N
ew York, New York
Xe điện ngầm chạy về khu trung tâm giống như một chuyến đi ba mươi phút dưới “địa ngục”. Trong lúc con tàu lao như tên bắn từ Upper West Side, cô gái đã phải tránh những ánh mắt soi mói. “Bạn là con gái hay con trai vậy?”. Cô gái nhìn chằm chằm vào chiếc điện thoại, nơi cô lẩn tránh những ánh mắt mặc dù cô chẳng thực sự nhìn cái gì trên màn hình điện thoại cả. Nó như bảo vệ cô khỏi phải đối diện với những ánh mắt soi mói. Chính chiếc điện thoại là nơi cô tìm được sự khuây khỏa – “những đứa trẻ chuyển giới trên YouTube đã cứu vớt cuộc đời tôi; chỉ biết rằng họ ở đó, chỉ cần nghe những gì họ nói và thấy họ mạnh mẽ” – và điện thoại cũng chính là nơi khiến cô nhìn sâu vào “quỷ dữ”. “Mọi người sẽ nói bất cứ điều gì về bạn trên mạng xã hội”. Tôi đã từng bị nói là xấu xí, là một kẻ kỳ dị, giả tạo, ’đáng ghê tởm’. Từ đó hay đấy, tôi đã phải tra từ điển để biết nghĩa nó là gì. Mọi người còn nói tôi hãy chết đi. Tôi hết sức ngạc nhiên là đôi lúc tôi còn sống bởi vì thỉnh thoảng tôi thấy mình muốn chết.”
Cô biết nếu trụ lại thị trấn thì cô cũng chỉ có thể là chính mình trong chốc lát. Những ánh mắt vẫn luôn tồn tại. “Chính là cách họ nhìn”. Những cái nhìn thể hiện sự ngờ vực và ghê tởm. “Hay đôi lúc họ chỉ nhìn vào bạn như thể bạn không ở đó – như thể họ đang giết chết bạn bằng việc họ không nhìn vào bạn”. Và sau đó là những lời bình phẩm. “Ai cũng có thể là người đánh giá tôi. Cô sẽ bất ngờ cho xem. Tôi đã từng bị không chỉ những người già mà cả những em gái rất trẻ nói này nói nọ. Lúc đó tôi nghĩ, nhưng sao bạn có thể ghét tôi bởi vì tôi giống bạn chứ? Bởi vì trong tâm khảm tôi là một cô gái? Cô có biết chỉ vì mình là con gái thôi, thì họ đã coi thường chúng ta rồi?”
Cô đã tìm thấy niềm hy vọng khi suy nghĩ về Jazz, một cô gái chuyển giới nổi tiếng, 15 tuổi, ngôi sao trên kênh YouTube của riêng mình và kênh truyền hình thực tế (Tôi là Jazz). “Tôi không giống Jazz”. Montana nói. “Tôi không phải là một cô gái đầy nữ tính”. Nhưng cô yêu Jazz vì tính trung thực của cô ấy và vì cô ấy có cái gì rất “thực”. Tôi rất thích thú với câu trả lời của Jazz khi Barbara Walters từng hỏi, “Điều gì khiến bạn đau đớn nhất trong quá trình chuyển giới?” Jazz đã trả lời, “Bộ phận sinh dục của tôi”. Lúc đó, Montana đã cười váng lên; và sau đó cô lại muốn khóc. Bởi vì Jazz đã không đổ lỗi cho bất cứ ai, cô ấy đã rất chân thực; nhưng Jazz có bố mẹ ủng hộ quyết định để trở thành người như cô mong muốn, và họ có tiền để giúp cô thực hiện được điều đó.
Cánh cửa của tàu điện ngầm mở ra và Montana hòa vào dòng người.
----------
Trên mạng
Nạn ức hiếp, bắt nạt thu hút sự quan tâm của mọi người trên cả nước vào năm 1999 sau vụ xả súng điên cuồng tại trường Trung học Columbine. Các bản tin truyền thông đưa tin về Eric Harris, 18 tuổi, và Dylan Klebold, 17 tuổi, họ từng là nạn nhân của những vụ hăm dọa, chính việc này đã phần nào khiến họ thực hiện cuộc thảm sát kinh hoàng đó. Tiếp sau là vụ xả súng học đường khác tại trường Trung học California một năm sau đó, Luật sư trưởng John Ashcroft đã lên tiếng mạnh mẽ về “sự nghiêm trọng của nạn ức hiếp, bắt nạt”. “Cuối cùng thì người Mỹ cũng đã để tâm”, Emily Bazelon viết như vậy trong tác phẩm Cái gậy và hòn đá: Thủ tiêu văn hóa bắt nạt và tìm lại sức mạnh của nghị lực và lòng cảm thông”. Khi số vụ xả súng học đường của những năm 1990 bằng 70% so với thập kỷ 80, Cơ quan Mật Vụ Hoa Kỳ và Bộ Giáo dục đã triển khai một đợt điều tra về những nguyên nhân của 37 vụ tấn công kể từ năm 1974, và tìm ra rằng, “Trong một vài trường hợp, những kẻ tấn công đơn lẻ đều từng là nạn nhân của nạn bắt nạt và quấy rối, vốn dĩ đã tồn tại rất lâu và nghiêm trọng”.
Tuy nhiên, với vụ xảy ra tại trường trung học Columbine, vấn nạn này không được xem là mấu chốt vấn đề. Một cuộc điều tra kéo dài của FBI chỉ ra rằng Harris là một trường hợp thần kinh không ổn định điển hình trong khi Klebold là trường hợp bị trầm cảm. Kể từ sau vụ Columbine, xả súng trong trường học vẫn tiếp tục diễn ra như một thứ bệnh dịch quốc gia. Trong năm 2014, có đến 35 trường hợp tử vong do xả súng, hầu hết do thanh thiếu niên gây ra. Quấy rối, bắt nạt qua mạng ngày càng được các kênh tin tức nói đến nhiều và được cho là nguyên nhân của tình trạng xả súng vì hai vấn đề này đang cùng gia tăng. Theo Trung tâm nghiên cứu tình trạng quấy rối, bắt nạt qua mạng (CRC), tổ chức nghiên cứu hàng đầu về lĩnh vực này của quốc gia, không có bất cứ cuộc xả súng trường học đơn lẻ nào ở Mỹ là kết quả trực tiếp của việc bắt nạt, quấy rối qua mạng.
Trong khi đó, chúng ta đã chứng kiến sự xuất hiện của một hiện tượng mới gây lo lắng, bất an cho tất cả mọi người: “Hội chứng tự sát do ức hiếp, quấy rối trên mạng” mà CRC định nghĩa là “Tự sát gián tiếp hoặc trực tiếp do ảnh hưởng bởi những trải nghiệm gây hấn tiêu cực qua mạng.” Nhiều nạn nhân của hội chứng này là các cô gái. Trường hợp Megan Meier, một cô bé 13 tuổi đến từ Dardenne Prairie, Missouri, đã treo cổ trong phòng ngủ của mình vào năm 2006 sau khi bị cuốn vào mối quan hệ ảo, lừa gạt qua Myspace bởi một người bạn cũ, mẹ của cô ta, Lori Drew và một nhân viên tuổi vị thành niên của Drew. Hay như trường hợp của Rebecca Sedwick, một cô bé 12 tuổi ở Lakeland, Florida, đã nhảy xuống từ một tháp công nghiệp vào năm 2013 sau khi bị hai cô gái khác bắt nạt trên mạng. “Hãy uống thuốc tẩy và chết đi”, lời của một trong những cô gái bị cáo buộc đã nói với nạn nhân – là một dẫn chứng tàn nhẫn về trường hợp của Amanda Todd, người từng cố gắng tự tử theo cách này. Todd là cô bé 15 tuổi người Canada đã tự sát vào năm 2012 sau khi bị quấy rối cả trên mạng lẫn ngoài đời. Cô đã tự khoe qua webcam cảnh ngực trần trong một cuộc trò chuyện video và một người đàn ông lớn tuổi đã chụp hình ảnh của cô ấy và chia sẻ nó trên Facebook.
Không ai biết có bao nhiêu trường hợp tử vong do quấy rối, ức hiếp trên mạng đã xảy ra. Theo CRC “nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề này rất hiếm. Theo CDC, tỷ lệ tự tử của trẻ từ 10 đến 19 tuổi giảm giữa những năm 1990 và 2003, nhưng sau đó bắt đầu tăng trở lại. Tự tử vẫn là nguyên nhân thứ ba gây tử vong ở trẻ em từ 10 đến 14 tuổi và là nguyên nhân thứ hai ở các thiếu niên lớn tuổi. Các em trai có khả năng thành công cao hơn khi thực hiện hành động tự sát ở tuổi thiếu niên trong khi các cô gái cần nhiều nỗ lực hơn.” Cũng theo CRC, nạn nhân bị quấy rối, đe dọa trực tuyến sẽ có nguy cơ cao hơn gần gấp đôi trong việc cố gắng tự tử, cũng như có ý nghĩ tự tử.
So với con trai, con gái là nạn nhân của quấy rối qua mạng thường xuyên hơn. Nghiên cứu về số lượng trẻ em và trẻ vị thành niên bị bắt nạt, quấy rối qua mạng cho ra những kết quả khác nhau nhưng hầu hết đều cho ra kết luận này. Một cuộc khảo sát bởi Trung tâm nghiên cứu Pew cho thấy hơn 40% con gái trong độ tuổi từ 15 đến 17 bị quấy rối qua mạng trong khi chỉ 30% con trai cùng độ tuổi gặp vấn đề này. Báo cáo năm 2011 của CRC chỉ ra rằng xấp xỉ 25% thiếu nữ đồng tính bị quấy rối qua mạng so với 16% nam thiếu niên đồng tính. Cũng theo nghiên cứu này, hơn 38% thiếu nữ không đồng tính bị quấy rối qua mạng và tỷ lệ này ở nam thiếu niên không đồng tính là hơn 30%. Trái ngược với nhóm nam thiếu niên đồng tính, tất cả các cô gái bị hăm dọa có một đặc điểm chung, họ bị chọn là đối tượng bị quấy rối vì họ từng thể hiện những hành vi và cá tính kích động tình dục.
Trong báo cáo của CRC năm 2010 về “Quá trình bị biến thành nạn nhân của những cô bé thiếu niên”, kết quả của một cuộc khảo sát trực tuyến các cô gái tuổi từ 8 đến 18 đã chỉ ra rằng, trong số hơn 3.000 cô gái được khảo sát, có 38% đang bị quấy rối qua mạng. Những cô gái trong cuộc khảo sát đã nói rằng họ bị “coi thường” và bị “phớt lờ” trên mạng; từng bị đe dọa về tinh thần và bị gọi bằng “những cái tên rất chối tai”, chẳng hạn như “béo”, “xấu”, “đồ hư hỏng” và “con điếm”. Họ nói rằng đã bị chế giễu vì “đưa ra các ý kiến của mình”, họ bị quấy rối tình dục bởi những kẻ nặc danh. Những cô gái chia sẻ rằng việc bị quấy rối qua mạng khiến họ cảm thấy “buồn”, “tức giận”, “thất vọng”, “chán nản”, “bị xúc phạm”, “bị ghét bỏ”, “khó chịu”, “bất lực”, “bị lợi dụng”, cảm thấy “ngu ngốc và nhục nhã”... Một vài cô gái nói rằng việc bị quấy rối khiến họ có cảm giác thiếu an toàn: “Nó khiến cháu sợ hãi. Cháu đôi khi còn không biết hắn là ai nên cháu tự hỏi liệu cháu có bị ai theo dõi không, và điều đó làm cháu rất sợ hãi”. Vài cô gái còn nhận được những lời đe dọa đến tính mạng. Báo cáo của CDC kết luận rằng “những cô bé thiếu niên còn nhận được những lời đe dọa trên mạng với mức độ từ những lời dọa nạt cấp độ nhẹ… tới những lời đe dọa… rất nghiêm trọng”.
Tất nhiên, không phải bất cứ cô gái nào bị quấy rối qua mạng cũng có những ý nghĩ tự vẫn hay cố thực hiện hành vi tự tử; trên thực tế, theo báo cáo của CRC, nhiều cô bé đã từng bị quấy rối trên mạng “tỏ ra mạnh mẽ, phản ứng lại với những hành vi đó”. Nhưng hàng triệu cô bé vẫn đang bị tác động bởi những hành vi quấy rối qua mạng; và rõ ràng chưa có nhiều nghiên cứu về những ảnh hưởng tinh thần, thậm chí là thân thể, kể cả những nguyên nhân của tình trạng này, gồm sự thành kiến và phân biệt giới tính. Hinduja nói “Tôi cảm thấy việc nghiên cứu vấn đề này dường như rất thiếu”.
Một lý do khiến sự quan tâm về vấn đề này còn nhiều hạn chế có thể do những hăm dọa qua mạng đối với các cô gái thường bị xem là “bình thường”, do quan điểm thường thấy ở nhiều người rằng “con gái thường nhỏ nhen”. Justin Patchin, đồng Giám đốc của CRC nói “Khi tôi thuyết trình cho phụ huynh (về quấy rối qua mạng), trường học và cơ quan thực thi luật pháp, phản hồi mà tôi thường nghe là ‘các cô gái thường nhỏ nhen, ích kỷ’, như thể điều đó có nghĩa là chúng ta không thể làm gì. Vâng, người lớn chúng ta mới là tầm thường, ích kỷ. Tôi thấy nhiều người lớn có khi còn nhỏ nhặt hơn những người trẻ tuổi. Chúng ta đã tạo ra những hình mẫu khá tệ khi tương tác trực tuyến.”
Mặc dù nhiều tiểu bang có luật cho phép truy tố hình sự hành vi quấy rối trên mạng, vẫn rất khó để các nạn nhân có thể tìm thấy bất kỳ cơ sở pháp lý nào, do vấn đề phải có bằng chứng chứng minh nguyên nhân và hậu quả liên quan tới các tổn hại, cũng như sức mạnh của Đạo luật Bổ túc Thứ nhất, và thực tế là hệ thống pháp luật đã không theo kịp với công nghệ mới. Trong năm 2007, các công tố viên Missouri từ chối buộc tội Lori Drew khi cho rằng hành vi của cô ta bao gồm việc lôi kéo Megan Meier tham gia vào các cuộc trò chuyện trực tuyến mà về sau dẫn tới việc giao cấu với một đứa trẻ 13 tuổi không vi phạm bất kỳ điều luật nào. Các công tố viên giải thích điều này một phần là vì luật quy định cho các hành vi quấy rối của tiểu bang không bao gồm hoạt động qua mạng. (Drew sau đó đã bị kết luận phạm một loại tội nhẹ qua mạng, nhưng năm 2009, tòa án liên bang đã lật ngược với cả ba bản án đã tuyên này). Trong năm 2013, các cáo buộc nghiêm trọng liên quan đến việc hai cô gái được cho là đã hành hạ Rebecca Sedwick đã bị ngừng lại ngay sau khi công tố viên thấy rằng rất khó để đưa trường hợp này ra phán xét khi không có bằng chứng. Tricia Norman, mẹ của Sedwick, khẳng định với CNN rằng khi vụ việc đã được đưa lên báo chí, thì trang Askfm của Rebecca, nơi cô bị cho là quấy rối, đã bị xóa. (Trang Askfm trả lời rằng họ sẵn sàng hợp tác với chính quyền)
Hinduja nói: “Các luật lệ đã không bắt kịp với tình hình. Họ đang cố gắng sử dụng luật pháp truyền thống đối với những trường hợp trên mạng, và đó chưa hẳn là những gì chúng ta nghĩ về công lý. Dharun Ravi, bạn cùng phòng của Tyler Clementi, đã chấp hành 20 trong số 30 ngày thi hành án.”
Clementi, nam sinh viên Đại học Rutgers, 18 tuổi, đã nhảy cầu George Washington tử tự vào năm 2010 sau khi Ravi cho một người bạn xem cảnh webcam trực tiếp khi Clementi đang hôn một thanh niên trẻ khác trong phòng ngủ tập thể của họ. Sau cái chết của chàng sinh viên này, Jamey Rodemeyer - một cậu bé công khai đồng tính, 14 tuổi, từ Buffalo, New York, cũng đã treo cổ tự vẫn vào năm 2011 sau hàng loạt những quấy rối qua mạng. Tổng thống Barack Obama đã lên tiếng phản đối việc quấy rối qua mạng. Ông đã chiếu một đoạn video có tựa đề “Mọi việc sẽ tốt đẹp hơn”, đây là một trong những video đã được xem và chia sẻ nhiều nhất của Tổng thống. “Cũng giống như tất cả các bạn”, Tổng thống nói, “Tôi đã bị sốc và đau buồn bởi cái chết của những bạn trẻ bị bắt nạt và chế giễu vì là người đồng tính, để cuối cùng điều đó đã tước đi cuộc sống của họ. Là cha của hai cô con gái, điều này thực sự khiến trái tim tôi tan nát, và đây là điều không nên xảy ra ở đất nước này”. Tổng thống chưa từng đề cập trực tiếp tới việc quấy rối qua mạng đối với những cô gái.
Boca Raton, Florida
Vào một ngày khác tại trung tâm thương mại Town Center, ba người bạn đã dừng lại ở Starbucks để uống những cốc cà phê ngọt ngào. Họ ngồi cùng bàn nhưng không nói chuyện với nhau. Họ nhìn chằm chằm vào điện thoại, những ngón tay lướt và gõ. Khi tôi nhận xét về hình ảnh này của họ: tất cả ngồi cùng nhau, nhưng thực ra lại không cùng nhau, họ đã cười.
“Tôi biết, thật tồi tệ,” Carrie nói. “Tôi luôn cảm thấy như tôi phải kiểm tra điện thoại của mình. Nó giống như là tôi phải hồi đáp tất cả mọi điều này và xem ai đang nói gì.”
“Cậu không muốn bỏ lỡ điều gì,” Kayla nói.
“Tôi xem mọi người đang làm gì,” Dara nói. “Bạn có thể thấy ai đã gửi cho bạn những mẩu tin nhắn và tìm hiểu điều gì đang xảy ra.”
Cô ấy cho tôi xem nội dung của Snapchat Story gần nhất mà cô ấy vừa đọc, có bức hình của một cô gái với khuôn mặt buồn cười đang ăn một đĩa thịt xông khói. “Thịt xông khói” là chú thích của bức ảnh. Các cô gái đều cười khúc khích.
“Tôi biết, điều này thật ngớ ngẩn,” Dara nói, “nhưng nếu bạn không cho thấy bạn đã nhìn thấy nó, cô ấy sẽ nói kiểu ‘Sao cậu không xem Story của tôi?’”
“Hình ảnh trên Instagram của mọi người,” Kayla nhận xét, “nếu bạn không thích hoặc bình luận chúng, ai đó có thể cảm thấy bực mình và điều này có thể trở thành bi kịch.”
“Rất bi kịch,” Carrie nói.
“Thật buồn cười,” Kayla tiếp lời.
Những cô gái này 15 tuổi, họ quen nhau ở trường học khi họ học lớp 10. Carrie và Dara da trắng, còn Kayla da màu. Họ mặc quần soóc ngắn, áo phông không tay và đi dép tông. Carrie và Dara có mái tóc đen dài, còn Kayla có mái tóc nâu ngang vai. Tất cả đều đang cầm túi mua sắm màu đen-trắng sáng bóng từ chuỗi mỹ phẩm Sephora ở tầng phía bên. Mẹ của Carrie là một nhà trị liệu và bố cô làm việc trong lĩnh vực bất động sản. Kayla có bố là chủ doanh nghiệp và mẹ cô làm hành chính tại trường học; Còn bố của Dara là bác sĩ và mẹ làm nội trợ ở nhà. Bố mẹ Carrie đã ly dị còn gia đình hai cô gái kia vẫn bình thường.
“Đôi khi tôi cảm thấy như thể tôi không chỉ kiểm tra để xem mọi người đang nói cái gì, mà tôi còn muốn chắc rằng họ không nói gì về tôi”, Carrie nói và cười nhỏ.
“Và nếu họ nói gì về bạn, bạn phải trả lời, bằng không nó có thể trở nên rắc rối”, Kayla nói.
“Thật là nhiều rắc rối,” Dara nói. “Nó như kiểu bạn phải dành nửa thời gian của mình cho việc bảo vệ danh tiếng của mình.”
“Mạng xã hội có thể gây ra rất nhiều bi kịch vì cách bạn truyền tin xung quanh,” Carrie nói.
Họ nói về những vụ “kịch tính” trên mạng xã hội và cách nó thường bắt đầu như thế nào. Họ nói, thường thì điều này xảy ra khi ai đó chia sẻ đoạn tin của người khác mà người đó không được biết, để cho mọi người thấy những gì đã được nói trong một cuộc trò chuyện riêng tư.
“Điều đó xảy ra với tất cả mọi người,” Dara nói. Kayla nói thêm: “Và việc đó khiến ta khó có thể tìm được ai đó đáng tin cậy”.
Carrie cho biết: “Tôi thực sự có vấn đề về niềm tin”. “Từ thời trung học, ai cũng có điện thoại di động. Tôi không cảm thấy mình có thể tin tưởng bất cứ ai.”
“Một số người thậm chí còn ghi lại cuộc nói chuyện điện thoại của họ với ai đó và để cho người khác nghe được bản ghi âm”, Dara nói.
“Ừ,” Kayla nói, “điều này thật tệ.”
“Một khi bạn nhấn gửi là xong,” Carrie nói. “Dù bạn nói gì trong tin nhắn, mọi người đều có thể chụp ảnh màn hình và gửi nó cho bất cứ ai - điều đó đã xảy ra với tôi nhiều lần rồi.”
“Và tôi cảm thấy bị phản bội,” Dara nói. Carrie nói, “Hết lần này đến lần khác.”
Họ nói có những cách “phản bội” nhau hay làm điều gì “nhỏ nhen”, chẳng hạn bỏ thích những bài đăng hay những bức ảnh hoặc chặn tài khoản của nhau trên mạng.
Kayla nói: “Thật lố bịch khi chỉ vì bạn có một chút hiểu nhầm với một cô bạn, mà cô ấy lên mạng và vào tất cả các mục của bạn để bỏ thích những thứ mà cô ấy đã ấn ‘like’ trên trang của bạn.”
Carrie nói: “Em gái tôi học trung học đang có tài khoản finstas”. Các cô gái khác cười. “Finstas” là tài khoản Instagram giả mà không hiển thị tên thật của người dùng. “Nó làm vậy để cha mẹ không thể biết nó đang làm gì trên mạng xã hội,” Carrie giải thích. “Nhất là khi các bé gái lớp sáu đăng ảnh mặc áo ngực lên. Hay khi chúng sử dụng ứng dụng này để nói chuyện tào lao về nhau“.
“Những gì họ đăng lên châm chọc và bi thảm lắm,” Kayla nói. “Mấy cô gái sẽ nói kiểu ‘Cậu nhìn thấy bài đăng đó trên finsta chứ? Chúa ơi, tôi không thể tin các cô ấy lại nói vậy”.
Họ cười.
Carrie cho biết: “Nhưng tôi thấy chúng ta cũng làm vậy mà”, ý cô nói rằng họ đang ở một tầng lớp cao cấp hơn. “Tôi thấy có những điều nhỏ nhen mọi người sẽ không nói trực tiếp với nhau, nhưng họ sẽ nói trên mạng xã hội.”
Theo các nghiên cứu thì cô gái nói đúng. Năm 2013, một tổng hợp những nghiên cứu về hăm dọa trên mạng của Tạp chí toàn cầu về Nghiên cứu Giáo dục đã cho thấy rằng “Việc trở nên nặc danh khi ở trên mạng và cảm giác an toàn khi ở phía sau màn hình máy tính khiến người ta không phải chịu những áp lực truyền thống của xã hội, lương tâm, đạo đức, và quy tắc bắt họ phải hành xử một cách chuẩn mực”. Nói cách khác, việc giao tiếp trên mạng dường như đã khiến lương tâm của họ nhẹ nhàng hơn khi cho phép bản thân mình hành xử thiếu đạo đức. Kết luận ấy thật đáng giật mình, dù cho vốn dĩ những người từng nhìn thấy những lời lẽ hăm dọa trên mạng đã giật mình từ lâu rồi, từ những điều khiếm nhã nho nhỏ mà bạn có thể thấy trên những bình luận trên Facebook, cho tới sự sa đọa của Gamergate - chiến dịch quấy rối trực tuyến nhằm phản đối phụ nữ làm việc trong ngành công nghiệp trò chơi điện tử và nhà phê bình văn hoá Anita Sarkeesian vào năm 2014. Lúc đó, những mối đe dọa đối với phụ nữ thường bao gồm bị truy cập thông tin cá nhân, hay tiết lộ thông tin cá nhân trên mạng, cũng như các mối đe dọa hãm hiếp hoặc những lời đe dọa đến tính mạng. Phần lớn những người ủng hộ Gamergate là ẩn danh.
Rõ ràng là những trang mạng xã hội ẩn danh đã góp phần tạo ra những hành vi vô văn hóa, nhưng các ứng dụng ẩn danh như Whisper, Secret, Yik Yak, và Sneeky đã được nhân rộng trong những năm qua, cùng với sự gia tăng của những tranh luận về chuẩn mực đạo đức của những ứng dụng này. Trên Twitter vào năm 2014, nhà đồng sáng lập Netscape và nhà kinh doanh tư bản của Thung lũng Slilicon, Marc Andreessen, đã chỉ trích các ứng dụng ẩn danh – còn được biết đến như “những ứng dụng chuyên dùng để hăm dọa” – cũng như những nhà phát minh ra chúng vì đã không dám nhận trách nhiệm cho những tác hại tiêu cực của những ứng dụng này. “Là một trong những nhà thiết kế, những nhà đầu tư, những nhà bình luận,” Andreessen đã viết trong một chuỗi gồm 12 bài đăng trên Twitter, “chúng ta cần nghiêm túc tự vấn bản thân liệu một số hệ thống này có hợp pháp và xứng đáng hay không… không phải từ quan điểm lợi nhuận đầu tư, mà từ quan điểm luân lý và đạo đức.” Mặc dù các trang mạng xã hội cá nhân đã phản ứng với việc tăng cường chế độ kiểm soát bình luận, tin đăng của người dùng, thường là chặn khi có một vài câu chuyện trong những tin tức liên quan đến hành vi lạm dụng trực tuyến, nhưng Thung lũng Silicon đã không thừa nhận việc những sản phẩm do họ sản xuất đã cổ động cho các hành vi phi đạo đức và có hại theo nhiều cách khác nhau. Đạo luật Bổ túc thứ nhất đã trở thành tấm rèm che để các công ty mạng xã hội ẩn mình khỏi bất kỳ câu hỏi nào về các hoạt động trực tuyến của người dùng.
Dara nói: Trên mạng xã hội “không có thứ gì được gọi là quy tắc” cả.
Các cô gái thú nhận rằng đôi khi họ nhận thấy mình cũng thực hiện chính những hành vi trực tuyến đã từng làm họ tức giận hoặc tổn thương trong quá khứ.
Carrie thừa nhận: “Tôi đã chụp màn hình đoạn hội thoại của một người rồi tung lên mạng. Tôi biết việc đó là không nên, nhưng khi bạn đang buồn về những điều ai đó nói ra và bạn muốn thể hiện nỗi buồn với mọi người, thì đó đơn giản là việc bạn sẽ làm. Tôi đã nói những điều khiến tôi thấy hối lỗi”, cô nói tiếp, “và sau đó tôi đã không làm bạn với người bạn đó nữa. Nhưng khi tôi gặp lại họ ở trường, cảm giác thật là khó xử vì chúng tôi chưa bao giờ nói chuyện trực tiếp với nhau về điều đó.”
“Bạn bè thường cãi nhau trên Facebook và nó giống như điều đó đã xảy ra nhưng nó lại không thực sự xảy ra”, Kayla nói.
“Tôi thấy nói về việc gì trên mạng xã hội cũng dễ hơn nhiều”, Dara nói. “Nếu bạn nói điều gì đó trên Facebook, điều đó có thể gây tổn thương không khác gì so với việc nói điều đó trực tiếp cả, nhưng người ta không nghĩ đến cảm giác của người nghe bởi vì họ chỉ gõ trên máy tính mà thôi.”
Các nghiên cứu cho thấy, việc hạn chế giao tiếp mặt đối mặt trong thời đại kỹ thuật số có thể có ảnh hưởng đến khả năng tương tác thực tế của trẻ nhỏ. Năm 2014, một nghiên cứu tại UCLA đã phát hiện ra rằng những học sinh lớp sáu chỉ không nhìn vào điện thoại thông minh, ti vi hay loại màn hình khác trong vòng vỏn vẹn năm ngày, có khả năng đọc những cảm xúc của người khác khi giao tiếp mặt đối mặt tốt hơn hẳn so với học sinh cùng lứa, những em liên tục sử dụng các thiết bị điện tử. Nhà tâm lý học Jim Taylor, tác giả của cuốn Nuôi dưỡng trong thời đại Công nghệ: Chuẩn bị cho con bạn một thế giới đầy ắp phương tiện truyền thông, cho biết: “Trẻ em đang dành rất nhiều thời gian để giao tiếp thông qua công nghệ, chúng đang không phát triển các kỹ năng giao tiếp cơ bản mà con người đã từng sử dụng. Giao tiếp không chỉ là những từ ngữ. Nó còn là ngôn ngữ cơ thể, giọng điệu, biểu cảm trên khuôn mặt, thậm chí cả các kích thích tố, tất cả đều không thể được truyền đạt thông qua các mạng xã hội. Những biểu tượng trên mạng dùng để thể hiện cảm xúc là sự thay thế quá yếu”.
Và khi những tín hiệu phi ngôn ngữ bị tước đi, nó có thể giới hạn tiềm năng cho sự thấu hiểu, vốn là nền tảng của sự đồng cảm. Khi các nhà nghiên cứu tại Đại học Michigan xem xét dữ liệu từ 72 nghiên cứu được tiến hành từ năm 1979 đến năm 2009, tất cả đều tập trung vào việc kiểm tra mức độ đồng cảm giữa các sinh viên đại học Mỹ, họ chỉ ra rằng các sinh viên thời điểm đó có chỉ số thấp hơn 40% so với thế hệ trước đó.
Đó là điều mà chúng ta nhớ đến khi nghe về “Chủ nghĩa tích cực về những hạn chế mới mà sinh viên không chấp nhận”, như tựa đề của một bài trên tờ The Atlantic đăng vào năm 2015. Bài viết báo cáo về sự suy giảm tính văn minh trong giao tiếp giữa những sinh viên hoạt động trong trường, khi tập trung phân tích một trường hợp tại trường Đại học Yale năm đó, về việc các sinh viên yêu cầu cho nghỉ việc người quản lý của Silliman College (một ký túc xá tại Đại học Yale), Nicholas Christakis, và vợ của ông, Erika, một giáo viên giáo dục mầm non. Erika đã viết một thư điện tử khuyến khích các sinh viên cân nhắc quyền tự do ngôn luận của mình trong việc lựa chọn các trang phục Halloween, dù việc đó đồng nghĩa với việc họ phải chịu đựng những bộ trang phục khiến họ thấy bị xúc phạm.
Tờ Atlantic đưa tin rằng,”Hàng trăm sinh viên của Đại học Yale đang tấn công [hai vợ chồng nhà Christakis], có những lời lăng mạ hận thù, gọi họ bằng những cái tên mang tính phỉ báng, và một chiến dịch gây chấn động công chúng.” Trong đoạn video quay lại một cuộc biểu tình ở sân khu ký túc xá Silliman, thật đáng kinh ngạc là một số sinh viên nhắm thẳng Nicholas Christakis với những lời phỉ báng giống như những gì người ta thấy trong những tranh cãi trên Facebook và các trang mạng xã hội khác: “Ông thật kinh tởm!… Hãy im đi!” Một phụ nữ trẻ hét vào mặt ông như thể ông là một người sử dụng mạng xã hội mà cô có thể bắt nạt ở ngoài đời. Khi Christakis không đồng ý với cô ta, cô yêu cầu: “Ông nên nghỉ việc đi!“. “Mọi người đi đi“, một sinh viên khác nói để khuyến khích các bạn học khác rời khỏi cuộc đối thoại.
Dù bạn nghĩ thế nào về vị trí của sinh viên trong trang phục Halloween (và tôi hiểu được quan điểm của họ, các trang phục Halloween mang tính xúc phạm cần phải bị xem thường), việc họ từ chối tham gia đối thoại với Christakis, cũng như việc họ sẵn sàng tấn công ông khi ông đang cố gắng nói chuyện với họ một cách tôn trọng đều gây lo lắng. Một phụ nữ trẻ khác trong cuộc biểu tình, yêu cầu một lời xin lỗi từ Christakis, nói, “Ông có định xin lỗi không? Vì tôi sẽ đi nếu ông không nói.” Hãy cứ đi thôi, hoặc là đăng xuất, hay là chặn tài khoản?
Khi nói về sự gia tăng của “các chiến binh công lý xã hội” - thuật ngữ dùng cho những nhà hoạt động trẻ tuổi hung hăng và khắt khe cả ở trên mạng lẫn ngoài đời - các bài báo đề cập đến những tác động của việc chiều chuộng con của các bậc cha mẹ và chứng yêu bản thân thái quá trong giới trẻ, cũng như những định hướng nhiều chiều của nội dung các tranh luận được cho là gây ra bởi các đặc tính chính trị. Một bức tranh nhất quán hơn xuất hiện nếu ta xét đến thực tế rằng đây là thế hệ sinh viên đại học đầu tiên phát triển với điện thoại thông minh và truy cập vào mạng xã hội suốt 24 giờ, bảy ngày. Đây là một thế hệ khác biệt với bất kỳ thế hệ nào trước đây khi mà giới trẻ đã tạo thói quen giao tiếp qua màn hình, nơi đa số mọi người hoặc từng là nạn nhân của đe dọa trực tuyến hoặc từng chứng kiến sự đe dọa qua mạng thông qua bạn bè, đồng nghiệp xung quanh họ. (Gần 90% thanh thiếu niên đã chứng kiến đe dọa trực tuyến trên các mạng xã hội, theo Trung tâm Nghiên cứu Pew năm 2011).
Thật không hay là cụm từ “công lý xã hội” lại bị gán với “chiến binh công lý xã hội”, vì công lý xã hội chắc chắn là một điều tốt đẹp, là thứ gì đó đáng để đấu tranh, là thứ mà đôi lúc những chiến binh công lý xã hội cũng muốn đấu tranh cho chính họ. Thế nhưng, những cách thức hoạt động của những “chiến binh” này lại thể hiện sự hăm dọa. Sau vụ hỗn loạn về trang phục Halloween, vào tháng 12 năm 2015, Erika Christakis đã xin thôi không giảng dạy tại Đại học Yale; vị quản lý trường nói rằng bà là một “giảng viên đáng kính”.
Các cô gái ở Boca đều nói rằng họ cảm thấy giới trẻ ngày nay “nhỏ nhen” hơn khi họ giao tiếp trên mạng so với khi họ ở ngoài đời, và rằng chính những cô gái này cũng tự thấy mình xấu tính hơn khi ở trên mạng xã hội so với khi họ nói chuyện trực tiếp với ai đó. Họ nói rằng họ cũng từng chặn kết nối và ngừng theo dõi một số bạn bè, từng nói xấu về mọi người, và chủ ý không theo dõi hoặc kết bạn lại với ai đó để gửi một thông điệp rằng họ không thích người đó hoặc đã bực mình về điều gì mà người đó đã từng làm. Theo Pew vào năm 2013, “Việc không kết bạn và chặn tài khoản ai đó rất phổ biến ở lứa tuổi thiếu niên và trong tất cả các nhóm kinh tế xã hội.”
Carrie nói: “Chẳng hạn, khi tôi theo dõi ai đó trên Instagram và họ không theo dõi lại tài khoản của tôi, ngay lập tức tôi sẽ nghĩ rằng người đó thật tầm thường hoặc không thích tôi. Vì vậy, khi tôi không theo dõi lại người đó, tôi biết họ cũng sẽ nghĩ như tôi… Nhưng nếu thế, thì tại sao tôi lại làm vậy nhỉ?”
“Bởi vì việc đó xảy ra trên điện thoại của bạn, chứ không phải trong đời thực, nhưng nó lại rất thật, theo một cách nào đấy.” Kayla nói.
Carrie cho biết: “Bạn ’bắt hình dong’ về mọi người trên các mạng xã hội mà không thực sự biết được tình huống thật sự như thế nào và nó khiến cho bạn nghĩ đến những điều điên rồ dựa trên những thông tin sai sự thật”.
“Tôi thà là mình không biết nhiều về mọi người từ các mạng xã hội”, Dara nói. “Chúng ta quan sát mọi người và thấy được những điểm yếu của họ và quá nhiều thông tin khác, rồi lại tự so sánh mình với họ. Điều đó khiến tôi trở nên phán xét hơn, tôi nghĩ vậy”.
Tất cả các cô gái đều nói rằng họ đã từng lờ đi những tin nhắn của ai đó - “Ôi, vâng!” - ngay cả khi họ nghĩ rằng việc nó sẽ “khiến cho những người đó phát điên.” “Thời gian để phản hồi tin nhắn của ai đó ngắn hay dài là quyền của người nhận” Kayla cau có nói.
Họ nói rằng họ cũng đã từng đăng những hình ảnh mà họ biết là sẽ làm cho ai đó cảm thấy ghen tị hay phải buồn bã. “Như kiểu nếu bạn đang tức điên một ai đó và bạn biết là cô ấy đang thích một anh chàng nào đó, bạn sẽ đăng một tấm ảnh của mình với anh ta, chỉ cần đăng kiểu như thế, bởi vì bạn biết cô ấy sẽ nhìn thấy tấm hình đó và sẽ cảm thấy buồn”, Carrie nói.
“Cậu đã làm điều đó chưa?” Dara hỏi Carrie trả lời, “Với cậu thì chưa!”
“Mạng xã hội khiến bạn đưa ra rất nhiều quyết định bốc đồng”, theo Kayla.
“Và bạn sở hữu một chiếc điện thoại sớm bao nhiêu” - tất cả các cô gái nói rằng họ đã từng có mười điện thoại thông minh trong năm lớp 6 và lớp 7 - “thì những quyết định của bạn càng hấp tấp bấy nhiêu, và bạn sẽ vẫn giữ thói quen đó kể cả khi bạn trưởng thành,” Carrie nói vậy.
Khi tôi nói chuyện với Paul Roberts, tác giả của cuốn Một xã hội bốc đồng: Người Mỹ trong thời đại của sự giải trí tức thì, ông đã nói về những thanh thiếu niên có kiểm soát sự bốc đồng kém, do giai đoạn phát triển trí não của họ. Hệ thống dây thần kinh ở não của thanh thiếu niên có mức phản xạ rất cao - tập hợp các cấu trúc vỏ não và lớp dưới vỏ não có ảnh hưởng đến phản ứng cảm xúc, do đó những ý nghĩ sẽ trở nên cảm xúc hơn cũng như phát ngôn bạo miệng hơn ở cả người lớn và trẻ em. Theo các nghiên cứu, họ ít có khả năng kiểm soát hành động của mình liên quan tới nhận thức đúng và sai, đặc biệt là nếu nó có liên quan gì đến việc giành được sự ngưỡng mộ của bạn bè. “Điều mà họ đang gặp phải giống như việc họ không có nhận thức gì về tương lai”, Roberts giải thích. “Họ nghĩ rằng ‘Làm điều này sẽ mang lại gì cho mình vào lúc này?’ Chứ họ không nghĩ ‘Hậu quả của những vấn đề này là gì?’”
Tuy nhiên, mô tả về sự thiếu kiểm soát tính bốc đồng của thanh thiếu niên cũng có thể giải thích cho những gì Roberts cho rằng có liên quan tới tất cả những điều đã xảy ra trong xã hội Mỹ, giống như những gì chúng ta thấy từ nền văn hóa phố Wall (“hành động ngắn hạn” tập trung và bổ sung các tổ chức nợ nần) cho đến sự thất bại của Washington trong việc đưa ra những hành động nghiêm khắc trước những nguy cơ của hiện tượng nóng lên toàn cầu. Đọc cuốn sách của ông khiến tôi thấy rằng dường như chúng ta đã trở thành một quốc gia của riêng những đứa trẻ vị thành niên, từ quan điểm về tâm lý. Và điều này cũng có thể được nói là đúng với hành vi tập thể của phần đông chúng ta khi ở trên mạng – vì không phải chỉ có những đứa trẻ mới nhỏ nhen với nhau trên các mạng xã hội, không phải chỉ những đứa trẻ mới coi thường nhau và đánh nhau; những lời lẽ thô tục đã trở thành tiêu chuẩn cho hành vi trực tuyến đối với mọi người. Người lớn cũng vậy, họ cũng bàn luận với nhau về chuyện của người khác, theo dõi hay giám sát nhau trực tuyến khi những tin đồn được đưa lên truyền thông và tin tức giải trí, còn chính phủ thì cũng đang công khai các hoạt động giám sát.
Trong một cuộc phỏng vấn với WNYC vào năm 2015, William Arkin, một cựu sĩ quan tình báo của quân đội Hoa Kỳ, chuyên gia an ninh quốc phòng, và tác giả của cuốn: Điều khiển tự động, Máy bay không người lái, Dữ liệu, và Sự ảo tưởng của chiến tranh hoàn hảo, đã so sánh việc sử dụng máy bay không người lái để thu thập dữ liệu bắt buộc của quân đội với việc tự chúng ta đã quá ham mê sử dụng điện thoại thông minh. “Bạn không thể ngừng kiểm tra e-mail hoặc gửi tin nhắn,” Arkin nói. “Và đó có khác nào thế giới của những máy bay không người lái.” Chúng ta có đang sử dụng điện thoại giống như những chiếc máy bay không người lái không? Chúng ta bắt buộc phải kiểm tra lẫn nhau? Và khi chúng ta không thích những gì ai đó nói, hoặc không thích bề ngoài của ai đó, là chúng ta có thể đưa ra những lời lẽ tấn công không mang tính xây dựng cho những người mà sau đó có thể chúng ta sẽ không bao giờ gặp mặt?
“Tôi thực sự tự hỏi điều gì sẽ xảy ra với thế hệ của chúng ta”, Kayla nói. “Chúng ta không học cách giao tiếp tốt hay cùng nhau xử lý các vấn đề.”
Williamsburg, Virginia
Tôi đã gặp Janie và mẹ cô tại Khu liên hợp thể thao trong nhà Williamsburg vào một buổi chiều xám xịt. Janie đã tham dự bữa tiệc sinh nhật thứ 15 của một người bạn. Các cô gái đã chơi trò bắn súng la-de trong một khu vực nhỏ, tối. Căn phòng mờ đi trong sương mù và sáng lên trong những ánh sáng đen, trên nền nhạc nhảy sôi động. Các cô gái hò hét, nhảy ra khỏi đằng sau những bức tường, và bắn những khẩu súng la-de, những tia sáng màu vàng và màu hồng lóe lên. “Tớ bắn trúng cậu rồi nhé!” Họ gọi nhau. “Không, chưa trúng đâu!”
“Janie đâu?” Tôi hỏi mẹ Janie, cô Betty. “Nó là đứa có điểm cao nhất kia kìa!”, bà Betty trả lời. Janie bước ra khỏi phòng khi trò chơi kết thúc, má ửng hồng, vẫn đang rất phấn khích.
Đó là cô bé có vóc dáng khỏe khoắn với mái tóc vàng mật ong, buộc thành chiếc đuôi ngựa, và đôi mắt nâu ướt. Cô bé trắng trẻo. Cô thay quần áo - một chiếc áo len màu tía hãng Adidas, quần jean và giày thể thao. Cô đeo chiếc băng-đô màu tía của hãng Adidas, cùng phong cách với chiếc áo len.
Chúng tôi lái xe dọc theo đường công viên thuộc phạm vi của rừng và đi bộ rồi ngồi trong thư viện của một khách sạn gần đó. Janie ngồi trên một chiếc ghế da cạnh mẹ. Bà Betty độ 40 tuổi, tóc ngang vai và đeo kính. Bà nói bà ở nhà, và cha dượng của Janie là một quan chức chính phủ. Betty nói bà ấy muốn tham gia vào cuộc nói chuyện của tôi và con gái bà, vì Janie có chuyện ”khó nói”. Betty trông có vẻ mệt mỏi vì lo lắng.
Janie là một người đồng tính, cô biết điều này từ năm lớp 6. “Tôi cũng lờ mờ nhận biết được chuyện này vì tôi đã từng dính líu tình cảm với một trong những người bạn thân nhất của tôi. Đó thật là một ý tưởng tệ hại”, cô nói và cười nhẹ. Giọng của cô bé lắng xuống, cô nói với ngữ điệu người miền Nam. Nếu bạn nhắm mắt lại, có thể bạn đã nghĩ rằng đó là một cậu bé đang nói. Sau đó, cô giải thích rằng đây là điều mà cô đã nhận ra sau lần cô bị bắt nạt, và cô trầm giọng lại, giọng cô trở nên cứng rắn, như thể để tự bảo vệ mình.
Cô cho biết cô luôn thu mình lại khi ở trường. “Họ dường như cứ tự phát hiện ra thôi, dựa vào cách tôi và cô gái ngày ấy tiếp xúc với nhau. Không ai chấp nhận điều đó“, cô nói. “Thực sự là không ổn, không ổn chút nào. Đây là nơi rất bảo thủ.”
Virginia hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính vào năm 2014 sau một phán quyết của Tòa án Tối cao; nhưng theo cuộc thăm dò dư luận, chỉ có khoảng 50% số người được điều tra ủng hộ điều này. Virginia là một bang nhiều tranh luận, khi cả hai đảng - Đảng Dân chủ và
Đảng Cộng hòa - đều chiến thắng những cuộc bầu cử quan trọng, và cả hai đều có những thành phần bảo thủ cánh hữu. Mạng lưới phát thanh truyền hình của Pat Robertson có trụ sở chính đặt tại bãi biển Virginia, cách khoảng một giờ xuống bờ biển từ Williamsburg.
Khi mọi người nhận ra Janie là người đồng tính, cô nói, “họ đơn giản là không nói chuyện với tôi nữa và họ xì xào sau lưng tôi.” Lúc đó cô bé 12 tuổi. “Đây là ngôi trường rất nông thôn”, ý là nó vẫn còn rất cổ hủ, bảo thủ, cô gái giải thích, và “đồng tính không được chấp nhận. Do đó, đã có nhiều lời bàn tán. Về cơ bản, tất cả những người ở vùng quê sẽ đưa ra những phán xét về cách tôi đã lựa chọn điều mà tôi muốn và điều đó bị coi là không ổn và tôi đã không được chấp nhận. Trước đó, tôi đã có một quãng thời gian đủ khó khăn để có thể chấp nhận chính bản thân mình rồi,”cô nói. “Tôi đã rất vật vã trong quãng thời gian ấy.”
Cô gái đã nói chuyện này với mẹ và cha dượng khi cô 12 tuổi, và họ cũng đã phải trải qua một quãng thời gian khó khăn để “chấp nhận” điều này; cha đẻ của cô, người thường gặp cô vào mỗi dịp cuối tuần, vẫn không thể “chấp nhận hoàn toàn” chuyện này được. Nhận thấy rằng mình không có được sự hỗ trợ từ gia đình và bạn bè, cô quyết định rằng đầu tiên cô cần phải “chấp nhận bản thân mình trước.” Cô đã cố gắng trở thành một người mà “không cần phải có ai ủng hộ.” Cô xây dựng vẻ bề ngoài cứng rắn. Cô cố gắng hết sức để không bao giờ phản bội cảm xúc của mình, không bao giờ phải phản ứng với những phán xét.
“Mọi người luôn nói rằng tôi rất mạnh mẽ, cứng rắn, nhưng ở khía cạnh nào đó, thì không,” Janie nói. “Tôi giữ mọi thứ cho riêng mình để không ai biết rằng tôi bị thương, buồn bã hay tức giận như thế nào vì tôi không muốn thể hiện mình yếu đuối.”
Lên đến lớp 7, không khí trong nhà trường đã trở nên “dễ thở hơn một chút,” cô nói, “bởi vì tôi có thêm nhiều bạn bè, có nhiều người chấp nhận tôi hơn, dù chỉ ít thôi. Những người bạn trong ban nhạc chấp nhận tôi”
- cô bé chơi kèn tuba – “và vài người bạn của họ nữa, vì vậy mọi thứ trở nên tốt đẹp hơn một chút.”
Năm đó cũng là năm cô bắt đầu hẹn hò với một cô gái, một cô gái mà vào thời điểm đó, cô nói, đã “hủy hoại cuộc đời tôi.” Họ đã chơi cùng nhau trong đội khúc côn cầu. Họ ngắm nhau trong lúc tập luyện, nhận ra nhau; và sau đó họ bắt đầu thích nhau, rồi họ ở bên nhau.
Cô gái là người nổi tiếng, giàu cảm xúc; “Một hoa khôi phía Nam,” mẹ Janie kể lại với vẻ khó chịu. Cô ấy nhạy cảm; cô ấy khóc, và Janie đã trở thành bờ vai để cô ấy dựa vào. Đôi khi cô ấy quá dựa dẫm vào Janie, khiến Janie cảm thấy quá sức chịu đựng và muốn chia tay. Cô gái muốn nhận được toàn bộ sự quan tâm của Janie. Cô đã luôn nhắn tin, không ngừng nhắn tin, để tìm kiếm sự che chở và muốn trò chuyện. “Có những lúc cô ấy nhắn tin cho tôi phải đến cả trăm lần một ngày,” Janie nói. “Thực sự là quá nhiều, và nếu tôi không nhắn tin lại ngay lập tức, cô ấy sẽ châm ngòi một cuộc chiến về điều đó và nói rằng tôi không quan tâm đến cô. Và cô ấy muốn đưa tất cả mọi thứ chúng tôi đã làm lên mạng xã hội”, cô kể thêm, “còn tôi chỉ không muốn tiết lộ quá nhiều về bản thân mình trước công chúng.”
Lúc đó, Janie không cảm thấy rằng cô có thể sống theo những gì cô gái kia muốn. Có rất nhiều việc khác phải làm, bài tập về nhà, ban nhạc, và tập thể thao. Ngoài môn khúc côn cầu, Janie còn chơi bóng đá và chạy đường đua. Cô cảm thấy cô không có nhiều thời gian để luôn nhắn tin và xem tin trên các mạng xã hội, hay cập nhật với tất cả mọi người về mối quan hệ của mình. Tuy nhiên, Janie và cô gái cũng đã xoay sở và ở bên nhau được hơn một năm. “Mối quan hệ đó cũng tương đối nghiêm túc.”
Và sau đó, cuối năm lớp 7, cô gái “đã lừa dối” cô, “đi lại với” người khác, một cậu bé. “Cô ấy đã nói dối rằng cô ấy không làm vậy, nhưng tôi biết đó là sự thật,” Janie kể lại. Cô biết được điều này từ những người bạn. Thật khó có thể giữ bất cứ điều bí mật gì ở trường của họ. Nó được xì xào, bàn tán trong các tin nhắn và trao đổi trên Facebook.
Vì vậy, Janie đã chia tay với cô gái. Đó là một cuộc chia tay của “tình yêu bọ xít”, thứ mà người ta gọi tên khi những học sinh giữa cấp bắt đầu yêu nhau rồi lại chia tay nhau – một ai đó bị phụ tình, một ai đó bị tổn thương, một ai đó nằm trên giường của mình nghe nhạc và suy nghĩ về những gì đã và có thể diễn ra. Những suy nghĩ này sẽ biến mất. Nhưng với mạng xã hội, nó lại xoay sang một hướng khác.
Khi Janie chia tay với cô gái đó, “cô gái ấy không thực sự chấp nhận điều này,” Janie kể. “Do đó, cô gái quyết định đăng tải trên Instagram và gửi một tấm hình của tôi và cô ấy” - đó là một tấm hình mà hai bọn tôi đứng cạnh nhau, rất thân mật - “và cô đăng tải với nội dung kiểu như ‘Tôi rất vui vì chuyện này đã chính thức kết thúc.’”
“Bạn tôi nhìn thấy tấm hình đó, cho tôi xem và tôi đã nghĩ ‘Có cần thiết phải như vậy không?’” Janie đối mặt với cô gái; họ đã tranh cãi. “Và cô ấy nói ‘Những lời ấy cần phải được nói ra.’ Còn tôi thì bảo ‘Chẳng ai cần biết về việc này.’ Rồi sau đó cô ấy trở nên tức giận với tôi, và tôi nói với cô ấy rằng cô ấy chỉ cần để tôi được yên. Tôi nói với cô ấy rằng chuyện của chúng tôi đã thực sự kết thúc, và sau đó cô nói với tôi rằng tôi có thể chết đi, cô ấy sẽ không quan tâm và cô ấy sẽ đưa cho tôi khẩu súng để tôi tự chết“.
Trong một khoảnh khắc, Janie trông giống như sắp khóc.
“Điều đó làm tôi cảm thấy thực sự tồi tệ”, cô chia sẻ. Sau đó, cô lấy lại bình tĩnh, kiểm soát thái độ của mình.
“Cậu có thể tự chết đi, còn tôi sẽ không rơi một giọt nước mắt nào”, đó là tin nhắn của cô gái, mà mẹ Janie đã gửi cho tôi sau này. “Đó thực ra là một ý tưởng hay, tôi sẽ đưa cho cậu khẩu súng để làm điều đó và như thế nó sẽ làm cho cuộc sống tối tăm của tôi được dễ thở hơn. Tôi thực sự mừng vì tôi đã tiếp tục với cuộc sống của mình vì nếu không tôi sẽ rất tổn thương.”
Cả hai đều bị tổn thương. Và khi người ta bị tổn thương, đôi khi họ lại trút lên mạng xã hội. Như để xả, họ tìm kiếm sự ủng hộ từ những bạn bè trên mạng để giúp họ vượt qua những cảm xúc; và theo một nghiên cứu, cảm xúc trên mạng xã hội có thể lan truyền. Một “… thí nghiệm lớn trên Facebook” được công bố trên Kỷ yếu của Viện Khoa học Quốc Gia vào năm 2014 phát hiện ra rằng “trạng thái cảm xúc của một người có thể lan truyền cho người khác thông qua việc tiêm nhiễm cảm xúc, khiến mọi người trải nghiệm những cảm xúc tương tự mà họ không nhận thức được điều này”. Nghiên cứu này cho thấy “Lây lan cảm xúc diễn ra mà không cần tương tác trực tiếp giữa con người, và nó diễn ra trong các hoàn cảnh hoàn toàn vắng bóng các tín hiệu phi ngôn ngữ”, giống như trên mạng xã hội.
Chỉ qua mùa hè và vào năm học mới, bạn gái cũ của Janie đã khiến “tất cả mọi người” tham gia vào vấn đề của họ - “toàn bộ trường học,” gồm cả phụ huynh và những giáo viên, Janie nói. Cô gái đã cường điệu về cách Janie đã tổn thương cảm xúc của cô ấy, miêu tả về cách đối xử của Janie khi lăng mạ và tàn nhẫn với cô.
“Và sau đó tất cả mọi người quyết định đứng về phía cô ấy,” Janie nói. “Ngay cả những người bạn thân của tôi cũng quyết định bênh vực cô ấy và nói đó là lỗi của tôi. Cô ấy đã quấy rối tôi và bạn bè của cô ấy cũng bắt đầu quấy rối tôi, và sau đó là mấy người bạn của tôi bắt đầu quấy rối lại cô ấy và bạn bè của cô ấy.” Đó là một cuộc chiến trên mạng xã hội.
“Tất cả họ đều lên mạng xã hội, lên Instagram, và họ theo dõi tôi trên Twitter và Facebook,” Janie nói. Người thì gửi những bình luận tục tĩu. Còn vài bình luận thì là về Janie đồng tính.
“Họ cố gắng nhắn tin cho tôi và nói rằng họ vui thế nào vì cuối cùng tôi đã bước ra khỏi cuộc sống của cô ấy và rằng tôi là vấn đề. Có hai giáo viên đã ném đến tôi những cái nhìn thể hiện sự ghê tởm ở hành lang. Những giáo viên cũng đã tham gia và nói rằng tất cả là lỗi của tôi và rằng họ không đồng ý với tôi về những gì đã xảy ra và rằng họ không chấp nhận tôi.”
Các ý kiến gần như không bao giờ được nói trực tiếp, hầu như luôn luôn là trên mạng xã hội. “Họ sẽ không nói điều đó trực tiếp,” Janie nói. “Họ nghĩ rằng họ đang được bảo vệ bởi một màn hình máy tính.”
“Mẹ của cô gái đó thậm chí còn cố gắng để theo dõi tôi” trên Twitter, Janie nói. “Mẹ của cô ấyquấy rối tôi và nhắn tin cho tôi.”
Đã có tranh luận xung quanh vấn đề liệu các bậc cha mẹ có nên, hoặc có quyền, giám sát hoạt động của con cái họ trên mạng hay không; những nhận thức về cách cha mẹ và những người lớn khác đôi khi tự tham gia vào những vấn đề của con cái hoặc đưa ra những bình luận về con cái họ trên mạng xã hội, còn hạn chế. Trong vài năm trở lại đây, những tin tức thỉnh thoảng lại được đưa lên đều đặn. Ví dụ, vào năm 2015 một giáo viên Colorado đã bị sa thải sau khi đăng tải bức ảnh của một học sinh trên tài khoản Instagram của mình với bình luận “Tôi không biết cậu ta, nhưng tôi ghét cậu ta,” và với hashtag #pothead1. Tại Montclair, mẹ của một cô gái trung học có nói với tôi rằng có một số bà mẹ khác đã giám sát những tin nhắn của con gái, và bắt đầu tham gia vào việc tẩy chay một trong những cô gái trong nhóm “chat” của con gái bà. “Họ nói với con gái hãy tránh xa cô gái đó, cô gái đó là tin dữ. Việc đó dẫn đến một tai nạn mà một cô gái đã nói rằng cô ta sẽ đấm vào mặt cô con gái bà tại Trung tâm thương mại Watchung.”
1. Người hút cần sa
Khi Janie đã nhắn tin cho cô bạn gái cũ và yêu cầu cô dừng việc quấy rối mình, cô gái đã nhắn lại: “Tôi không nghĩ về cậu, không một chút nào, đồ người lạ vô dụng, hãy cút xuống địa ngục đi. Cút ra khỏi cuộc sống của tôi, tôi không bao giờ muốn nhìn lại khuôn mặt xấu xí, đần độn của cậu thêm lần nữa.”
The Bronx, New York
Madeline vừa làm lễ trưởng thành, “giống như ngày kỷ niệm Tuổi Mười Sáu Ngọt Ngào nhưng là dành cho những cô gái 15 tuổi,” được tổ chức ở San Martín de texmelucan Labastida, thị trấn của người Mexico nơi ông bà cô sinh sống. Cô cho tôi xem những tấm ảnh về bữa tiệc mà cô vẫn giữ trong một cuốn album được trang trí bằng dải ruy băng. Cô đã mặc một chiếc váy màu xanh nước biển, đội vương miện, và cài những bông hoa trắng trên tóc; với chủ đề là “Dưới đại dương”. Cô ấy đã biên đạo, dàn dựng một điệu nhảy cho sự kiện cùng một biên đạo múa địa phương. Một ngày nào đó, Madeline muốn trở thành một diễn viên múa. “Đó là những trải nghiệm tuyệt vời nhất trong cuộc đời tôi”, cô nói. “Tôi ước gì mình có thể trải nghiệm điều đó lại lần nữa.” Đó là một ngày mà “tôi thấy mình giống như một nàng công chúa, và cả gia đình ở xung quanh tôi nói rằng họ quan tâm đến tôi, và giờ đây tôi đang trở thành một phụ nữ.”
Madeline và bạn của cô, Breanna, cả hai đều 15 tuổi, đang ăn bánh pizza tại bàn ăn của một người phụ nữ mà tôi biết đang sống tại Crotona Vườn Đông. Madeline đang đeo bông tai tròn to, mặc quần jean và một áo choàng hở vai, trông cô có vẻ đang vui. Cô là người Latinh lai châu Á. Mẹ cô là một bà mẹ đơn thân và có ba công việc, một ở công ty giao nhận và hai ở các siêu thị lớn.
Breanna mặc quần jean, áo thun và một chiếc áo có mũ trùm đầu, và cũng mang bông tai tròn to. Cô là người gốc Mỹ Latinh và da đen, cao, với mái tóc dài ngang vai và niềng răng. Cô có vẻ chu đáo. Cô nói cô muốn trở thành một nhà văn và là thành viên của một câu lạc bộ văn học trên mạng. Cha cô làm việc trong một công ty máy tính trong khi mẹ cô làm tại một bệnh viện. Hai cô gái học hai trường khác nhau nhưng cha mẹ họ là bạn bè.
Madeline kể về lễ trưởng thành tuổi 15 của cô và về bạn trai cũ, cậu là người bạn trai đầu tiên của cô, và cậu cũng đã có mặt tại buổi lễ đó. Họ biết nhau từ khi “chúng tôi chỉ là những đứa trẻ ranh” ở Mexico. Cô kể: Tại bữa tiệc sinh nhật bảy tuổi, “Tôi đã mặc một chiếc váy đẹp, buổi lễ được tổ chức theo phong cách công chúa, vì vậy tôi đã ăn mặc như Belle,” nhân vật trong phim “Người đẹp và quái vật”. Cô kể lại với vẻ mặt miên man nhớ lại quá khứ “Khi một vài người hỏi ‘Hai người đang hẹn hò nhau à?’ Cậu ta đã trả lời ‘Đúng vậy’”. “Và sau đó, chúng tôi là một cặp. Tôi đi đến Mexico mỗi năm, để gặp cậu ấy. Chúng tôi nói chuyện trên Facebook. Chúng tôi nhắn tin cho nhau. Chúng tôi nhắn tin suốt cả buổi chiều. Chúng tôi nhắn tin cho đến khi chúng tôi ngủ thiếp đi.”
“Cậu ấy đi bên tôi trong lễ trưởng thành”, cô kể. “Chúng tôi đã nói rằng chúng tôi sẽ sống hạnh phúc mãi mãi về sau. Nhưng rồi chúng tôi đã chia tay. Bạn tôi ở Mexico nói với tôi rằng cậu ấy đã lừa dối tôi.”
Cô có vẻ buồn về chuyện đó.
Các cô gái nói rằng việc lừa dối trở nên phổ biến trong các mối quan hệ thời nay. “Tôi nghĩ đó là vì mạng xã hội”, Madeline nói. “Bởi vì trên mạng xã hội cậu ấy có thể tỏ ra rằng cậu ấy yêu tôi. Nhưng tôi không thể nhìn thấy mặt cậu ấy. Và cậu ấy đã làm một điều hoàn toàn khác trong cuộc sống thực.”
Breanna nói rằng cô ấy cũng phát hiện ra bạn trai cô đã lừa dối cô trên Facebook. “Ngay khi chúng tôi chia tay tôi có thể nhìn thấy cậu ấy gửi tin nhắn tới vài cô gái khác”, cô kể. “Và ra vậy ‘Ồ, được thôi. Vậy việc này đã phải được diễn ra trong một thời gian rồi.’”
Sự lừa dối trên mạng xã hội đã trở thành một vấn đề trong các mối quan hệ hiện đại, yếu tố này là một nguyên nhân được nhắc đến ngày càng nhiều trong các hồ sơ ly dị tại Mỹ. Các nhà tâm lý học đã chỉ ra rằng, mọi người hiện nay có thể dễ dàng kết nối với người khác, bạn bè và người lạ, người mà có thể họ quan tâm, hoặc để mà họ tìm đến khi cảm thấy thất vọng trong mối quan hệ của mình. “Chưa bao giờ trong lịch sử, chúng ta lại có thể kết nối ngay lập tức với bất kỳ ai mà chúng ta nghĩ tới,” là chia sẻ với Redbook của Jaclyn Cravens, phó giáo sư về khoa học cộng đồng, gia đình và đam mê tại Đại học Công nghệ Texas, bà chuyên nghiên cứu về sự không chung thủy trên Facebook. Nghiên cứu năm 2013 của bà chỉ ra rằng ngay cả khi sự phản bội chỉ được thể hiện trên mạng, thì người bị lừa dối cũng có những trải nghiệm cảm xúc đau đớn như thể nó xảy ra ngoài đời.
“Tôi hẹn hò với một gã đã lừa dối tôi tám lần khác nhau,” Jill, sinh viên năm hai, 19 tuổi tại Đại học Detroit Mercy nói. “Ai cũng lừa dối hết,” người bạn của Mirella nói, cô cũng 19 tuổi. “Mọi người đều nghĩ rằng bạn cũng sẽ lừa dối thôi, như thể lừa dối là một phần của những gì diễn ra thời nay. Nếu bạn không bị lừa dối thì mọi người sẽ nghĩ ‘Ôi, bạn chưa bị lừa ư? Ồ, lạ đấy.’” “Nếu người bạn gái hoặc bạn trai yêu cầu kiểm tra điện thoại của bạn, bạn chỉ cần xóa tất cả mọi thứ từ đêm hôm trước, thế là người ấy sẽ không biết gì”, một cô gái 14 tuổi tại San Diego, California cho biết. “Việc giấu đi mọi thứ thực sự quá dễ dàng.”
“Giống như việc bạn trai của bạn có thể đã chuyện trò với ai đó trong nhiều tháng mà bạn không biết gì và cũng sẽ không bao giờ phát hiện ra,” Madeline nói.
Các cô gái nói rằng điều này khiến họ mất hoàn toàn niềm tin.
“Không có lòng tin,” Madeline nói.
“Trong thế hệ của chúng tôi,” Breanna đồng ý. “Tình yêu chỉ là từ ngữ thôi, nó chẳng có ý nghĩa gì cả,” Madeline nói. “Rất hiếm bao giờ có một ai đó thực sự thích bạn vì chính con người của bạn - chính bản thân bạn, những gì nguyên bản của bạn. Và việc bạn trông thế nào không quan trọng, ngay cả khi bạn có một cặp mông to hay bất cứ điều gì. Hiếm lắm, từ giờ đến mãi về sau, bạn sẽ rất khó tìm được một người thực sự quan tâm.”
Mông to ư? Tôi hỏi. Đây không phải là lần đầu tiên tôi nghe các cô gái nói về tầm quan trọng khi có “mông to”.
“Bạn cần phải có mông to, ngực to, và nếu bạn không có cả hai điều này, bạn chẳng là gì,” Madeline nói. “Sẽ tốt hơn nữa nếu bạn có một khuôn mặt xinh đẹp.”
Facebook vẫn là trang mạng xã hội mà hầu hết giới trẻ trong các trường học sử dụng để tương tác, các cô gái cho biết. Facebook là nơi họ dùng để nói chuyện với bạn bè của họ và các thành viên gia đình sống ở xa. “Mọi người đều ở trên đó,” Madeline nói. “Cá nhân tôi, tôi cũng lên đó hàng ngày, trong giờ học, sau giờ học. Nghĩa là tôi đang sử dụng nó 24 giờ, bảy ngày.” Nhưng, các cô nói, điều tồi tệ nhất về Facebook là “Facebook luôn là khởi nguồn của những cuộc cãi vã.” Đôi khi là những trận đánh nhau thực sự giữa các cô gái. “Nó bắt đầu bằng một bài đăng”, họ nói vậy, “và rồi các cô gái mang những khúc mắc xuống phố để giải quyết.”
“Ai đó sẽ nói ‘Ôi, tôi sẽ làm bạn đau đớn, tôi sẽ làm ai đó trong gia đình bạn đau đớn’”, Breanna nói. “Họ sẽ bắt đầu đe dọa sẽ làm tổn thương các thành viên trong gia đình bạn chỉ để làm bạn sợ hãi.”
“Và rồi một ai đó nói điều gì đó về một ai đó,” một tin đồn hoặc một lời xúc phạm, Madeline nói, “và sau đó mọi việc leo thang và rồi tình huống sẽ trở thành, ‘Được rồi, tôi sẽ đấu với cậu ngay bây giờ. Gặp tôi ngày mai tại nơi này, chờ tôi ở chỗ này.’”
”Và rồi mọi người nghe thấy tin này, và họ sẽ đăng lên mạng về việc đó với nội dung ‘Ôi, ngày mai sẽ có một trận đánh nhau diễn ra đấy.’ Có lúc họ còn quay lại cảnh đánh nhau.”
“Và sau đó họ đăng đoạn quay đó lên Facebook,” Madeline nói.
Họ lắc đầu một lần nữa và lại tiếp tục.
Tôi hỏi họ về nguyên nhân của trận đánh nhau.
“Ồ, cô ấy không biết cách ăn mặc, cô ấy xấu xí, cô ấy là một đứa lẳng lơ,” phiên bản tức giận của Madeline nói.
“Cả hai bên cùng nghĩ về nhau như vậy,” Breanna nói.
“Mấy cậu con trai không bị gọi thế,” Madeline nói. “Nếu họ ngủ lang, thì bọn họ sẽ nói ‘Ôi, hay rồi, chúc mừng nhé!’”
Nhưng khi các cô gái gọi nhau bằng những từ ngữ như vậy, nó có thể dẫn đến các hành vi bạo lực.
“Năm ngoái, chúng tôi đã có tới bốn cuộc tranh cãi trong một ngày chỉ vì nói chuyện tám với nhau trên Facebook,” Madeline nói. “Nó bắt đầu từ năm lớp 7, khi bọn con gái cuối cùng đã bắt đầu thấy những thay đổi trên cơ thể, và bắt đầu quan tâm đến vẻ bề ngoài và cách mọi người suy nghĩ về cơ thể mình.”
Các cô gái buôn chuyện về người khác trên Facebook, họ nói. “Cô ấy đã lừa dối bạn trai,” Madeline lấy ví dụ.
“Đôi khi họ chỉ nói như kiểu ‘Bạn thật bốc mùi.’ Họ có thể chọn bất cứ điều gì dù là nhỏ bé nhất,” Branna nói. “Họ tìm những điểm yếu của bạn, giống như việc bạn mặc gì và đi đôi giày loại nào, bạn có những đồ trang sức gì, kiểu tóc của bạn ra sao,” Madeline nói. “Nếu bạn không có Jordans”, nghĩa là đôi giày thể thao hiệu Jordans, thì “chúc may mắn nhé,” Breanna nói. Cô cũng đang đi một đôi hiệu này.
“Nếu bạn không mặc đồ hiệu,” Madeline nói, “ví dụ như True Religion và Adidas, họ sẽ nói như kiểu ‘Sao cậu lại mặc thứ đó?’”
Tôi hỏi họ, từ đâu mà họ có ý nghĩ rằng tất cả cần phải là đồ hiệu?
“Người nổi tiếng, truyền hình,” Madeline nói. “Tôi vừa thấy trên một chương trình, nó giống như kiểu 50 người nổi tiếng giàu có nhất, và nó nói về tất cả những gì họ có. Họ nói về những người giàu có như Beyoncé và Jay Z, và những đứa con của người nổi tiếng, Blue Ivy, và em bé nhà Kanyye West, North West. Họ đã nói về việc ai có những thứ xa xỉ nhất - em bé nào có những thứ xa xỉ nhất.”
“Họ nói rằng Blue Ivy, con của Jay Z, đã có một chiếc xe đẩy 15 nghìn đô la hiệu Swarovski hoặc những thứ như thế, tất cả đều được làm bằng đồ trang sức”, Breanna nói.
“Mọi người sẽ nghĩ là ‘Ôi, họ cũng lớn lên giống như tôi, nhưng làm thế nào để tôi có được đẳng cấp đó, sao tôi có thể có tất cả những điều tốt đẹp đó?’” Madeline hỏi.
“Và mọi người cũng muốn điều đó; do vậy đó là những thứ bạn phải có“, Breanna nói.
“Bạn muốn có cuộc sống như vậy”, Madeline nói. “Truyền hình bây giờ toàn là các cuộc thi. Đối thủ.
Trên các chương trình truyền hình, mọi người cạnh tranh lẫn nhau để có tiền. Và bạn cảm thấy, nếu tôi có thể chiến thắng những người giỏi nhất, tôi có thể nhận được số tiền đó.”
Tôi hỏi họ liệu họ đã từng ở trong cuộc chiến đấu như vậy lần nào chưa?
“Một lần,” Madeline trả lời.
“Tôi đã cố gắng không vướng vào cuộc tranh cãi nào cả,” Breanna nói. “Bởi vì những trải nghiệm tôi từng có trong quá khứ, tôi luôn ý thức được ai đang ở quanh tôi hay những gì đang diễn ra. Nếu ai đó đến gần tôi và nói họ sẽ đá tôi hoặc đe dọa tôi, hoặc cố làm tổn thương tôi, tôi chỉ cố gắng bước đi.”
----------
Trên Truyền thông
Năm 2005, Tờ Newsweek đăng một câu chuyện có tựa đề “Những cô gái hư hỏng trở nên hoang dã” như hồi chuông cảnh báo về sự gia tăng bạo lực giữa các cô gái. Đề cập đến một nghiên cứu mới của FBI, các tạp chí đưa tin rằng số lượng những cô gái vị thành niên bị bắt vì những hành vi hành hung nghiêm trọng đã tăng khủng khiếp trong vòng hơn 20 năm qua. Mặc dù FBI đã không đưa ra lý thuyết về lý do dẫn đến bạo lực tăng vọt, Newsweek đã đổ lỗi cho phái nữ. “Phong trào của phụ nữ,” mà tạp chí nhắc đến “đã khuyến khích phụ nữ khẳng định mình như nam giới, và việc đó đã vô tình mở cửa cho các hành vi bạo lực của các bé gái.”
Nhưng khi Bộ Tư pháp xem xét các cáo buộc của tờ Newsweek trong năm 2008, họ phát hiện rằng các phân tích được dựa trên cơ sở dữ liệu sai. Không phải là các cô gái đã trở nên bạo lực hơn, mà họ đã bị bắt và bỏ tù nhiều hơn trong khi tội trạng lại ít đi. “Không có việc khủng hoảng quốc gia đang phát triển trong khi ngày càng gia tăng bạo lực nghiêm trọng ở trẻ em gái vị thành niên”, báo cáo của Bộ Tư pháp cho biết. Cần thiết phải xem xét liệu có phải phong trào phụ nữ đã thực sự mở ra cánh cửa, không phải là đến với nhiều hành vi bạo lực giữa các bé gái hơn, mà là đến với việc quản lý pháp lý chặt chẽ hơn, như một dạng để thể hiện sự đối đầu.
Tuy nhiên, năm 2008, tạp chí People đã đăng một câu chuyện với tựa đề “Những cô gái nổi loạn,” viết về sự gia tăng của những cô nàng đanh đá. Năm 2010, có một vụ chấn động khác về bạo lực phái nữ thông qua vụ tự tử của Phoebe Prince, một cô bé 15 tuổi người miền Nam Hadley, Massachusetts, đã bị bắt nạt và quấy rối bởi sáu bạn cùng lớp. Hai trong số những bạn học cùng lớp này là con trai, cả hai người đã bị bắt giữ và bị buộc tội hiếp dâm.
“Sự hoảng loạn là một trò lừa bịp,” hai chuyên gia về tư pháp vị thành niên, Mike Male và Meda Chesney- Lind cho biết trên tờ The New York Times vào năm 2010.
Trong phần mở đầu của bài “Huyền thoại về những cô gái nổi loạn”, họ nói: “Chúng tôi kiểm tra tất cả các chỉ số chính của tội phạm mà chính quyền cho phép. Không có chỉ số nào cho thấy sự gia tăng về bạo lực của các cô gái trong thời gian gần đây; trên thực tế, tất cả các thông số đáng tin cậy cho thấy bạo lực gây ra bởi các cô gái đã giảm mạnh trong nhiều năm… Tại sao, trong một thời đại mà việc vu khống cho một nhóm người dựa trên hành động xấu của một vài cá nhân là một điều cấm kỵ, thì ta lại chấp nhận việc căn cứ vào một vài trường hợp riêng lẻ để trách móc thanh thiếu niên thời nay, đặc biệt là các cô gái, coi các em là ‘nhỏ nhen’, ‘bạo lực’ và ‘những kẻ bắt nạt’? Tại sao chính chúng ta lại đang bắt nạt những cô gái này?”
Đó là một câu hỏi hay. Không chỗ nào trong đoạn mở đầu này có những từ như “phân biệt giới tính” hay “coi thường nữ giới” xuất hiện, nhưng có lẽ hàm ý về điều này đã được thể hiện ra. Mọi người dường như muốn nhìn thấy cảnh các cô gái đánh nhau. Ít nhất người ta sẽ nghĩ như vậy từ rất nhiều chương trình truyền hình thực tế tập trung quanh những vụ tranh cãi của các cô gái. Không may thay, đây lại chính là những chương trình các cô gái yêu thích nhất. Các chương trình như Bà Mẹ khiêu vũ – Dance Moms, Siêu người mẫu Mỹ - American’s Next Top Model, Bãi biển Jersey – Jersey Shore, và Trên đồi – The Hills đều mô tả người phụ nữ trong những tình huống xung đột với nhau, buôn chuyện và nói xấu sau lưng nhau. Những chương trình này chuyên khai thác các tình huống kịch tính khi những người phụ nữ oán giận lẫn nhau tham gia một vài thử thách, những cảnh con gái đánh nhau. Khi tôi hỏi những cô gái tại Bronx về chương trình yêu thích của họ ở trường học, tất cả đều nhắc đến Bad Girls Club - Câu lạc bộ những cô gái hư, một chương trình truyền hình thực tế mà những cảnh quay chính là về phụ nữ công kích lẫn nhau trong các “cuộc chiến”, có khi còn làm đối phương bị thương. Điều đáng lo ngại nhất có lẽ là những cảnh quay này được làm để phần nào tạo hiệu ứng hài hước; có nghĩa là đáng ra chúng ta cần cười nhạo sự bất lực thái quá trong việc kiểm soát bản thân của người phụ nữ; tuy nhiên nhiều cô gái cũng xem nó như là sự thể hiện đầy sức mạnh của “dân anh chị”.
Một số nghiên cứu đã cho thấy một kết nối tiềm ẩn giữa hành vi bạo lực, bắt nạt và hăm dọa trên mạng, với các chương trình truyền hình thực tế. Một cuộc khảo sát quốc gia năm 2011 của Viện Nghiên cứu hướng đạo nữ sinh trên chương trình truyền hình chỉ ra rằng các cô gái từ 11 đến 17 tuổi bị ảnh hưởng nặng nề khi họ xem các chương trình như vậy. 75% các cô gái được khảo sát tin rằng các chương trình cạnh tranh thực tế là có “thực”, không giống với những gì được sắp đặt. So với các cô gái không xem các chương trình truyền hình thực tế, các cô gái xem những chương trình này thường cho rằng các cô gái trong cuộc sống thực đanh đá và nhỏ nhen hơn. Đại đa số các cô gái trẻ xem truyền hình thực tế cho rằng tán chuyện là một “phần bình thường của một mối quan hệ,” rằng “bản chất của các cô gái là xấu tính và hiếu thắng”, và rằng “thật khó để tin tưởng các cô gái khác.” Và 37% tin rằng “những người nhỏ nhen còn được mọi người nể hơn là những người tốt bụng.”
Jeannine Amber nói rằng khi cô ấy tiến hành một cuộc điều tra cho Essence về tác động thực tế của chương trình truyền hình với các cô gái, cô phát hiện ra rằng “thông thường những người sản xuất chương trình và những nhân vật [trong chương trình] sẽ thỏa thuận trước với nhau rằng, trong quá trình quay, sẽ có một cuộc ẩu đả tại một thời điểm nào đó, vì điều này sẽ là điểm nhấn giúp gia tăng xếp hạng. Bọn trẻ xem và nghĩ nó là thực - chúng nghĩ rằng đây là cách mọi người cư xử với nhau. Nếu đó là những đứa trẻ nhà nghèo và các bậc phụ huynh lúc nào cũng đang bận làm việc, thì chiếc ti vi đóng vai trò như một người trông trẻ; và những con người xuất hiện trong đó sẽ là những hình mẫu để đứa trẻ noi theo.”
Các cuộc ẩu đả giữa các cô gái diễn ra cả trong và ngoài trường học, và có xu hướng xuất phát từ mạng xã hội. Khi những cô gái tranh cãi nhau, lý do thường là vì một số lời lẽ mất lòng nhau trên mạng, như các cô gái ở Bronx đã nói, và sau đó nó sẽ trở thành một cuộc đối đầu ngoài đời – rồi những vụ ẩu đả này đôi khi lại được ghi hình trên điện thoại di động và rồi lại được đăng tải lên mạng xã hội. Một tìm kiếm trên YouTube về nội dung “con gái đánh nhau ở trường” đã cho tới hơn 20 triệu kết quả. Các video này quay cảnh những cô gái xé rách quần áo của nhau giữa một đám đông gồm những đứa trẻ khác, xem và cổ vũ. Trên Twitter, Facebook, Vine, và các trang web khác, bạn có thể tìm thấy những video như vậy, những video mà thường có rất nhiều lượt xem. Thông thường, các chàng trai là người đăng những thông tin này lên, và những bình luận liên tiếp được đăng lên nói lên sự thích thú của họ.
Nhưng các cô gái đánh nhau không phải vì bản chất của họ là nhỏ nhen hoặc có thiên hướng bạo lực. Khi các nhà nghiên cứu của Bộ Tư pháp xem xét những lý do xã hội và văn hóa đằng sau những vụ bạo lực của các cô gái vào năm 2008, họ thấy rằng, các nguyên nhân bao gồm sự đói nghèo, bạo lực gia đình, và việc lớn lên trong “cộng đồng vô tổ chức” với “các bậc cha mẹ mà chính họ cũng đang phải đối mặt với việc sinh sống trong những khu dân cư thua thiệt về hệ thống và đói nghèo.”
New York, New York
Hôm đó là thứ Bảy, và ba cô gái đã quyết định cùng xem một bộ phim mới dựa trên một tiểu thuyết của John Green, bộ phim Paper Towns. Sau đó, họ cùng đến một nhà hàng pizza gần rạp hát. Ba cô gái đó là: Alex, Hannah, và Zora, những người bạn học tại một trường tư thục Upper East Side. Họ là những cô gái da trắng với mái tóc thẳng dài, tóc của các cô đều màu vàng nhưng là những tông màu vàng khác nhau; các cô đeo kính râm, mặc quần bó và đeo dây chuyền, đi bốt ngắn đến mắt cá chân.
Alex mang một chiếc túi hiệu Fendi, và lấy tiền trong túi đó để trả tiền bữa trưa cho bạn bè của mình. “Mình sẽ đóng vai mẹ nhé”, cô nói đùa, mang mấy lát bánh pizza ra bàn.
Alex là một “công chúa khu Park Avenue” theo cách mô tả của chính cô, cô có dáng người cao với bờ vai rộng, vóc dáng rất oai. Bạn bè của cô gọi cô là một “diva”. Cô tôn sùng chế độ quân chủ nước Anh và nói rằng cô muốn kết hôn với Hoàng tử Harry vào một ngày nào đó - “Anh ấy mới chỉ khoảng 30 tuổi thôi vì vậy điều này không có gì là không khả thi cả” - “hay trở thành biên tập viên của tạp chí Vogue, hoặc Giám đốc điều hành của Disney.”
Hannah, cũng là một cô gái cao, khuôn mặt rộng và không đeo kính, lộ ra đôi mắt màu xanh hạt đậu, cô sống trong khu nhà giàu ở Brooklyn với “cha mẹ” của mình, cả hai người đều là đàn ông. Cô nói rằng cô muốn trở thành một bác sĩ để cô có thể gia nhập vào hàng ngũ Doctors Without Borders - Bác sĩ xuyên biên giới và “giúp đỡ những người trong chiến tranh.” Và Zora, một sinh viên được học bổng sống ở Lower East Side, đôi khi mọi người gọi cô là ‘Rory,’ giống như nhân vật Rory trong phim Gilmore Girls, vì cô khá trầm tính, ham đọc sách và có một bà mẹ độc thân lập dị. Một cuốn sách đang thò ra khỏi chiếc túi xách của cô, cuốn Romeo và Juliet.
“Thật buồn cười khi cậu mang theo cuốn đó”, Alex nói.
“Mình đọc nó trên tàu điện ngầm,” Zora nói. “Chúng ta không cần phải đọc nó suốt hai tháng nay rồi,” Alex nói với một nụ cười chế giễu.
“Mình đã đọc xong rồi,” Hannah nói. “Bố mình bắt mình đọc tất cả các tác phẩm của Shakespeare.”
Alex sun mũi: “Tôi muốn có lông mày của Cara Delevingne”, cô đột nhiên kêu lên. “Cô ấy có trò chơi lông mày rất hay.”
Delevingne là người mẫu 23 tuổi của Anh và là nữ diễn viên đóng vai chính trong phim Paper Towns. Cô trở nên nổi tiếng khi trở thành một thành viên trong nhóm những người bạn gái của Taylor Swift, và vì việc cô trả lời lạnh nhạt với cánh phóng viên trong các chương trình truyền hình vui vẻ. “Cậu đã xem trang Instagram của cô ấy chưa?” Hannah hỏi với một nụ cười.
“Dĩ nhiên là tôi đã xem Instagram của cô ấy,” Alex nói. “Tôi sống vì trang Instagram của cô ấy. Tôi còn tồn tại được là nhờ có nó”. Cô gập miếng bánh pizza của mình và cắn một miếng. Một phong cách rất New York.
“Instagram của cô ấy thực sự là hoàn hảo”, Hannah đồng tình.
“Tôi nghĩ cách mà Taylor Swift coi Cara là BFF1,” Alex nói.
1. BFF là từ viết tắt của Best Friends Forever là từ được dùng để chỉ những người bạn thân nhất.
“Giống như cô ấy nghĩ rằng cô ấy có thể trở thành Cara vậy. Taylor ơi, bạn sẽ không bao giờ trở thành La Delevingne đâu.”
“Tôi thích Taylor Swift,” Zora nói.
“Tôi đoán cô ấy là một tấm gương tốt,” Alex nói rồi lại cười.
Hai chàng trai trạc tuổi họ cũng vào nhà hàng pizza. Họ đứng tại quầy và gọi mấy miếng bánh pizza. Trông họ đẹp trai, mặc áo thun và quần jean.
Alex vồ lấy di động của mình và bắt đầu nhắn tin.
Một lát sau, điện thoại của Hannah rung trên bàn. “Oh!” Hannah nói. Alex đã gửi cho cô một tin nhắn cung cấp tên của hai cậu con trai kia, và trường học của họ. Alex biết họ. “Dĩ nhiên rồi, họ đã đi cùng bố mẹ đến dự tiệc Giáng sinh của bố mẹ tôi,” cô nói một cách chắc chắn. “Cha tôi chơi bóng với cha Dylan.”
Nhưng họ không nói chuyện hoặc thậm chí nhận ra nhau. “Alexandra biết tất cả mọi người,” Hannah nói, giọng thì thào. “Cô ấy là Gossip Girl - cô gái hay đưa chuyện.”
“Không phải Gossip Girl đó,” Alex nói châm chọc. Hannah nói, “Nell”.
Họ thì thầm và truyền tai nhau rằng Nell là cô gái, mà năm trước, đã đóng vai “Cô gái buôn chuyện” trên Askfm và “nói lên bí mật của mọi người và nói những điều khủng khiếp – chủ yếu là chuyện của những cô gái nổi tiếng,” Alex nói. “Chẳng hạn như những cô gái nổi tiếng nhất các trường tư thục, những cô gái mà có tới 700 người theo dõi trên trang Instagram.
“Mọi thứ đều gần như rất rõ ràng,” cô nói tiếp, “thế nên bạn có thể biết chính xác những người được nhắc đến là ai. Cô ấy nói những điều ngụ ý rằng những cô gái đó là dạng hư hỏng và có cả tá bạn trai cùng một lúc. Đó là sự xúc phạm, nhưng cá nhân tôi biết rằng mỗi lời đó đều chính xác.”
“Cha mẹ Nell gửi cô đến một ngôi trường ở vùng hẻo lánh,” Hannah thở dài. Đó là một loại trường nội trú kết hợp với phục hồi nhân phẩm, thường được xây dựng ở một nơi hẻo lánh, ngoài thành thị. Kiểu trường này, còn được gọi là “trường nội trú trị liệu”, đang khá phát triển kể từ thập niên 80, được biết đến là nơi mà những ông bố bà mẹ giàu có gửi những đứa con có vấn đề của mình.
“Còn có tin đồn rằng cô ấy đã mua một chiếc điện thoại cho một cậu bé bằng thẻ tín dụng của bố mẹ”, Hannah nói. Các cô gái tỏ ý khó chịu. “Cô ấy thực sự có vấn đề về việc lạm dụng vật chất.”
“Mẹ cô gái đó thì có vấn đề nghiêm trọng với chất Botox,” Alex nói.
Họ bắt đầu nói chuyện về việc có nhiều bà mẹ của các cô gái rất “có vấn đề” và “nhỏ nhen” nữa. “Có nhiều bà mẹ thật sự là nhỏ nhen lắm ấy” – “không phải mẹ tôi” – “không, cũng không phải mẹ tôi nhưng có vẻ như nhiều bà mẹ rất cáu con gái mình”- ‘rất cáu luôn ấy, họ như là đang thi thố với con gái mình và họ đăng ảnh họ mặc đồ bơi lên Facebook, xấu hổ chết mất” – “ôi mình hiểu mà, mình thấy thật tội nghiệp cho mấy đứa con gái” – “họ sẽ nghĩ kiểu “Trời ơi mặc thêm đồ vào đi, mẹ có phải là trẻ con đâu…”
“Bạn muốn mẹ là người bạn thân nhất của bạn”, Zora nói một cách tha thiết. “Thế nên, bạn sẽ làm gì đây chứ nếu như bà ấy không phải là người bạn thân nhất?”
“Mình không biết nữa,” Alex nói ráo hoảnh. “Những người bạn thân nhất của mẹ tôi là mấy người bạn gái trong nhóm cùng phong cách sống với bà.”
Họ nhắc đến tên của một cô gái khác mà họ quen biết và nói: “Mẹ cô gái này đã chửi cô ấy”, “Tôi nghĩ rằng cô gái đó đã uống thuốc ngủ”, “Tôi biết, điều này thật đáng buồn cho bà ấy - bà mẹ - vì con gái bà ghét bà và bà thì không bao giờ có thể có lại được những năm tháng đã qua.”
“Tôi nghĩ lý do mà Nell trở nên như vậy, là vì lúc đó cô ấy cô đơn” Zora nói.
“Cô ấy đã xem phim Gossip Girls nhiều quá”, Hannah nói. “Mình nghĩ Gossip Girls đã có một ảnh hưởng rất lớn đến thế hệ của chúng ta. Ngày ấy bộ phim này rất nổi, các cậu nhớ không?”
Phim Gossip Girls, được phát sóng từ năm 2007 đến 2012, nói về những sinh viên trong ngôi trường hư cấu mang tên Billard School dành cho các cô gái, những cô công chúa Park Avenue với khả năng mua sắm không giới hạn trong thời điểm đỉnh cao của cuộc đại suy thoái. Họ đi mua sắm, và cãi cọ rồi chỉ trích lẫn nhau, trong khi mặc cơ man những bộ váy từ các thương hiệu xa xỉ, sang trọng, đó thường là những chiếc váy mini, những chiếc đầm xẻ sâu, và áo cánh khoét cổ.
Hội đồng Truyền hình của Phụ huynh liên tục cảnh báo về khả năng gây ảnh hưởng xấu của thể loại phim này đối với khán giả trẻ, những lời khiển trách được mô tả rằng đã khiến những nhà làm phim Gossip Girls bớt buồn phiền một cách vô vọng, với những lời chỉ trích kiểu như - “Không đứng đắn đến sững sờ”, “Cơn ác mộng của phụ huynh,” “Một tác phẩm hư đốn”, những lời bình phẩm này đã được chính những nhà làm phim sử dụng trong chiến dịch quảng cáo của họ mang tên “OMFG”. Tạp chí New York gọi Gossip Girls là “Bộ phim dài tập dành cho tuổi teen tuyệt vời nhất của mọi thời đại.” “Tất cả các cô gái đều thích Gossip Girls”, một cô gái New York, 15 tuổi, đã nói với tôi.
“Tôi đã sống vì Gossip Girls”, Alex nói. “Khi bộ phim dừng phát sóng, tôi như tỉnh giấc – chỉ vì những đôi giày.”
“‘XOXO Gossip Girls”, Hannah nói, trích dẫn khẩu hiệu của chương trình.
Điện thoại của Alex rung lên. Một tin nhắn đến.
Mắt Alex mở to. Đó là tin nhắn từ một trong những chàng trai đã vào nhà hàng pizza. Họ đang ngồi ở một bàn khác. Mọi người đều nhìn về phía họ. Cả hai chàng trai đều đang cầm điện thoại, không có bất kỳ tín hiệu nào cho thấy anh nào đã nhắn tin cho Alex.
“Cậu ấy nhắn gì?”, Hannah hỏi.
“Ồ,” Alex nói lạnh tanh, thả điện thoại của mình lên bàn “Anh ta chỉ muốn biết khi nào anh trai tôi trở về từ Tây Ban Nha. Tôi ghét bọn con trai.”
“Ừm, mình thực sự cũng chẳng biết nói điều này thế nào”, Hannah lên tiếng sau một lúc. “Vậy, mình đoán mình cứ nói ra thôi vậy, mình đã có bạn trai!”
Trông cô rất hạnh phúc và hy vọng.
Alex và Zora nhìn chằm chằm vào cô. “Ồ, Hannah, thật tuyệt vời!” Zora nói.
“Cậu có bạn trai á?”, Alex nói. “Làm cách nào mà cậu có bạn trai vậy?”
“Ý cậu là gì?”, Hannah hỏi. “Có vẻ như câu hỏi này không mấy thành ý.”
“Ý mình chỉ là - anh ấy học trường nào thôi?”, Alex giải thích.
Hannah nói, “Anh ấy học trường công lập ở Brooklyn. Tôi gặp anh tại Prospect Park. Anh ấy là người Mexico.”
“Anh ấy là người Mexico? Anh ấy nói chuyện có chuẩn tiếng Anh không đó?”, Alex hỏi.
Hannah há hốc miệng. Zora gằn giọng, “Alex.”
“Oh - Tôi không có ý như vậy,” Alex lại đính chính. “Tôi chỉ muốn biết là liệu anh ý có phải là một người nhập cư.”
“Không, anh ấy là người Mỹ,” Hannah nói giọng chắc nịch.
“Alex,” Zora lại gọi.
“Mình muốn nói là – ý mình là,” Alex bối rối nói. Và rồi giọng của cô trở nên xúc động. “Vậy, tại sao trước đây cậu không nói gì với mình về điều này? Mình nghĩ rằng chúng ta là bạn mà. Đây không phải là quy ước của con gái sao. Cậu cần phải nói với bạn bè về bạn trai của bạn. Bạn cần phải nói với bạn bè của bạn về tất cả mọi chuyện và những gì đang diễn ra trong cuộc sống của bạn”.
“Ừ, thì mình đã không thực sự chắc chắn liệu anh ta có phải là bạn trai của mình không cho đến ngày hôm qua,” Hannah nói. “Nó chỉ diễn ra ngày hôm qua, ở nhà cậu ấy.”
“Ở nhà cậu ấy? Bạn đến nhà cậu ấy?”Alex hỏi. Hannah trả lời: “Ừ.”
“Có những người Mexico khác ở đó chứ?” Alex hỏi. “Alex,” Zora nói, “bạn thực sự dở hơi à?”
“Ừ, đây không phải là lần đầu tiên cô ấy làm như thế này,” Alex nói với vẻ bị tổn thương.
“Gì? Mình đã làm gì với cậu?” Hannah hỏi.
Alex đọc một kinh cầu nguyện dẫn chứng cáo buộc, rồi trách rằng Hannah đã không quan tâm gì tới mọi việc của Alex trên mạng xã hội: “Cậu không bao giờ thích những tấm ảnh của mình hay chẳng bao giờ bình luận gì về chúng.”
“Có, mình có mà!” Hannah nói.
“Thậm chí cậu còn chẳng theo dõi mình trên Tumblr,” Alex nói.
“Mình thậm chí còn không biết cậu có một trang Tumblr!” Hannah nói.
“Mình có mà,” Alex nói. “Mình đã đăng lên đó ảnh cái túi mà mình thích. Mình đã đăng những ảnh Birkins xinh đẹp.”
Hannah và Zora nhìn nhau.
“Cậu sẽ thay đổi trạng thái mối quan hệ của cậu trên Facebook chứ?” Alex nói với giọng mỉa mai.
“Mình không biết,” Hannah trả lời. “Cậu ấy hầu như không dùng Facebook.”
“Ừ, chẳng có anh chàng nào lên Facebook, trừ khi anh ta muốn tán tỉnh bạn,” Alex nói.
“Cậu biết điều đó vì nó xảy ra với cậu suốt rồi à?” Hannah nói.
Zora tái nhợt.
“Ồ”, Alex, bàng hoàng, “cậu đang nhỏ nhen rồi đấy.
Câu đấy không đáng đâu.”
“Ừ, còn cậu thì phân biệt chủng tộc!” Hannah kêu lên.
“Mình không như thế!”, Alex nói. “Mexico không phải là một chủng tộc!”
“Mình nghĩ chúng ta cần bình tĩnh lại” Zora nói. “Chúng ta là bạn mà.”
“Cậu nói đúng,” Alex nói.
Rồi Alex nói với Hannah: “Mình xin lỗi. Chỉ là mình hơi sốc thôi, chỉ thế thôi.”
Hannah nhún vai. “Không sao đâu.”
“Chúng mình có thể xem ảnh của cậu ta chứ?” Alex hỏi.
Hannah cầm điện thoại của mình và háo hức bắt đầu lướt và gạt. “Ừ, mình chưa chụp chung ảnh nào với cậu ấy,” cô nói, “bởi vì mình không muốn cậu ấy nghĩ rằng mình vội vàng, kiểu như chụp ảnh tự sướng cùng nhau chẳng hạn, các cậu biết đấy? Nhưng đây là Facebook của anh ý.” Cô giơ nó lên với chút tự hào. Bức ảnh trên Facebook của một cậu bé tóc đen đang mỉm cười trong một bộ đồ bóng đá màu xanh.
“Ôi Chúa ơi, cậu ấy dễ thương quá!” Zora nói.
“Cậu ấy thực sự dễ thương,” Alex nói, kiểm tra tấm ảnh đó như thể một nhân viên điều tra đang giám định một xác chết.
Hannah mỉm cười. “Mình biết mà.”
“Ừ, thế tại sao cậu ấy thích cậu?” Alex hỏi. “Alex,” Zora nói.
“Mình chỉ muốn nói, ý mình là, làm thế nào hai bạn đến với nhau?” Alex nói, đưa tay chống cằm và đưa mắt.
Hannah bắt đầu kể chuyện: vào một ngày khi cô đang đi bộ với con cún của mình dọc theo công viên Prospect Par, thì cậu ấy đi ra khỏi công viên với một quả bóng đá. Họ bắt đầu đi bộ với nhau, nói chuyện với nhau, và bây giờ lúc nào họ cũng nói chuyện với nhau. “Thật dễ dàng khi nói chuyện với cậu ấy”, cô nói không kịp thở, “nó như thể là chúng tôi đã biết nhau từ lâu. Cậu ấy chỉ… ồ, cậu ấy thật ngọt ngào và mình thích cách cậu ấy làm tất cả những điều ngu ngốc chỉ để làm cho mình cười, như việc cậu ấy gửi cho mình những tin nhắn vui và biểu tượng cảm xúc buồn cười...”
Zora lắng nghe với đôi mắt sáng ngời.
Alex thì đang lướt qua Facebook trên điện thoại của mình. Cô đã tìm thấy trang cá nhân của cậu con trai đó. “Mình sẽ kết bạn với cậu ta,” Alex nói.
Hannah đứng phắt lên. “Alex, không! Không được, cậu mà kết bạn với cậu ta! Cậu ta sẽ biết ngay là tôi đã nói về cậu ấy!”
“Thế cậu không muốn biết những gì cậu ấy nói về cậu ư?” Alex cười toe toét.
Hannah trả lời, “Không!” Zora nói: “Alex, đừng!”
“Tôi sẽ nói với cậu ấy là trông cậu ấy thật gợi cảm,” Alex nói với những ngón tay ở tư thế sẵn sàng trên điện thoại.
“Alex!” Hannah thút thít.
“Ôi Chúa ơi, mình chỉ đùa thôi mà,” Alex nói và đặt điện thoại của mình xuống. “Mình sẽ không bao giờ làm điều đó mà.”
Hannah hất đầu, khuôn mặt vẫn còn đang xúc động. “Đáng ra mình không nên nói với cậu bất cứ điều gì,” cô nói, vồ lấy túi xách của mình khỏi ghế. “Mình biết là mình không nên nói gì với cậu.” Cô đi nhanh ra khỏi cửa tiệm pizza.
“Thật là một phản ứng thái quá,” Alex nói. “Mình chỉ đùa thôi. Dù sao, mình cược là cô ấy nói dối. Cậu ấy không phải bạn trai của Hannah.”
“Alex, nếu cậu cư xử như một kẻ phản trắc, cậu sẽ nhận lại những gì xứng đáng,” Zora nói, đứng lên và rời khỏi nhà hàng.
Trong truyền thông
Theo quan điểm của nhiều người, “những cô gái thường nhỏ nhen.” Trong suốt thời gian hai năm rưỡi tôi dành để làm những báo cáo về các cô gái, người ta thường hỏi tôi, “Tại sao các cô gái lại nhỏ nhen vậy?” Một tìm kiếm trên Google về “các cô gái xấu tính” cho tới hơn 295 triệu liên kết trong kết quả: “Tại sao cô gái nổi loạn là nhỏ nhen.” “Những cô gái nhỏ trở nên nhỏ nhen hơn” “Những cô gái nhỏ nhen lại càng nhỏ nhen hơn nữa?”
Đó là một ngụ ý được đưa ra khá gần đây, và một trong những hướng nghiên cứu tại thời điểm khi mà nạn dọa nạt trên mạng là một vấn đề lớn trong cuộc sống của các cô gái, và thật đáng tiếc khi người ta vẫn thường cho hành vi của các cô gái là “bình thường”. Nhưng ý tưởng về việc “con gái nhỏ nhen” bắt đầu nảy sinh đầu thế kỷ hai mốt ở Mỹ với việc xuất bản một vài cuốn sách không đưa ra được bằng chứng để chứng minh lập luận trên. Thật thú vị khi thấy rằng lập luận ấy vẫn đang phát huy tác dụng, và từ đó đưa ra câu hỏi tại sao thông tin sai lệch này vẫn được các kênh truyền thông và văn hóa đại chúng bảo vệ.
Trước thời của “những cô gái nhỏ nhen”, có một cuốn sách nổi tiếng viết về con gái, mà thực ra, lại là các cô gái đang bị tấn công. Đó là sự Phục hồi Ophelia năm 1994: Cứu vớt nhận thức của các cô gái vị thành niên viết bởi Mary Pipher. Pipher, một nhà tâm lý học lâm sàng, sống tại Lincoln, Nebraska, đã bày tỏ lo ngại về sự gia tăng các hành vi tự hủy hoại bản thân mà cô được biết trong thực tế từ những năm 1980 và những năm 90; vấn đề vẫn còn lan truyền tới cả các cô gái thời nay, gồm những việc tự làm tổn thương cơ thể, ăn uống bừa bãi, dùng ma túy và nghiện rượu, cố tự tử, hay có ý định tự sát. Dựa trên các cuộc trò chuyện của mình với hàng trăm cô gái, Pipher tin rằng những vấn đề này có thể bắt nguồn từ những trải nghiệm của các cô gái đối với nạn phân biệt giới tính và bạo lực tình dục. Cô đưa ra nhận định rằng, lúc bắt đầu của tuổi mới lớn, mức độ tự tin của các cô gái bị tụt xuống khi họ bắt đầu có nhận thức khách quan của riêng mình về việc mình đã bị coi là đối tượng tình dục trong thế giới rộng lớn hơn. “Họ mất khả năng phục hồi và sự lạc quan của mình, trở nên ít tò mò và có khuynh hướng chấp nhận rủi ro,” Pipher viết. “Họ mất tính quyết đoán, mất nghị lực cũng như cá tính “mạnh mẽ kiểu tom-boy”và trở nên tự phán xét bản thân, chán nản và trầm cảm. Họ thấy không hài lòng với cơ thể mình.”
Phục hồi Ophelia đã trở thành một chủ đề của cuộc thảo luận quốc gia trong một bầu không khí hướng tới sự bình đẳng giới đầu thập niên 90. Năm 1991, phụ nữ trong cả nước đã trở nên điên tiết với hội đồng các thượng nghị sĩ nam da trắng trong việc điều trần Anita Hill khi cô làm chứng xác nhận nghe các thông tin tại các phiên tòa của Clarence Thomas. Năm 1992 được coi là Năm Của Phụ nữ sau cuộc bầu cử của bốn người phụ nữ vào Thượng viện. Sự phản ứng dữ dội của Susan Faludi: Cuộc chiến tranh ngầm chống lại phụ nữ Mỹ là cuốn sách bán chạy nhất trong năm 1991, nâng cao nhận thức về các phong trào phụ nữ đã gặp phải sự phản đối trong hầu hết các lĩnh vực của giới truyền thông và chính trị Mỹ, hầu như kể từ khi thành lập.
Làn sóng thứ ba của nữ quyền đã nổi lên và mở rộng trọng tâm về nữ quyền bao gồm sự thấu hiểu về các mối liên kết giữa các chủng tộc, giai cấp, và giới tính. Trong vùng Tây Bắc Thái Bình Dương, Riot Grrrl, phong trào chơi nhạc rock mạnh của giới nữ quyền, đã mang lại một sức ảnh hưởng sâu rộng. Và theo tờ Time, phim Thelma và Louise (sản xuất năm 1991), một bộ phim về hai người phụ nữ chạy trốn pháp luật sau khi một người giết chết gã đàn ông đã cố gắng hãm hiếp người phụ nữ kia, đã gây kích động cho “những cuộc thảo luận nảy lửa giữa phụ nữ và đàn ông.”
Đầu thập kỷ 90 cũng chứng kiến một số nghiên cứu có nội dung cho thấy giáo dục cộng đồng tại Mỹ đang gây bất lợi cho các cô gái. Năm 1991, Hiệp hội Phụ nữ Đại học Mỹ đã xuất bản một nghiên cứu cấp quốc gia cho thấy, những cô gái tuổi từ 9 đến 15 từng bị tổn thương về lòng tự trọng có xu hướng dè dặt hơn khi thể hiện ý tưởng của họ, ít hứng thú hơn trong các môn toán học và khoa học so với các học sinh nam do cách họ bị đối xử trong lớp học - chẳng hạn như, do ít được gọi lên phát biểu hơn và ít được khuyến khích hơn so với các nam sinh. Năm 1994, Giáo sư Đại học Mỹ Myra Sadker và David Sadker lặp lại những phát hiện trên trong một báo cáo dựa trên một nghiên cứu quốc gia thực hiện trong ba năm: Không có sự Công bằng: Các trường học tại Mỹ đang lừa dối các bé gái như thế nào?
Phong trào “sức mạnh nữ giới” những năm 90 là một phần của lời hồi đáp trước những gia tăng nhận thức về một cuộc khủng hoảng cảm xúc và giáo dục của các cô gái. Có nhiều đơn vị của chính phủ tiên phong giải quyết các bất bình đẳng trong giáo dục trẻ em gái, như là việc bắt buộc Danh hiệu IX năm 1972 và Đạo luật công bằng trong giáo dục phụ nữ năm 1974. Trong văn hóa đại chúng, tạp chí Sassy đã là kênh thông tin thể hiện nữ quyền mới thay cho Seventeen. Ngành công nghiệp giải trí phản hồi với sự xuất hiện của hàng loạt các chương trình truyền hình đưa ra hình tượng các nhân vật nữ mạnh mẽ: Buffy the Vampire Slayer – Buffy - người giết ma cà rồng, Xena: Warrior Princess – Xena: Chiến binh công chúa, My So-Called Life – Thứ tôi gọi là Cuộc sống, Moesha, và nhiều hơn nữa.
Nhưng như Susan Faludi đã đưa ra những lưu ý trong cuốn Backlash - Sự phản ứng dữ dội, những phong trào nữ quyền và những bước tiến thường gặp phải sự phản đối. Một làn sóng truyền thông đã nổi lên để phản ứng lại “sức mạnh nữ giới” với tuyên bố “các cô gái là người nhỏ nhen”. Cuốn sách bán chạy nhất của Rachel Simmons: Cô gái kỳ quặc: Sự giấu giếm văn hóa hung hăng của các cô gái, xuất bản năm 2002, tuyên bố rằng đã đến lúc vạch trần “sự che giấu của văn hóa mang tính bạo lực của các cô gái, trong đó nạn ức hiếp có sức lây lan nhanh, với các tính chất đặc biệt, và dễ gây ảnh hưởng mang tính phá hoại”. Simmons viết: trong thế giới của các cô gái, “tình bạn là một vũ khí, và là tiếng hét inh tai trong một ngày yên lặng. Không có cử chỉ nào gây đau đớn hơn hành động quay lưng bước đi.” Đó là một cáo buộc nghiêm trọng đối với một cuốn sách viết về những cô gái mà không bao giờ đề cập đến việc quấy rối tình dục đối với các cô gái bởi con trai hoặc đàn ông, và dành chưa đầy một trang giấy để viết về những gì các cô gái đã trải qua trong việc bị lạm dụng tình dục hoặc bạo lực tình dục.
Simmons bắt đầu cuốn sách của cô với một loạt những điều mà bản thân cô đã trải qua khi bị bắt nạt bởi một cô bé khác hồi cô lên 8 và sau đó đã thừa nhận trong cuốn sách: “Tôi tính cả mình trong số những phụ nữ và trẻ em gái đã bị biến thành quỷ bắt nạt các cô gái trong cuộc sống của họ” - và đưa ra vô số dẫn chứng về những trường hợp bé gái bị bắt nạt một cách tàn nhẫn bởi những bé gái khác; cô ấy ít đưa ra những số liệu cho việc các cô gái có tương tác tiêu cực với bé trai hoặc nam giới. Cô ấy không hướng tới sự ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông, quảng cáo, hoặc những nguồn thông tin văn hóa khác đối với hành vi của bé gái. Trong một cuốn sách về trẻ em và sự hèn hạ, bạn có thể cho rằng cuốn sách sẽ có ít nhất một lần đề cập đến sự gia tăng của tính nhỏ nhen, mà còn tốn nhiều giấy bút để bình phẩm, trong đời sống xã hội Mỹ vào những năm 1980 và những năm 90, như đã thấy trong các nền văn hóa của Wall Street và Washington và trong tình trạng bạo lực tăng cao trong các thông tin giải trí phổ biến, và như đã được thảo luận, ví dụ như, tác phẩm được sản xuất năm 1997 mang tên: Chiến thắng của sự nhỏ nhen: Cuộc chiến của nước Mỹ chống lại phiên bản tốt hơn của chính nó, bởi Nicolaus Mills.
Các nền tảng cho luận án của Simmons nằm trong các nghiên cứu thực hiện trong đầu thập niên 90 về ‘sự căng thẳng trong quan hệ,’ một thuật ngữ được sử dụng bởi các nhà nghiên cứu, đứng đầu bởi một giáo sư Phần Lan, Kaj Björkqvist. Thuật ngữ này được dùng để mô tả sự căng thẳng theo kiểu giấu giếm hơn là công khai, và nhắm vào uy tín hay địa vị xã hội của một ai đó. Những tìm hiểu mà giáo sư Phần Lan thực chất nói đến là tính hung hăng của con gái cũng ngang ngửa như con trai, và trong nhiều tình huống là không nhiều hơn con trai. Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây lại cho thấy rằng, “trái với nhận thức chung, các mức độ cao hơn của việc gây hấn trong các mối quan hệ [là] phổ biến ở con trai hơn con gái.” Đây là thông tin theo StopBullyinggov- một trang web với nội dung về bắt nạt và hăm dọa trên mạng được cung cấp bởi Bộ Tư pháp Mỹ, CDC, và các cơ quan khác của chính phủ, theo đó năm 2015 đã xuất bản một bài báo có tựa đề “Thông tin sai lệch về các cô gái nổi loạn”.
“Trong hai thập kỷ qua,” bài báo nói rằng, “sự căng thẳng trong các mối quan hệ đã nhận được nhiều chú ý của giới truyền thông. Những cuốn sách, những bộ phim, và các trang web đã miêu tả các cô gái tàn nhẫn với nhau, từ đó tạo ra và định hình khuôn mẫu của các cô gái nổi loạn.” “Tuy nhiên, nhận thức chung này về các cô gái trở nên nổi loạn hơn các cậu con trai không phải luôn được các nghiên cứu chỉ ra… Một số nghiên cứu lớn được thực hiện giữa các nền văn hóa khác nhau và các dữ liệu phân tích lớn cho thấy không có sự khác biệt giới tính trong sự căng thẳng của các mối quan hệ.” Tuy nhiên, một nghiên cứu năm 2014 thì lại đưa ra điều ngược lại. Nghiên cứu dọc theo sức khỏe tuổi thiếu niên bởi các nhà nghiên cứu tại Đại học Georgia, đã theo dõi một nhóm thanh thiếu niên trong bảy năm trong những năm 2000, thấy rằng sự hung hãn của con trai “nhiều hơn đáng kể” so với các cô gái ở cấp trung học.
Tuy nhiên, vào năm 2002, “căng thẳng trong quan hệ” là một từ thông dụng được phương tiện truyền thông nhắc đến và “những cô gái nhỏ nhen” đã là một chủ đề nóng. “Các cô gái chỉ muốn xấu tính thôi”, một câu chuyện trang bìa trên tạp chí The New York Times. Rachel Simmons và Rosalind Wiseman đã xuất hiện trên chương trình The Oprah Winfrey để thảo luận về điều này. Wiseman là tác giả của cuốn sách bán chạy nhất năm 2002, Ong chúa và các kẻ thần tượng: Giúp con gái của mình sống sót trong đám bạn, Buôn chuyện, Các bạn trai, và Các thực tế mới trong thế giới con gái, một cuốn sách khác trong đề tài tâm điểm về “những cô gái nhỏ nhen”, cuốn sách của cô mô tả một hệ thống phân cấp cứng nhắc và vô khối mệnh lệnh được đưa ra mà cô gọi là “Thế giới con gái”, trong đó các cô gái liên tục mâu thuẫn với nhau, chạy đua cho vị trí và nhìn chung là rất nhỏ nhen.
Trong cuốn sách của Wiseman thậm chí có ít hơn trong cách viện chứng từ tâm lý học, xã hội học, hoặc các nhà nghiên cứu khác; không có một chút nào. Wiseman không bao giờ nói ra bao nhiêu cô gái bà đã phỏng vấn hoặc ở đâu. Cuốn sách của bà thực sự không phải là một cuộc điều tra mà đúng hơn, là một cuốn sách hướng dẫn cho các bậc cha mẹ. Trước khi viết cuốn sách, bà là một giáo viên dạy môn võ karate. Cuốn sách của bà đã trở thành nguồn cảm hứng cho bộ phim Những cô gái nổi loạn, được chiếu vào năm 2004, tiếp tục phổ biến quan điểm về “những cô gái nổi loạn”.
Những cô gái nổi loạn, một trong những bộ phim được yêu thích nhất của các cô gái trẻ trong thập niên vừa qua, được viết bởi Tina Fey và diễn xuất bởi Lindsay Lohan, có vẻ ngoài là sự phê bình tính hèn hạ, ích kỷ các nhân vật của Tina Fey, một giáo viên trung học, nói với các cô gái trong trường, “Bạn phải chấm dứt việc gọi người khác là đồ dâm đãng và gái điếm.” Nhưng bộ phim được cho là không chỉ dừng ở đó, không chỉ có các chi tiết hài hước về sự thể hiện quyến rũ giới tính quá mức của các cô gái mà còn đưa lại cái nhìn về cả sự gợi cảm, sự phóng đãng và sự ích kỷ, hèn hạ của họ, các cô gái cũng có thể muốn trở thành người như các nhân vật. Trong phim, các cô gái của nhóm Plastic, tất cả 16 tuổi, di chuyển xuống đại sảnh của trường trong váy cực ngắn và giày cao gót, ngực nảy lên trên nền phim quay chậm. Nhân vật của Lindsay Lohan nói mơ màng trong lời thuyết minh “Trở thành thành viên nhóm Plastic là trở nên nổi tiếng”.
Hơn một thập kỷ qua, kể từ khi “Những cô gái nổi loạn” được chiếu, đã chứng kiến làn sóng các chương trình truyền hình liên quan đến sự nổi loạn của con gái như Gossip Girl, Bad Girls Club, Liars Pretty Little, America’s Next Top Model, và nhiều hơn nữa. “Nhưng tất cả theo một khuôn mẫu”, một cô gái 14 tuổi ở New York cho biết. “Sự rập khuôn trên truyền hình luôn là về những cô gái ích kỷ. Bạn không bao giờ thấy một cô gái đẹp và thông minh, cô ta hoặc là ác ý hoặc ích kỷ hoặc thông minh hoặc ngờ nghệch.” ‘Đó là sự thật’, bạn của cô, một cô gái 14 tuổi khác nói. “Đó là hai dạng mẫu hoặc là thực sự xinh đẹp, ích kỷ hoặc xấu xí, nghiêm túc. Bạn không bao giờ thấy một cô gái bình thường và đáng yêu giống như kiểu được B-cộng.”
Và trong khi nước Mỹ đang quan sát những cô gái nổi loạn của họ trên màn hình tivi, các phương tiện truyền thông, năm 2006 tràn ngập các báo cáo về những chàng trai thực sự đang “trong cuộc khủng hoảng” như thế nào. Năm 2004, Bộ Giáo dục Hoa Kỳ đã công bố một nghiên cứu cho thấy trẻ em gái và phụ nữ đã rút ngắn khoảng cách hiện có và thậm chí còn vượt trội nam giới về thành tích học tập. Vì các thông tin này được sàng lọc bởi giới phương tiện truyền thông, ý kiến của chuyên gia độc lập và tạp chí chuyên ngành bắt đầu báo động rằng nam giới được cho là đã tụt hậu vì sự ngược đãi của hệ thống giáo dục Hoa Kỳ. Tờ New Republic và Esquire đăng tiêu đề nóng trong khi tờ Newsweek cũng đưa ra một câu chuyện giật gân, “Các chàng trai khủng hoảng”, buộc tội rằng “theo hầu hết các tiêu chuẩn, các chàng trai trên khắp đất nước và trong mỗi nhóm nhân khẩu học đang tụt lại phía sau.” Một lần nữa, tờ Newsweek đổ lỗi sự bình quyền của nữ giới.
“Một số học giả,” tạp chí nói, “đặc biệt là Christina Hoff Som-Mers, một nghiên cứu sinh tại Viện Doanh nghiệp Mỹ, công kích rằng sai lầm của chủ nghĩa nữ quyền đang làm tổn thương các cậu con trai. Trong thập kỷ những năm 1990, bà nói… những nhà giáo nữ miêu tả [các cô gái] với sự thiệt thòi và dành nhiều cho họ những sự hỗ trợ và sự chú ý. Các cậu con trai, trong khi đó, với tỷ lệ con trai đạt được thành tích đã bắt đầu chững lại, đã bị phớt lờ và các vấn đề của họ cũng bị để thành ung nhọt”. Tờ Newsweek đã không để cho độc giả của mình biết rằng Sommers là tác giả của cuộc bút chiến Cuộc chiến chống lại các cậu bé: Làm thế nào sự sai lệch về nữ quyền lại thành sự tổn hại đối với các cậu bé của chúng ta, xuất bản năm 2000; cuốn sách bán chạy nhất của cô cũng đã được dẫn chứng rằng các cậu bé đang khủng hoảng, không phải các cô gái, và tất cả là do sự thành công của chủ nghĩa nữ quyền.
“Trong mọi xã hội, lúc nào con trai cũng được ưa chuộng hơn con gái,” Sommers viết. “Chúng ta có thể là những người đầu tiên cố tình quăng đi sự chuyển đổi giới. Nếu chúng ta tiếp tục quá trình như hiện tại, thì sau này chắc chắn các chàng trai sẽ trở thành giới tính thứ hai – một phần kỳ dị trong luận án của Simone de Beauvoir về tuyên ngôn nữ giới Giới tính thứ hai.
Nhưng cái gọi là khủng hoảng của các cậu bé lại trở thành một huyền thoại. Ý tưởng này đã cắm rễ sâu trong nhận thức quốc gia mà nó hiếm khi được hỏi. Mặt sau trang xã luận năm 2015 trên tờ The New York Times về cơ hội việc làm của nam giới cho biết, “Các tình trạng bất ổn của nam bắt đầu từ trong lớp học,” mà không có một dữ liệu tham chiếu nào. “Các cô gái đã vượt qua các cậu con trai ở mọi giai đoạn giáo dục,” mặt sau trang xã luận tiếp tục, “với kết quả học cao hơn từ những năm đầu cho đến những năm trung học và đại học.”
Có vẻ như chỉ một phần là đúng; sự thật là các cô gái đang có kết quả học tập tốt hơn so với các cậu con trai, nhưng họ khó mà “vượt qua” các cậu con trai “ở mọi giai đoạn học tập.” Năm 2006, ngành Giáo dục, với một nhóm độc lập tư duy chiến lược đào tạo, bây giờ là một bộ phận của Viện nghiên cứu Mỹ, công bố một báo cáo mang tên Bằng chứng cho thấy thực trạng khác: Sự thật về con trai và con gái. Khi tác giả, chuyên gia phân tích Sara Mead, xem xét các báo cáo đánh giá về tiến trình đào tạo quốc gia của Bộ Giáo dục từ những năm 1970, cô phát hiện ra rằng dữ liệu này “[đã] không hỗ trợ cho quan điểm cho rằng thành tích học tập của các cậu con trai đang giảm.” Thay vào đó, các thẻ báo cáo quốc gia này cho thấy rằng không có được bất kỳ sự thay đổi đáng kể trong thành tích học tập của các cậu bé. Trong khi đó, “các chàng trai lại đang đậu đại học với số điểm tốt hơn trước và những tỷ lệ cao nhất trong lịch sử” Mead viết. “Những cô gái chỉ cải thiện kết quả của họ về một số biện pháp thậm chí nhanh hơn. Kết quả là, cô gái đã thu hẹp hoặc thậm chí xóa khoảng cách trong các môn học mà con trai vốn có ưu thế hơn, trong khi những khoảng cách lâu dài mà con gái thường dẫn ưu thế lại càng được kéo ra, dẫn đến niềm tin rằng các cậu con trai đang tụt lại phía sau.”
Báo cáo ngành giáo dục đã cố gắng để đặt mọi thứ trong viễn cảnh: “Trong khi hầu hết các xã hội cuối cùng đã chấp nhận ý tưởng về bình đẳng giới, quan điểm cho rằng phụ nữ thực sự có thể vượt qua người đàn ông trong một số lĩnh vực (ngay cả khi họ đang ở phía sau) có vẻ khó được chấp nhận đối với nhiều người. Do đó, các chàng trai đang thường xuyên mô tả như là ‘tụt lại’ ngay cả khi họ đang tiến bộ một cách tuyệt đối… Một số đổ lỗi cho “chủ nghĩa nữ quyền sai lầm” trước những khó khăn của nam giới, trong khi những người khác tranh luận về ‘những huyền thoại’ của sự nam tính có tác động làm tê liệt các cậu con trai… Tuy nhiên, bằng chứng cho thấy rằng nhiều trong số những ý tưởng khả thi.” Bản báo cáo cũng lưu ý rằng “các chàng trai da màu, các chàng trai đến từ Tây Ban Nha, và những cậu bé có gia cảnh thu nhập thấp” vẫn sẽ có những bất lợi, nhưng “thu hẹp khoảng cách về giàu nghèo và phân biệt chủng tộc sẽ giúp những người nghèo và cậu bé dân tộc thiểu số xóa dần khoảng cách giới tính.”
Tháng sáu năm 2012, Văn phòng Quyền Công dân trực thuộc Bộ Giáo dục công bố một cuộc khảo sát về “Bình đẳng giới trong giáo dục,” báo cáo rằng khoảng cách giới tính giữa nam và nữ trong các trường Mỹ vẫn chưa bị thu hẹp: “Mặc dù có tiến bộ to lớn trong việc bảo đảm bình đẳng cơ hội giáo dục kể từ khi thông qua Quyền IX năm 1972 vẫn còn nhiều việc phải làm nếu chúng ta muốn đạt được bình đẳng giới hoàn toàn giữa các học sinh trên đất nước chúng ta.”
London, Anh
“Nó đã trở thành cách để mọi người gạt bỏ phân biệt giới tính,” Laura Bates nói, bàn về sự tiến hóa của quan điểm cho rằng “các cô gái là người nhỏ nhen.” Bates đứng đầu Dự án Phân biệt Giới tính Mỗi ngày, một trang web về nữ quyền mà cô cho ra đời vào năm 2012, ở tuổi 26. Trong năm 2015, cô đã đoạt giải Huân chương Đế quốc Anh cho những đóng góp của cô đối với bình đẳng giới.
“Khi tôi bắt đầu nói về phân biệt giới tính trong nhà trường”, cô nói, “mọi người ngắt lời và nói: Vâng, những cô gái rất nhỏ nhen với nhau. Ôi, nhưng phụ nữ chính là kẻ thù tồi tệ nhất của mình. Tôi không tin điều đó. Tất nhiên trong lòng ai cũng có những điều nhỏ nhen nào đó, nhưng chúng tôi đã khiến nhiều người tin vào ý tưởng về những phụ nữ xấu tính, hiếu thắng, và không thể chịu đựng sự thành công của phụ nữ khác. Ganh đua cũng là một đặc tính của con người dù khó chấp nhận. Và nạn ức hiếp có thể đến từ bất cứ loại người nào. Do đó tôi không tin rằng những tính cách đó là điển hình gen di truyền chỉ của riêng con gái.”
“Đúng là có nhiều trường hợp phụ nữ ganh đua và ích kỷ với nhau,” Bates nói, “điều này cũng một phần do các thông điệp xã hội gán cho phụ nữ và cách xã hội chờ đợi phụ nữ là như thế. Điều này là do phân biệt giới tính! Nhưng rồi xã hội lại dùng chính những lý do này để phản bác lại phụ nữ và để không ủng hộ nữ quyền. Trong một thế giới mà ở đó hình ảnh phụ nữ thường bị gắn với tình dục và phụ nữ thường xuyên bị đàn áp, thì thật quá dễ dàng để đánh giá họ là ích kỷ, xấu tính. Và do đó lại càng dễ dàng để tạo ra phân cấp với phụ nữ. Tại sao tất cả mọi người đều thích nói về các cô gái xấu tính? Đó là một nỗ lực nữa nhằm cản trở phong trào nữ quyền.”
Jamestown, Virginia
Hơn một lần Sierra đã cố gắng tự tử bằng thuốc trong tủ phòng tắm ở nhà. Cô nói: “Tôi thậm chí còn không chắc đấy là thuốc gì”. Mỗi khi một điều tồi tệ xảy đến là cô chỉ muốn tìm cách thoát ra, cô sẽ đi tìm tất cả những viên thuốc cô có trong nhà, vốc một nắm và nuốt như thể người ta vẫn hay làm trên phim.
Đa số sau những lần ấy cô thức dậy với một cơn đau đầu khủng khiếp và một cảm giác nôn nao trong dạ dày. Rồi cô nôn ra. Có một lần cô đã phải nhập viện và rửa ruột. Một lần khác trên đường đi bộ từ trường về nhà, cô đã cố gắng tự tử bằng cách nhảy ra trước đầu ô tô, nhưng một người bạn đã tóm được cô và kéo lại.
Cô có nhiều vết sẹo trên cổ tay và mặt trong cánh tay sau những lần cứa vào chính mình. Cô nói “Tôi đã phải uống thuốc chống trầm cảm để thôi không cắt vào tay mình nữa”. Nhưng rồi, những viên thuốc không giúp được cô và cô tiếp tục cắt vào tay mình. Dọc cánh tay cô đầy những đường cắt màu đỏ. Cô cũng nói “Tôi bắt đầu ăn rất nhiều để cảm thấy tốt hơn. Tôi thường xuyên ăn kem để ngăn cho những cảm xúc đó đến với tôi, nhưng tôi không muốn phát phì. Vì vậy, tôi lại quay lại giải pháp là cắt vào tay.”
Phòng khám Mayo định nghĩa việc cắt vào tay là dạng “tự gây thương tích” hay “tự hại bản thân”, là “hành vi cố ý làm tổn hại đến cơ thể của riêng mình, chẳng hạn như cắt hoặc đốt chính mình”, “một cách không lành mạnh để đối phó với nỗi đau tinh thần, giận dữ và thất vọng mãnh liệt.” Những người cắt vào chính mình thường nói rằng họ làm điều đó để làm giảm bớt nỗi đau tinh thần, đôi khi người khác khó hiểu, vì cắt chính là đau đớn. Nhưng “trong khi tự gây thương tích có thể mang lại một cảm giác nhất thời của bình tĩnh và phóng thích căng thẳng,” trang web Mayo nói “theo sau việc cắt vào mình là cảm giác tội lỗi, xấu hổ và sự trở lại của cảm xúc đau đớn. Và theo sau việc tự gây thương tích có thể là khả năng có những hành động nghiêm trọng hơn và thậm chí gây tử vong cho người đó“.
Một nghiên cứu năm 2008 trên Tạp chí Tư vấn và Tâm lý học lâm sàng cho thấy 56% các cô gái vị thành niên nói đã từng thực hiện một số hình thức tự hại bản thân trong cuộc đời mình. Con số này cao hơn so với kết quả nghiên cứu vào những năm 1990, trong đó có một năm mà tỷ lệ này chỉ thấp đến có 3%.
Sierra cho biết cô không phải là cô gái duy nhất tự cắt vào mình. “Nhiều bạn gái trong trường tôi cũng từng tự cắt vào mình. Cô bạn này và tôi đã từng cắt tay cùng nhau. Cô ấy cắt tay do đánh nhau với một bạn gái khác và người đó nói: Mày nên chết đi! Sau đó cô đăng lên trang Facebook của mình sau khi cắt tay và nói rằng cô đang làm điều đó. Mọi người gọi cảnh sát và đưa cô ấy đi bệnh viện.“
Sierra là một cô gái da trắng nhỏ bé với đôi mắt màu bông bắp xanh và mái tóc mềm màu khói với những sợi tóc lai nổi bật màu nâu; cô nói giọng điệu miền Nam và âm lí nhí, nhẹ nhàng khi cô nói. Cô ngồi trên giường, vòng tay siết quanh đôi chân gầy guộc của mình, với quần jean, áo thun đen, tay đeo nhiều vòng và nhẫn. Ánh nắng chiều chiếu qua cửa sổ và tỏa sáng trên khuôn mặt của cô, làm rõ lớp bột trang điểm phủ các nốt mụn nhỏ trên cằm.
Cha dượng của cô, Donny, đang ngồi ủ rũ trên ghế hướng lưng vào tường; ông cao lớn, trông lêu nghêu với mái tóc dài màu muối tiêu và được cột lại kiểu đuôi ngựa. Ông đã từng chơi trong một ban nhạc thập niên 80, còn bây giờ ông là một tài xế xe tải. Mẹ Sierra là chủ một nhà hàng. Còn cha đẻ cô sống ở Michigan.
Sierra nói rằng khi cô còn bé và sống ở Michigan, mẹ cô vô cùng chiều chuộng cô, ăn mặc cho cô giống như công chúa trong Disney, và mang cô đi khoe khoang. Cô không thể giải thích lý do tại sao từ thời mẫu giáo cô đã hay bị bắt nạt. “Cả cuộc đời tôi luôn như vậy. Tôi luôn phải nghĩ, mà tôi đã làm gì sai cơ chứ?”. Giọng cô bị đứt quãng. “Tôi có vấn đề gì đó khiến mọi người đều ghét tôi mà tôi không biết? Mọi người đã, đang, và lúc nào cũng đối xử như vậy với tôi, ngay cả chính lúc này“.
Khi cô học lớp 5, cha mẹ ly dị, cô chuyển đến Virginia với mẹ và dượng Donny. Cô nghĩ rằng mọi chuyện sẽ khác nhưng không. “Bọn con gái sẽ trêu chọc tôi và nói rằng tôi là đồ răng vẩu vì tôi đã có những cái răng lớn, và chúng còn gọi tôi là “Mặt Chuột.”
Việc bị bắt nạt còn trở nên tồi tệ hơn khi cô tham gia mạng xã hội. Năm học lớp 5, cô tham gia Facebook lần đầu tiên. Cô không biết tại sao nhưng cô rất thích mạng xã hội. “Tôi thích đùa với bạn bè trên đó,” cô nói. “Giống như, tôi chỉ cần cho mọi người thấy vài tấm hình xinh đẹp của mình, để nếu họ có nói tôi xấu xí, tôi có thể đùa lại: Thật à? Tôi trông ổn đấy chứ. Bằng chứng đây nhé.”
Cô ấy trên Facebook, Twitter, Instagram, và Askfm, cũng như các trang web khác. Trong lúc chúng tôi nói chuyện, cô vẫn tiếp tục sử dụng điện thoại để kiểm tra xem nếu có ai đã thích những gì cô vừa đăng, hay có ai nói điều gì cực đoan; nếu vậy, cô ấy xóa những bình luận đó.
Nó “rất nhiều việc,” một việc vặt liên miên, cô nói, đó thường là những bình luận từ các cô gái. Truyền thông xã hội khiến cô rất “căng thẳng”, khi cô phải liên tục phải sửa những điều sai và chỉ để những điều đúng, chẳng hạn như những bình luận từ những cô gái “tử tế” mà gọi cô là “xinh đẹp”, “buồn cười” và nói “chúng mình xõa thôi”.
Nhưng ngay cả khi mọi người tỏ ra xấu tính với cô ấy trên mạng xã hội, cô nói, cô vẫn thấy sức hấp dẫn của nó. Dù cô đã phải chịu đựng tất cả những vụ “kịch tính” trên mạng, cô vẫn cứ lần này lần khác để mình như vậy. Nó có vẻ như bất cứ ai khác nếu trải qua những chuyện bị bắt nạt như của Sierra, họ sẽ muốn nhanh chóng gia nhập vào một trang web như Askfm, trang nổi tiếng trong việc thu hút những kẻ bắt nạt, nhưng đó chỉ là những gì cô ý nói.
“Tôi đã làm việc hai ca,” Donny nói, “và mẹ cô đang làm việc như vậy, và chúng tôi không biết chuyện gì đang xảy ra. Chúng tôi biết con bé bị bắt nạt, nhưng chúng tôi không biết mức độ của sự việc. Và rồi chúng nói rằng chúng sẽ giết con bé. Và, bạn thấy đấy, không gì có thể bào chữa được.”
Cuối cùng cô ấy cũng đã nói với mẹ và Donny về các mối đe dọa liên quan đến cái chết mà cô nhận được, họ đã báo với cảnh sát. (sau đó vài tháng) “Chúng dừng được một thời gian và sau đó chúng lại tiếp tục diễn ra,” Sierra nói. “Giống như ai đó sẽ nói điều gì đó tôi đã nói, hoặc họ nghĩ rằng tôi đã nói, và sau đó mọi thứ sẽ bắt đầu lại, và chúng sẽ vẫn nói những điều như vậy với tôi trên mạng.”
Những “tin đồn” về cô ấy trên mạng đang bị bàn tán ở trường, “và không ai thích tôi vì họ nghĩ rằng những điều đó là đúng. Họ nói như thể người tôi có mùi cá. Bạn trai cũ của tôi, anh bắt đầu loan tin đồn nói rằng tôi bị AIDS và mụn rộp, rồi rằng tôi đã lây bệnh cho anh ta.”
Tất cả những điều đó khiến cô luôn phòng thủ, có khuynh hướng dễ phản ứng lại và đôi khi nổi loạn với chính mình. “Đôi khi tôi sẽ chỉ nói một điều gì có ý mong là họ sẽ nói với tôi trước.” Và điều đó khiến cô muốn đăng những bức ảnh “đáng yêu” của cô, để “những kẻ căm ghét” cô có thể nhìn thấy chúng đã sai thế nào việc trông cô ra sao.
“Tôi đáng yêu, ít nhất là tôi nghĩ thế và tôi không quan tâm mọi người nghĩ gì”, Sierra viết trên trang tài khoản Instagram.
Bên dưới hình ảnh của mình, cô tự đăng bình luận:
“Yêu điệu cười của mình trong ảnh này quá”. “Chẳng cần chỉnh sửa nữa vì tôi đáng yêu rồi”. “Trông thật đáng yêu, mình thích nụ cười này”. “Mình thật lộng lẫy”. “Trông mình thật gợi cảm.”
Cô cũng nhận xét về một bức ảnh cô chụp cùng một người bạn “Với con bé chuẩn bị nổi loạn,” nghĩa là họ định sẽ say xỉn và phê thuốc, vào “tối nay”.
Những bức ảnh trên Instagram của Sierra đã thành công trong việc thu hút sự bình luận khen ngợi từ những cậu con trai, đôi khi cả những cậu bé mà Sierra không quen.”
“Cậu có tài khoản trên Kik không?”, một cậu hỏi. “Có, nhưng tôi không biết anh”, Sierra phản hồi. Cậu bé nhắn lại “Chúng mình có thể tìm hiểu nhau mà”.
Williamsburg, Virginia
Tôi hỏi Janie về trải nghiệm của cô về những ảnh hưởng của việc bị hăm dọa trên mạng. “Ừ thì, tôi không thể tin tưởng bất cứ ai nữa”, cô nói với giọng điệu kiềm chế. “Điều đó đã thay đổi hành vi của tôi đối với mọi người. Tôi đã không thân thiện như trước được nữa. Tôi không quan tâm việc liệu tôi có bạn bè hay không. Nó hủy hoại tất cả mọi thứ, hủy hoại tất cả tình bạn của tôi. Tôi mất hết bạn bè của mình, ngay cả những người bạn từ hồi tôi một tuổi. Tôi mất cả người bạn thân nhất của mình.”
Mẹ cô, Betty, bà chỉ ngồi nghe, để Janie kể, nhưng rồi bà khẽ nói, “Tôi nghĩ rằng Janie đang rất bình tĩnh để có thể nói được với cô điều này. Con bé vốn từng phản ứng rất mạnh mẽ, hơn là những gì nó thể hiện ra. Nó luôn thể hiện sự mạnh mẽ ở trường và sau đó trở về nhà, cuộn tròn trên giường và khóc đến hàng giờ. Nó không muốn ra khỏi nhà, để làm bất cứ điều gì, chẳng thiết ăn uống gì.”
“Con bé sẽ còn chẳng nhìn vào mắt ai nữa,” bà Betty nói. “Nó tự tách mình hoàn toàn với mọi người. Nó từng là một ngôi sao của đội khúc côn cầu và có thể chơi bất kỳ môn thể thao nào mà không chút e ngại. Nhưng nó lại giam mình, nằm cuộn trên giường muốn được để tìm kiếm sự yên ổn. Tôi đã không muốn để con bé một mình vì nó đã rất buồn.”
Bà Betty chỉ cho tôi xem những bức ảnh của Janie chụp vào thời điểm đó; nhìn cô bé mỏng manh, buồn rầu và chán nản.
Bà Betty đã không biết phải làm gì, bà nói; và vì vậy bà đã không làm gì. Bà luôn nghĩ, thậm chí hy vọng, rằng việc Janie là người đồng tính chỉ là “trong một giai đoạn”, và bà cũng nhìn nhận những vấn đề Janie đã gặp phải với cô bạn gái cũ theo cách tương tự.
Và trong một thời gian dài, bà Betty thực sự không biết chuyện gì đang xảy ra với Janie trên mạng xã hội vì Janie không cho bà biết. Bà thực sự không thể hiểu sao lúc đầu Janie đã rất buồn rầu về chuyện này. Bà chưa từng thấy ai lại có thể trở nên u sầu vì những chuyện vớ vẩn mà được gọi là “mấy điều xảy ra trên mạng.” Bà chỉ biết rằng cuộc sống của Janie đã phá vỡ và cuộc sống gia đình của họ đang bị đảo lộn, và điều này đã diễn ra cả năm. Cho đến hết năm lớp tám.
“Janie không cảm nhận được rằng tôi đã đủ thấu hiểu ngay từ đầu”, Betty nói với vẻ thất vọng.
Và rồi một ngày Janie gửi cho bà một tin nhắn, sau này bà Betty đã đưa cho tôi xem: “Đây là lý do tại sao những đứa trẻ bị bắt nạt lại tự tử vì không có ai giúp họ hết và không ai giải quyết tình hình để rồi chúng lại hành xử tồi tệ với những kẻ ăn hiếp chúng, đó là lý do tại sao chúng tự tử bởi vì đây là tất cả những gì những người đáng ra phải giúp đỡ đang làm... Mẹ cảm thấy thế nào nếu con không nói với ai về những tin nhắn này và một ngày nào đó mẹ tìm thấy con đã chết, và con thực sự đã tự vẫn, rồi mẹ nhìn vào điện thoại của con và thấy những điều đó, mẹ sẽ cảm thấy thế nào chứ?”
Sau khi nhận được tin nhắn này, bà Betty ngồi xuống và đọc một vài các tin nhắn qua lại giữa Janie và những đứa trẻ khác. “Tôi đã sợ hãi”, bà nói. “Đó là những điều mà không ai nên nghe bất cứ ai nói về bất cứ người nào. Nó không chỉ là về các cô gái. Nó là các con trai và các cô gái. Đó là những đứa trẻ tôi đã biết kể từ khi chúng còn nhỏ”.
Bà đã đến gặp ban giám hiệu nhà trường, nhưng, bà nói, “Họ đã không chịu xử lý vấn đề ngày vì nó chỉ là ‘một mối quan hệ’ (trong ngoặc kép) và họ không muốn dính vào vấn đề này. Tôi cho họ đọc mẩu tin nhắn qua lại. Nhân viên Pháp lý - nghĩa là nhân viên cảnh sát địa phương được giao nhiệm vụ tại trường học – được đưa đến và ý kiến của ông là chúng ta cần phải làm nhiều điều hơn so với những gì nhà trường muốn làm. Nhà trường đã muốn chúng tôi tự chịu trách nhiệm để lo việc đó. Tôi cũng đã đến gặp quản trường học, và ông cũng không muốn giải quyết việc này. Thế nên, trường học sẽ nói rằng họ “không khoan dung” cho hành vi bắt nạt, nhưng họ thực sự không muốn dính vào bất cứ điều gì.”
Bây giờ bà Betty đã biết được những gì đã xảy ra trong cuộc sống của Janie, bà bắt đầu tự để ý và nhận thấy một số điều. Bà đã bắt đầu tham dự các hoạt động thể thao nơi Janie vẫn qua lại với bạn gái cũ của mình; họ vẫn cùng là một đội chơi bóng khúc côn cầu. Và bà có thể thấy rằng bố bạn gái cũ của Janie, là người trợ lý huấn luyện, “Trừng trừng nhìn Janie. Ôi, Tôi đã phải khiển trách điều này khi cảm thấy mọi thứ vượt ra khỏi tầm kiểm soát.“
Đó là sự oán giận, bà Betty nói, bởi vì “các cô gái đang chơi thật khủng khiếp, họ không hợp tác với nhau. Nó đã trở thành lỗi của Janie vì cô bé quay đi và khóc hoặc cô gái kia sẽ khóc.” Và sau đó Betty nghe thấy một số bà mẹ nhỏ to về cô ấy. “Có sự thắc mắc về cách nuôi dạy con của tôi”, bà nói, môi mím chặt lại.
Bà kể rằng một hôm, đã có một huấn luyện viên khác trong trường đã kéo bà ra một góc và nói rằng bà nên “xem lại những gì Janie đã nói” với cô gái khác trên mạng - “tất nhiên là tôi đã xem,” bà Betty nói. “Nó thực sự khiến tôi nổi điên, bất kể điều gì Janie đã nói hay cô gái kia nói, đó là chuyện tranh luận giữa hai học sinh. Nó không phải việc bình luận về trách nhiệm người lớn.
“Bọn trẻ đã có một buổi lễ tốt nghiệp và tôi đã chứng kiến sự rạng rỡ, tỏa sáng, mọi người đứng cạnh nhau, tay che lên miệng” – Bà Betty đưa tay lên miệng, như thể thì thào - “họ bình luận khi chúng tôi đi qua. Điều đó xảy ra trong phòng tập thể dục ở trường. Tất cả bọn họ ngồi xung quanh chúng tôi và đưa ra nhận xét rồi cười khẩy. Chúng tôi đều vỗ tay cho Janie và có những lời bàn tán khi con bé bước lên sân khấu.”
Bà Betty quyết định rằng Janie sẽ không quay lại trường. “Tôi không thể để con bé ở đó thêm bốn năm nữa được. Tôi biết con bé sẽ không bao giờ có thể trở thành người mà nó muốn. Vì vậy, chúng tôi đã đổi trường học cho con.”
Để làm điều đó, Janie đã phải chuyển đến sống cùng với bà ngoại ở một thị trấn gần đó. Cô không còn sống với mẹ và dượng nữa. Cô bé vẫn gặp mẹ hầu như mỗi ngày. Bà Betty nói, “quãng đường lái xe cũng rất xa.”
Với tất cả những điều đó, đã bao giờ họ nghĩ tới việc báo cảnh sát? Tôi hỏi. “Tôi đã quyết định không liên lạc với cảnh sát,” Janie nói. “Tôi không muốn chỉ vì một sai lầm mà cô ấy”, nghĩa là bạn gái cũ của Janie, “đã làm mà mọi người phải hủy hoại cả cuộc đời của họ.”
“Con bé muốn họ gần như là được bảo vệ vậy”, bà Betty nói rồi bật khóc.
Janie nhìn chằm chằm về phía trước.
“Nhưng thật tốt là đã thoát ra khỏi những chuyện đó,” bà Betty nói và lau nước mắt, “tình mẫu tử của chúng tôi đã mạnh hơn trước đây.” Bà đã nhận ra, bà nói, “ta cần phải chấp nhận con mình theo cách của nó. Con bé thích hoặc không thích điều gì không phải là việc của tôi. Mà điều quan trọng là cô bé là một đứa thông minh, là một con người tuyệt vời.”
Tôi hỏi Janie mục tiêu phía trước của cô là gì?
Cô nói cô muốn gia nhập hải quân. “Tôi cần phải đi thật xa”, cô nói. “Tôi chỉ muốn giúp đất nước và tham gia một cái gì đó lớn hơn bản thân mình.”
New York, New York
Montana đang ngồi trên ghế trang điểm trong căn hộ của một người đàn ông cô biết, một chuyên gia trang điểm cô gặp tại một chương trình sân khấu mùa hè. Ông ta là một người đồng tính thân thiện và ở tuổi ngũ tuần. Ông ta vạm vỡ, da đen và mặc một chiếc áo len. Căn hộ của ông ta tràn ngập đồ trang trí linh tinh và đồ trang điểm nằm rải rác trên mặt bàn như phấn mắt, son môi, phấn nền, kem lót và bàn chải. Hãy gọi ông ta là Robert.
Montana đã nói với tôi về cảm giác của bản thân khi cô mới bắt đầu nhận ra cô ấy là con gái.
“Một lần chúng tôi đã nhận một chiếc điều hòa mới đi kèm với một chiếc hộp vĩ đại,” cô nói. “Và anh trai tôi đặt tôi trong đó, đóng nắp lại và không để tôi ra ngoài. Đó là điều tôi đã cảm thấy về mọi chuyện lúc ấy, như thể đang mắc kẹt trong một cái hộp.”
“Và sau đó khi tôi lên 7, tôi nói với anh tôi: “Em là một cô gái, và anh ta nói sẽ giết tôi.”
“Khi bạn 7 tuổi?” Robert nói một cách kinh ngạc. Montana nói: “Vâng. Anh trai tôi luôn muốn tôi chơi trò chơi dành cho con trai với anh ta, giống như ném bóng xung quanh, chơi trò chơi video. Và tôi muốn nói rằng, tôi không muốn làm điều đó, tôi là con gái. Và anh ta đã thực sự tức giận và nói “Đừng nói mày là con gái. Nếu tiếp tục nói mày là con gái, tao sẽ giết mày. Mày không nên sống tiếp nữa.”
Robert nói với giọng cảm thông “Dù là giới tính gì,” anh thì thầm, “thì cũng không ai cần phải chết cả”.
Tóc Montana được phủ kín bằng túi nylon và mắt của cô nhắm lại. Robert đang trang điểm khuôn mặt cho cô. “Cô ấy có đôi gò má cao đẹp”, ông nói với tôi và tiếp tục chải xuống dọc theo cánh mũi Montana. “Trang điểm cho cô ấy không thực sự khó vì cô ấy có sẵn đôi mắt đẹp và lông mi dài.”
Montana nói nhẹ nhàng, “Cám ơn.”
Rõ ràng là Robert chỉ là một người bạn đối với cô ấy và Montana cũng đã nói với tôi như vậy. “Ông ấy giúp tôi,” cô nói. “Chúng tôi nói về mọi thứ.” Ông là một người mà cô biết chắc sẽ chấp nhận con người thực của cô.
“Cô thấy chứ, gia đình tôi gốc Puerto Rico lai Ý,” Montana tiếp tục. “Đó là hai nền văn hóa có tính gia trưởng, nhất là khi họ lại đến từ các khu trung tâm”. Còn khi xuống thị trấn, bạn đi xung quanh và không ai nói gì về bạn.
“Ồ, tin tôi đi, họ có nói đấy”, Robert nói. “Bạn phải bắt gặp họ vào một buổi tối nào đó, khi họ đến các quán bar!” Ông cười chân thật.
Montana mở mắt và ngước nhìn ông ta. “Có thật không? Họ nói với ông à?” Rõ ràng là cô ấy nghĩ rằng Robert rất đáng tin.
“Ồ, tôi có thể cảm nhận được những vụ hăm dọa”, Robert nói. “Với một người đồng tính lớn lên ở miền Nam trong những năm 60, tôi thấy việc đó thậm chí không được gọi là quấy rối hay bắt nạt. Đó là những gì mọi người làm với người đồng tính vì họ là những tội đồ. Một lần nữa ông ta lại cười lớn, cách mà có vẻ giống như một loại thuốc xoa dịu mà ông đã tìm ra trong một thế giới có nhiều cuộc hội thoại căng thẳng.
“Nhưng chúng tôi đã đi một chặng đường dài, thực sự dài”, Robert nói thêm và vừa đánh lớp kem mỏng che khuyết điểm dưới mắt Montana. “Bây giờ họ đang để cho chúng tôi kết hôn. Cầu Chúa phù hộ chúng tôi!” Ông cười một lần nữa.
“Và bây giờ chúng tôi đã có những người nhận ra là phải tôn trọng quyền của người chuyển giới–phải tôn trọng tất cả mọi người,” Robert nói. Ông ta nói với chất giọng rất khích lệ. “Tôi nhớ đến Bruce Jenner trên chiếc hộp Wheaties. Ai mà nghĩ rằng người ta sẽ thấy anh ấy trên trang bìa của tạp chí Vanity Fair với vẻ bề ngoài giống như Ava Gardner vậy!”
Đến lượt Montana. “Tôi bị phán xét suốt ngày”, cô nói ngập ngừng. “Tôi không có quyền phán xét bất cứ ai. Và tôi không phán xét Caitlyn - Tôi nghĩ rằng những gì cô ấy đã làm rất dũng cảm. Nhưng tôi có đọc được một số điều trên mạng về việc…, tại sao cô ấy lại phải ăn mặc như thế khi ra đường chứ?” “Ăn mặc như thế nào?” Robert hỏi. “Giống như mặc đồ lót vậy.”
“Cô đang sỉ nhục cô ấy ư?” Robert cười một lần nữa. Montana nói: “Không, tôi chỉ nghĩ rằng việc khoác một bộ trang phục gợi dục lên người phụ nữ dường như nói lên một điều rằng tất cả những gì cô ấy có chỉ là tình dục. Tôi không nghĩ rằng khi là một phụ nữ thì phải mặc cách này hay cách khác – và mọi người đều nên hiểu điều đó về tôi.”
“Ừ, có lẽ Caitlyn thích mặc như vậy,” Robert nói. “Theo tôi, nhìn cô ấy cũng đẹp!”
“Đúng, nhìn cô ấy đẹp,” Montana nói. “Nhưng trông cô ấy giống như cái đẹp theo tiêu chuẩn của xã hội vậy. Giống như đó là vẻ bề ngoài mà một người phụ nữ nên có. Cô ấy trông giống như gia đình của cô ấy, giống như các chị em nhà Kardashian. Đó có phải là sự lựa chọn của cô ấy không? Hay đó là sự lựa chọn của xã hội? Cũng giống như việc, tại sao một cô gái cứ phải trông nữ tính, quyến rũ?”
“Này cô gái,” Robert nói rồi cười, “Cô là một người theo chủ nghĩa nữ quyền.”
“Tôi ủng hộ nữ quyền”, Montana nói tiếp. “Đó là điều chắc chắn. Mỗi cô gái phải là một nhà nữ quyền, và nếu không, cô ấy đã đi ngược lại với nòi giống của chính mình.” Robert ầm ừ: ‘Mmmm-hmmm.’ Bây giờ ông đang sử dụng chổi trang điểm. “Nhưng cô biết đấy,” ông nói, “Tôi nghĩ khác khi Caitlyn mặc quần đùi trên trang bìa của một tạp chí - cô ấy là một người phụ nữ trưởng thành, cô ấy có thể làm những gì cô ấy muốn; và chủ nghĩa nữ quyền có phải là phụ nữ được làm những gì họ muốn không? Tôi nghĩ có sự khác biệt về nữ quyền khi so một người phụ nữ 65 tuổi với một đứa con gái 13 tuổi. Chúng ta có một số cô gái đang bước vào cửa hàng”- Robert làm trong ngành bán lẻ - “và họ thậm chí không nhiều tuổi hơn ấm nước của tôi và ăn mặc y chang như các cô gái trình diễn trong các buổi trình diễn ở Las Vegas. Tôi biết điều đó nghe như tôi đang sỉ nhục họ, nhưng tôi chỉ nghĩ về những gì bà tôi sẽ nói trong tình huống như vậy. Và tôi tự hỏi cha mẹ của họ đang nghĩ gì. Và cách họ nói chuyện với nhau kìa! Nó giống như ở nhà họ không được giáo huấn. Họ nói khá giống xã hội đen.” Ông cười một lần nữa, lắc đầu.
“Tất cả đều liên quan đến nhau,” Montana nói. “Xã hội muốn bán cho họ nhiều thứ, vì vậy xã hội làm cho họ lớn nhanh hơn. Chủ nghĩa phân biệt giới tính đóng vai trò phục vụ chủ nghĩa tư bản.”
Robert nói: “Ôi trời…!”
“Và sau đó xã hội lại đối xử với họ như những đối tượng tình dục nên họ không có quyền và chúng không cần phải trả nhiều tiền hay cung cấp cho họ quyền bình đẳng”, Montana nói. “Đó là lý do tại sao tôi không thể hiểu những cô gái lại đi bắt nạt, quấy rối nhau trên mạng xã hội, bởi vì xã hội đã đang suốt ngày bắt nạt các cô gái rồi.”
“Điều đó rất đúng,” Robert tán đồng.
“Giống như họ bắt nạt người chuyển giới sang nữ vì họ coi thường nữ giới!” Montana kêu lên, mở mắt ra. “Nó giống như bài hát của Madonna, What It Feels Like For A Girl - Cảm giác khi trở thành con gái”.
“Ồ, tôi biết Madonna sẽ xuất hiện trong cuộc trò chuyện này mà!” Robert nói. “Ít nhất tôi đã hy vọng vậy!” Ông cười.
Montana nói về một câu trong bài hát “Một cậu bé trông giống như một cô gái nghĩa là sự “xuống cấp” vì bạn nghĩ trở thành con gái là một sự suy thoái”. Nó nghe như thể cô lặp đi lặp lại lời này.
“Mmm-hmm,” Robert thì thầm. “Nhưng mọi người đã không đánh giá thấp hay hạ cấp Caitlyn Jenner? Tôi nghĩ rằng họ đang tán thưởng cô ấy.”
“Họ đang tán thưởng cô ấy vì cô ấy phù hợp với cái hộp ấy!” Montana vừa nói vừa tạo hình hộp với hai bàn tay và giữ chặt hộp trong không khí. “Bởi vì cô ấy mặc quần áo như Kim Kardashian! Nó giống như là nếu bạn có thể phù hợp trong hộp này, chúng sẽ cho bạn đi vào!”
“Cô gái này nói quá nhiều”, Robert nói, cười khúc khích, nhẹ nhàng chuốt mi Montana với mascara. “Ngồi trong ghế trang điểm của tôi mà chỉ trích đủ thứ.”
Montana cười.
Khi ông vẫn đang trang điểm mắt cho cô, Robert bắt đầu hát, với giọng nam trầm: “Bạn có biết giống như một cô gái thì nó sẽ cảm thấy gì?…’”
“Bạn biết tôi nghĩ gì không?” Một lúc sau Robert trả lời. “Tôi nghĩ rằng bạn là một cô gái trẻ rất đáng yêu.” Montana nói: “Tôi á?”
Robert đã đưa cho cô một chiếc áo choàng dài, có hàng cúc lụa để mặc cùng quần jean của cô. Bây giờ anh đã bỏ túi nylon ra khỏi đầu cô và cẩn thận chải mái tóc cho cô. Anh để cô đứng lên và cho cô xem qua một tấm gương dài.
“Vậy bạn thấy sao?”
Montana mỉm cười. “Tôi nghĩ rằng tôi trông giống tôi.”
Robert trang điểm giống Madonna và Montana dành buổi chiều trò chuyện với bạn của cô.
New York, New York
Sau sự việc xảy ra tại nhà hàng pizza, Hannah và Zora ra khỏi cửa hàng và cùng ngồi trên một cái ghế dài ở Central Park. Họ đã nhắn tin để hẹn nhau. Hannah đã khóc khi Zora gặp cô.
“Tôi ghét Alex,” Hannah nói.
Họ ngồi một lúc và nhìn người qua lại. Một đôi tay trong tay. Vú em với xe đẩy. Zora đi lấy một cái bánh quy cây và mang về hai thanh kem.
“Ồ,” Hannah nói, lau mắt. “Tôi không nên ăn kem ngày hôm nay. Tôi đã ăn pizza rồi.”
“Nhưng nếu tôi cứ cầm thế này, nó sẽ chảy ra tay tôi mất,” Zora nói, mỉm cười.
Hannah đã cười lại và lấy kem. “Cảm ơn.”
Họ ngồi ăn kem đầy vui thích và xem một chú hề không giỏi giang gì mấy đang tung bóng cố gắng để kiếm tiền.
“Cậu biết Alex chắc không có ý gì với những điều cậu ấy nói mà,” Zora lên tiếng. “Nhưng đó là Alex, người bạn của chúng mình thỉnh thoảng hay nói điều khủng khiếp.”
“Và là một kẻ hợm hĩnh và phân biệt chủng tộc,” Hannah nói.
“Và là một kẻ hợm hĩnh và phân biệt chủng tộc và kiểu như một cô gái xấu tính.” Zora cười. “Nhưng không phải thực sự như vậy. Chỉ là bạn ý đang không được bảo ban tốt. Ai cũng đều xứng đáng có cơ hội thứ hai mà”
“Ừ” Hannah đồng ý.
Họ quyết định họ sẽ gửi cho Alex đoạn tin nhắn. Họ đã chụp ảnh chung và làm mặt cười “Ôi Chúa ơi, đẹp đấy!” rồi gửi nó vào điện thoại của Alex. Họ cười khúc khích, đợi hồi đáp. Nhưng Alex không nhắn lại.