi là người Tây Ban Nha hay Thổ Nhĩ Kỳ không,” cô nói. “Tại sao họ lại cần phải biết chứ?”
Nhưng có một người dường như chưa từng nhận biết sự khác biệt về màu da của cô, hoặc nói bất cứ điều gì về nó theo cách này hay cách khác, đó là Savannah. Với cô ấy, Edie chỉ là Edie mà thôi. “Cậu là Edie của tớ,” Savannah nói với cô như vậy trong khi ghì chặt cô và ôm chầm lấy cô. Hai người thường chơi trò chị em với nhau. Và rồi một ngày trong năm lớp 7, sau khi Savannah trở nên ngầu, bỗng nhiên cô quay lại và nói với Edie rằng, “Cậu không ứng xử giống người da đen lắm, cậu biết điều đó không?”
“Ý cậu là sao?” Edie hỏi, cảm thấy khó chịu. Savannah đã làm nhiều việc khiến cô khó chịu trong thời gian đó, nhưng điều này “thực sự khiến tôi cảm thấy nôn nao.” “’Người da đen ứng xử’ như thế nào cơ?” cô hỏi Savannah.
Savannah nhún vai theo kiểu rất ngầu mà cô đang học theo. “Mình không biết nữa,” cô nói, “như kiểu, người da đen rất ngầu ấy.”
Edie á khẩu và thấy thật kinh hoàng. Tại sao Savannah lại cho rằng cô ấy hiểu người da đen như thế nào chứ - hoặc nói thẳng ra, ngầu là cái gì? Hầu hết mọi thứ mà người da trắng nghĩ ra ngầu đều xuất phát từ văn hóa của người da đen, nhưng điều đó không có nghĩa rằng người da đen không còn là người da đen nữa nếu họ không phải là nghệ sĩ hát rap hay không phải là Samuel L. Jackson. Savannah có thực sự nghĩ rằng cô ấy có quyền nói với Edie rằng Edie đã “đủ da đen” hay chưa?
Edie không ngầu. Cô biết rằng cô không ngầu. Cô thích những thứ không ngầu mà mọi người thích: Taylor Swift, phim Doctor Who và Drake & Josh. Cô không thích những nội dung truyền thông thô thiển, thiếu thẩm mỹ mà bọn trẻ đồng lứa với cô thích từ khi học lớp 2, lớp 3 – Spongebob SquarePants, Adventure Time, và Family Guy (những bộ phim hoạt hình với những câu chuyện đùa ghê tởm); và rồi đến lớp 6, lớp 7 thì có Gossip Girl, Pretty Little Liars, và Degrassi (những phim truyền hình dài tập về những trường trung học và bọn học sinh thì xấu tính). “Thực sự là rất không phù hợp,” Edie than phiền. “Những thứ đó không nên dành cho những người tuổi tôi.” Cô có những suy nghĩ rất rõ ràng về việc trẻ em thì “nên” và “không nên” xem cái gì. Cô cho rằng cô học những điều đó từ mẹ cô và bà cô, người đến từ vùng Caribbean, “rất nghiêm khắc”, và cho rằng tụi trẻ ngày nay “lớn quá sớm”.
Nhưng sự việc đỉnh điểm khiến tình bạn Edie và Savannah tan vỡ vào năm lớp 7 không liên quan đến những bình luận về chủng tộc của Edie, mà việc Savannah đã kể với một vài người bạn trong trường rằng Edie “thích” một cậu bé tên là Harrison. Harrison là một chàng trai có mái tóc nâu bóng bẩy, vuốt ra phía trước trán như những đợt sóng biển. Edie thích cậu ta từ đầu năm, và khi cô nói điều này với Savannah, Savannah chỉ cười và nói, “Không thể nào.”
Chẳng bao lâu thì cả trường biết – kể cả Harrison. “Cứ như là tôi có thể nào thích cậu đấy,” cậu ấy nói với Edie trong sảnh trường một ngày nọ khi có các cô gái khác vây quanh, cả hội đang cố nhịn cười. “Cậu như là cô gái xấu nhất trường vậy,” cậu ta tuyên bố. Thật bế tắc. Và bây giờ Edie đang đứng ở đầu “cái danh sách ấy”.
“Họ có một danh sách của những người nóng bỏng nhất và những người xấu xí nhất,” cô nói. “Bọn con trai làm vậy đấy.”
Sau đó, hội bạn bè chia ra thành Nhóm Edie và Nhóm Savannah. Những cô gái là bạn chung của hai người buộc phải lựa chọn. Savannah dễ dàng lôi kéo bạn bè về phía mình. Cô ấy có quá nhiều thứ mà bạn bè cô thích, hơn là Edie. Giờ đây, ở các buổi tiệc tùng ở nhà Savannah, tụi học sinh sẽ chơi trò Quay Chai và trò Bảy Phút Trên Thiên Đường, rồi chúng uống bia rượu, và hút cần sa. “Họ sẽ nói kiểu ‘Mình xin lỗi nha Edie, mình không thể cùng chơi với cậu được nữa. Gặp cậu sau nhé,’” Edie nói. Mọi người không còn nói chuyện với cô nữa, “gần như vậy”. Cô ngồi ăn trưa một mình trong phòng ăn. Những người thân thiết với cô suốt cả cuộc đời, họ nói ‘Tớ mong cậu có thể hiểu.’”
Trong hoàn cảnh bị xa lánh như vậy, cô còn bị tập trung chú ý nhiều hơn; và bỗng dưng thế nào, mà những lời trêu chọc cô lại toàn bóng gió đến chủng tộc của cô. Bọn học sinh nói rằng cô có “mái tóc mì ramen”.
Sau khi việc đó diễn ra một thời gian, mẹ Edie khuyên cô nên cắt tóc, “chỉ để thử một phong cách mới thôi mà”’ nhưng Edie biết rằng việc đó là để bọn kia ngừng nói những điều xấu tính với cô, và cô rất buồn lòng khi biết mẹ mình phải lo nghĩ về chuyện này. Nhưng cô đã làm vậy. Edie đã cắt tóc tém và nhuộm vàng. Và sau đó, bọn bạn cùng trường lại nói cô trông như Chris Brown. “Này, Chris, Rihanna đâu rồi?”, mấy đứa con trai nói vậy, ý nhắc đến mối quan hệ không mấy suôn sẻ của ngôi sao ca nhạc Chris Brown và Rihanna, đã kết thúc năm 2009 khi Brown bị buộc tội tấn công tình dục với Rihanna.
Dần dần, những người diễn hài và những người dùng mạng xã hội coi nhẹ hơn về vụ ngược đãi này. “Trò đùa Chris Brown đánh Rihanna” cho ra 250 nghìn kết quả khi tìm kiếm trên Google. Hơn 20 năm sau việc ra đời của Luật Về Bạo lực Chống lại Phụ nữ, theo đó hình phạt liên bang được áp dụng cho những hành vi bạo lực gia đình, theo một nghiên cứu được thực hiện năm 2014 bởi những nhà nghiên cứu thuộc Trường Tâm lý Chuyên nghiệp Chicago, mọi thứ “tiếp tục được coi là bình thường sau những mô tả hài hước trên các kệ tin tức, tạp chí, quảng cáo, và các chương trình truyền hình,” và bạn có thêm mạng xã hội vào danh sách đó. Những chàng trai cô gái Mỹ thường đều đã nhìn thấy những chuyện đùa và những câu nói lóng về bạo lực gia đình trên mạng, giống như một người đàn ông đã nói mỉa, “BẠN SẼ LÀM GÌ NẾU NHƯ CHIẾC MÁY RỬA BÁT CỦA BẠN NGỪNG HOẠT ĐỘNG? ĐÁNH NÓ.”
Trong khi đó, bạo lực gia đình tiếp tục là một vấn đề quốc gia. Các Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống bệnh tật (CDC) ước tính mỗi năm có 1,3 tỷ phụ nữ ở Mỹ trải qua các vụ bạo lực gia đình. Năm 2011, CDC cho biết gần 10% học sinh trung học báo cáo rằng họ đã trải qua một dạng nào đó của bạo lực thể chất, do những người họ hẹn hò gây ra trong năm trước đó. Ngày nay, có một loại bạo lực gia đình mới trong việc hẹn hò của trẻ vị thành niên, qua điện thoại di động. Một nghiên cứu năm 2007 của đội Nghiên cứu Trẻ vị thành niên Không giới hạn, những đứa trẻ cho rằng “lạm dụng khi hẹn hò trên mạng” là một “vấn đề nghiêm trọng.” Ví dụ như khi những kẻ lạm dụng cố kiểm soát đối tác của mình bằng việc nhắn tin và gọi điện liên tục, hoặc cố kiểm soát và đe dọa họ qua việc nhắn tin và đăng tin lên mạng xã hội. Đôi khi, những kẻ lạm dụng lập một danh sách bạn bè để kiểm tra đối tác của mình và đeo bám họ với mạng xã hội và điện thoại… Nhiều người đã tạo những tài khoản Facebook ảo để kiểm tra xem liệu đối tác của họ có đang có nói chuyện ong bướm hay đang lừa dối không. “Mạng xã hội làm cho người ta bị ám ảnh,” Jenna – một cô nữ sinh 19 tuổi tại trường Đại học Hunter – nói.
Edie nói rằng một cậu bé ở trường cô đã cười nhạo và nói cô là một “em bé khu ổ chuột” và không có bố. Trên thực tế, mẹ của Edie là một phụ nữ rất thành đạt và bà chủ động lựa chọn trở thành một bà mẹ đơn thân.
Có một cô gái ở trường vẫn đang nói chuyện với Edie, cô gái duy nhất vẫn nói chuyện với Edie khi không còn ai khác xung quanh cô. “Chúng tôi đang ở trong nhà vệ sinh,” Edie nói, “và chúng tôi bắt đầu nói về việc mọi thứ đang diễn ra điên rồ như thế nào, và cô ấy nói ‘Ừm, nếu một ngày nào đó, cậu có thể mặc một chiếc áo ngắn hơn chút, thì mọi người có thể sẽ thích cậu hơn đấy.’ Và tôi hỏi ‘Nhưng tại sao chứ?’ Rồi cô ấy nói ‘Thì nếu cậu bắt đầu ăn mặc gợi cảm, thứ hạng của cậu sẽ cao hơn’. Nếu bọn con trai để ý đến cậu, nó cũng sẽ ảnh hưởng đến phản ứng của bọn con gái.” Và tôi nói với cô “Bạn không nên ăn mặc theo vì con trai.”
“Vấn đề là,” Edie nói, “nếu bạn hỏi các cô gái họ có ủng hộ nữ quyền hay không, họ sẽ nói có, vì đó là một xu hướng nghe có vẻ hay ho. Nhưng thực ra họ không phải theo chủ nghĩa nữ quyền, vì họ đang tự biến mình thành những món đồ trang trí.”
Edie đã thử đến gặp người tư vấn học sinh tại trường và nói chuyện với cô về những gì đang xảy ra, nhưng chỉ có một người tư vấn cho hơn 350 học sinh và “cô ấy có vẻ quá nhiều việc. Cô ấy hỏi tôi, tôi đã cắt tay, hay có đang nhịn ăn hoặc bị cuồng ăn, và những thứ kiểu như vậy hay không, và khi tôi nói không, cô ấy không có vẻ gì lo lắng cho tôi nữa. Như thể cô ấy không còn phải nghe tôi nói nữa vậy.”
Một tối nọ, Edie gọi đến đường dây nóng chuyên ngăn chặn những vụ tự tử.
Buổi tối hôm đó, cô tranh cãi với mấy cô gái nhóm Savannah trên Instagram. Mấy cô gái đã đăng lên những điều rất xấu tính về Edie, thế nên Edie quay một đoạn video trong đó cô nói lên những suy nghĩ của cô về mấy cô gái kia. “Xấu tính thế không có gì là hay ho cả,” cô nói trong video của mình, rồi đăng lên trên ứng dụng. “Xấu tính là điều xấu xí nhất trên thế giới này.” Nó nhanh chóng lan rộng. Chỉ trong vài phút, không có ai thích video của cô, mà rất nhiều bình luận “khủng khiếp”. “Họ nói về bề ngoài của tôi và cách ứng xử của tôi.”
Đó là lần đầu tiên họ từng khiến cô rơi nước mắt.