Phương Thuốc Tuyệt Vọng

Lượt đọc: 27 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1. Ngày Hai Mươi Chín Tháng Ba. Buổi Trưa

❊ ❊ ❊

Đúng bảy ngày sau khi Edward Springrove nhìn thấy kẻ mang gói rơm đi dọc các con phố ở Casterbridge, lão bác nông dân Springrove đang đứng bên mép vỉa hè ấy, trò chuyện với người bạn của mình là bác nông dân Baker.

Cuộc trò chuyện chợt ngưng bặt. Ông Springrove đang nhìn xuống lòng đường vào một vật gì đó đã thu hút sự chú ý của ông. ‘Ồ, đó là nơi tất cả chúng ta rồi cũng sẽ đến!’ ông thì thầm.

Người kia nhìn về cùng một hướng. ‘Đúng vậy, hàng xóm Springrove ạ; quả thật là vậy.’

Hai người đàn ông, tiến bước nối đuôi nhau ở giữa lòng đường, chính là điều mà hai bác nông dân đang nhắc tới. Họ là thợ mộc, và trên vai họ đang khiêng một cỗ quan tài trống, phủ một tấm vải đen mỏng.

‘Tôi luôn cảm thấy một sự thỏa mãn khi bắt gặp cảnh tượng như thế này,’ Springrove nói, vẫn đăm đăm nhìn gánh nặng buồn bã của những người thợ mộc. ‘Tôi coi đó như một thứ thuốc vậy.’

‘Và nó đúng là thuốc thật.... Dạo gần đây tôi không nghe nói có ai ở phía trên này bị ốm cả? Có vẻ như người này ra đi đột ngột thì phải.’

‘Chắc là vậy. Này Baker, chúng ta hay gọi là chết bất đắc kỳ tử phải không nào? Nhưng về bản chất thì cái chết đột ngột chẳng có gì khác biệt so với bất kỳ hình thức qua đời nào khác. Chẳng có cái gọi là sự đứt gãy ngẫu nhiên của một sinh mệnh vốn được định sẵn để kéo dài hơn đâu. Chúng ta chỉ bất chợt chạm trán với một điểm kết thúc — vốn đã được định hình thấu đáo như mọi thứ khác — và nó đã hiện hữu ở chính cái điểm đó ngay từ khởi đầu, chỉ là chúng ta không nhìn thấy nó đến sớm đến vậy mà thôi.’

‘Đó chẳng qua là một sự hiển lộ đối với tâm trí anh, chứ không phải là một sự thay đổi trong ý Chúa.’

‘Đúng thế. Điều bất ngờ không nằm ở sự việc, mà nằm ở tầm nhìn của chúng ta.’

‘Giờ thì anh sẽ khó mà tin được đâu, hàng xóm ạ, nhưng cảnh tượng nhỏ bé ngay trước mắt này lại khiến tôi bớt lo lắng hơn về việc phải thúc đẩy công việc đập lúa và rê lúa vào tuần tới mà tôi vừa nhắc đến hồi nãy. Tại sao chúng ta lại không thể dừng chân lại, tự nhủ với bản thân rằng hãy dành một cái nhìn điềm tĩnh cho những Cớ sự và Nguyên nhân, trước khi tất cả kết thúc, và chúng ta chìm xuống chốn đất mùn rồi bị lãng quên?’

‘Đó là một cảm xúc rồi sẽ đến thôi. Nhưng không thể ngẫm ngợi sâu xa về nó được đâu. Thế giới này có một dòng chảy ngược, và chúng ta phải cố gắng hết sức để tiến lên chỉ để giữ nguyên vị trí của mình mà thôi. Nhưng kìa Baker, họ đang rẽ vào đây cùng chiếc quan tài kìa, nhìn kìa.’

Hai người thợ mộc đã khiêng gánh nặng của họ vào một lối đi hẹp gần đó. Hai bác nông dân, cũng như những người khác, quay lại và dõi theo họ dọc theo lối đi ấy.

‘Đó là quan tài của một người đàn ông, lại là một người cao lớn nữa,’ bác nông dân Springrove tiếp lời. ‘Dù hắn là ai đi nữa, vóc dáng của kẻ đó thật đẹp.’

‘Một chiếc hộp rất mộc mạc cho một linh hồn khốn khổ — chỉ là gỗ du thô ráp thôi, anh thấy đấy.’ Góc tấm vải đã bị gió thổi lệch sang một bên.

‘Ừ, dành cho một người nghèo khổ. Chà, cái chết càng ít mang tính sỉ nhục đối với hắn hơn. Tôi vẫn συ thường nghĩ rằng tầng lớp giàu có rốt cuộc trông mới thảm hại và nhỏ bé làm sao trước những phen túng quẫn thế này. Có lẽ điều vĩ đại nhất giúp một người hay suy ngẫm có thể hòa giải với cảnh nghèo khó — và tôi nói điều này từ kinh nghiệm bản thân — chính là sự tĩnh lặng tuyệt vời mà nó mang lại cho tâm hồn khi sự bấp bênh của cuộc đời bộc lộ rõ hơn thường lệ.’

Khi Springrove dứt lời, những người khiêng quan tài đã đi qua một khoảng sân rải sỏi nằm đối diện với hai người đàn ông và đến gần một vòm cổng nặng nề và ảm đạm. Họ dừng lại dưới vòm cổng, kéo chuông và chờ đợi.

Phía trên vòm cổng có khắc những chữ cái in hoa kiểu Ai Cập,

‘NHÀ TÙ QUẬN.’

Cánh cửa chớp nhỏ hình chữ nhật, được thiết kế nằm trên một trong hai cánh cửa gắn đinh sắt, đã được mở ra từ phía bên trong. Từng người một bước qua ngưỡng cửa, cỗ quan tài lê tấm thân ảm đạm qua ô cửa nhỏ, và cả hai đều bước vào trong sân, khuất khỏi tầm mắt.

‘Có ai đó trong nhà tù phải không?’

‘Vâng, một trong số các tù nhân,’ một cậu bé vừa chạy lướt qua lúc đó vừa nói vọng lại, đoạn tiếp tục đi với tiếng huýt sáo.

‘Cậu có biết tên của người vừa qua đời không?’ Baker hỏi một người thứ ba đang đứng xem.

‘Biết chứ, chuyện đó lan khắp thị trấn rồi — chẳng lẽ anh không biết sao, bác Springrove? Chà, chính là Manston, quản gia của tiểu thư Aldclyffe. Người ta phát hiện hắn đã chết ngay đầu giờ sáng nay. Hắn đã treo cổ tự vẫn sau cánh cửa phòng giam của mình, bằng cách nào đó, bằng một chiếc khăn tay và vài dải quần áo. Người gác cổng nói rằng các nét trên khuôn mặt hắn hầu như không thay đổi, khi ông ta nhìn vào hắn với ánh nắng sớm chiếu rọi qua chấn song sắt. Hắn đã để lại một bản tường thuật đầy đủ về vụ án mạng, và tất cả những nguyên nhân dẫn đến cơ sự đó. Thế là hết đời hắn.’

Sự thật hoàn toàn đúng là như vậy: Manston đã chết.

Ngày hôm trước, hắn đã được cho phép sử dụng dụng cụ viết lách, và đã mất gần bảy tiếng đồng hồ để chuẩn bị bản thú tội sau đây:—

‘NHỮNG LỜI TRĂN TRỐI.

‘Sau khi nhận ra cuộc đời con người là một mưu đồ được thiết kế đầy khốn khổ, tôi từ bỏ nó, và để không gây thêm rắc rối nào nữa, tôi xin viết lại những sự việc liên quan đến hành tung quá khứ của mình.

‘Sau khi tạ ơn Chúa, ngay khi bước chân vào ngôi nhà của tôi vào đêm xảy ra vụ hỏa hoạn ở Carriford, vì đã được giải thoát khỏi sự ràng buộc với một người đàn bà mà tôi căm ghét, tôi đã quay lại hiện trường thảm họa một lần nữa, và nhận thấy chẳng còn việc gì có thể làm nếu cứ tiếp tục ở lại đó, chẳng bao lâu sau tôi liền trở về nhà cùng với ông Raunham.

‘Ông ấy chia tay tôi ở bậc thềm hiên nhà và quay về phía nhà xứ. Trong khi tôi vẫn đứng ở ngưỡng cửa, trầm ngâm suy nghĩ về sự giải thoát kỳ lạ của mình, tôi nhìn thấy một bóng người bước ra từ dưới vòm cây trong công viên. Đó là bóng dáng của một người phụ nữ.

‘Khi cô ta tiến lại gần, ánh chạng vạng đủ để tôi nhận ra trang phục của cô ta: đó là một chiếc áo choàng dài chấm đất và một lớp khăn voan dày che kín mặt. Những đặc điểm ấy, cùng với vóc dáng và dáng đi của cô ta, lại thêm một tia nhận thức lóe lên về chuỗi sự kiện đã cứu mạng cô ta, đã mách bảo với tôi rằng đó chính là người vợ Eunice của tôi.

‘Tôi nghiến răng trong cơn cuồng nộ của sự tuyệt vọng; tôi đã mất Cytherea; tôi lại vớ lấy một kẻ có nhan sắc đã phai tàn, có lời ăn tiếng nói toàn những lời phàn nàn, có tâm trí nông cạn và ngày nào cũng nốc rượu brandy. Sự đảo lộn cảm xúc thật khủng khiếp. Đấng Tối Cao, đấng mà tôi vừa mới tạ ơn, dường như lại là một kẻ hành hạ nhạo báng đang cười cợt tôi. Tôi cảm thấy mình giống như một kẻ điên.

‘Cô ta tiến đến gần — giật mình khi nhìn thấy tôi ở bên ngoài — rồi cất lời với tôi. Những lời đầu tiên của cô ta là sự quở trách vì những gì tôi đã vô tình gây ra, và nghe như một lời bảo chứng cho việc tôi sẽ bị nguyền rủa chừng nào cả hai chúng tôi còn sống. Tôi giận dữ đáp trả; thái độ đó của tôi đã biến những lời phàn nàn của cô ta thành sự bực bội. Cô ta mỉa mai tôi về một bí mật mà cô ta đã khám phá ra, liên quan đến tiểu thư Aldclyffe và tôi. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi biết điều đó — ngạc nhiên hơn nữa vì cô ta lại biết được chuyện đó, nhưng tôi đã giấu kín cảm xúc của mình.

‘“Sao anh lại có thể đối xử với tôi như thế?” cô ta nói, hơi thở lúc đó vẫn nồng nặc mùi rượu. “Anh yêu một người phụ nữ khác — vâng, anh có đấy chứ. Nhìn xem anh đày ải tôi đi đâu thế này! Tôi đã ra nhà ga với ý định rời bỏ anh mãi mãi, vậy mà tôi vẫn đến để thử lòng anh thêm một lần nữa.”

‘Một nỗi bực dọc không tài nào tả xiết đã bùng lên trong tôi khi cô ta trò chuyện — cơn thịnh nộ và sự hối tiếc chiếm trọn tâm trí. Gần như chẳng biết mình đang làm gì, tôi phẫn nộ giơ tay lên và vung một vòng hết toàn bộ sức lực để đánh cô ta. Cô ta nhanh chóng quay người lại — và đó chính là hồi kết của sinh linh khốn khổ ấy. Cú xoay người của cô ta đã khiến cạnh bàn tay tôi giáng thẳng vào ngay gáy — giống như cách người ta đánh gót chân để giết một con thỏ. Cú đánh khiến tôi sững sờ trong ngạc nhiên. Cú ra đòn chắc hẳn đã làm lệch đốt sống; cô ta ngã xuống chân tôi, giãy giụa vài nhịp và thốt lên một tiếng rên khẽ.

‘Tôi chạy vào nhà lấy nước và một chút rượu vang, tôi bước ra và dùng dao nhổ để rạch tay cô ta. Nhưng cô ta nằm bất động, và tôi nhận ra rằng cô ta đã chết.

‘Tôi đã mất một khoảng thời gian dài mới ý thức được hoàn cảnh khủng khiếp của mình. Trong suốt mấy phút đồng hồ, tôi không hề có ý định tìm cách trốn tránh hậu quả do hành động của mình gây ra. Rồi một tia sáng lóe lên trong đầu tôi. Liệu có ai nhìn thấy cô ta kể từ khi rời quán The Three Tranters không? Nếu không, cô ta đã được dân làng đinh ninh là đã hóa thành cát bụi rồi. Sẽ chẳng bao giờ người ta phát hiện ra tôi đâu.

‘Dựa vào đó, tôi hành động.

‘Vấn đề đầu tiên là phải xử lý thi thể thế nào. Thôi thúc lúc bấy giờ là đem chôn ngay cô ta xuống cái hố nằm giữa nhà máy phát điện và ngọn thác; nhưng tôi chợt nghĩ rằng mình sẽ không có đủ thời gian. Lúc đó đã là bốn giờ, và những công nhân sẽ sớm lục đục thức dậy quanh khu vực này. Tôi đành hoãn việc chôn cất lại đến đêm hôm sau. Tôi khiêng cô ta vào nhà.

‘Khi cải tạo căn nhà phụ thành xưởng làm việc vào đầu mùa, lúc đóng một cái đinh lên tường để gắn tủ chén, tôi nhận ra bức tường có âm thanh rỗng. Tôi kiểm tra nó, và phát hiện ra đằng sau lớp vữa là một cái lò nướng cũ đã bỏ hoang từ lâu, và đã bị bịt kín bằng gạch khi người ta chuẩn bị ngôi nhà này cho tôi.

‘Việc tháo chiếc tủ chén này ra và giật tung những viên gạch chỉ tốn vỏn vẹn vài phút. Sau đó, ghi nhớ trong đầu rằng tôi sẽ phải dời thi thể đi nơi khác vào đêm hôm sau nữa, tôi nhét cô ta vào một chiếc bao tải, đẩy vào trong lò nướng, chất gạch lấp lại và lắp chiếc tủ chén y như cũ.

‘Rồi tôi đi ngủ. Nằm trên giường, tôi suy nghĩ xem liệu có chút khả năng mỏng manh nào có thể dẫn đến phỏng đoán rằng vợ tôi không bị thiêu rụi bởi ngọn lửa của ngôi nhà cháy hay không. Điều khiến tôi suy ngẫm nhiều nhất chính là việc: những kẻ tìm kiếm có thể sẽ thấy lạ lùng khi chẳng tìm thấy bất kỳ tàn tích nào sót lại.

‘Hành động mang tính quyết định và hoàn hảo nhất chính là mang thi thể đặt vào giữa đống tro tàn của ngôi nhà bị thiêu hủy. Nhưng tôi không thể làm điều đó, bởi vì những gã đang túc trực canh chừng ngọn lửa bùng phát trở lại. Chỉ còn lại một cách duy nhất.

‘Tôi chỗi dậy, mặc quần áo tử tế và đi xuống nhà phụ. Tôi buộc phải tháo chiếc tủ chén ra lần nữa. Tôi thực sự đã tháo nó xuống. Tôi lôi những viên gạch ra, lôi chiếc bao tải ra, lôi cái xác ra, rồi lấy chùm chìa khóa trong túi cô ta và chiếc đồng hồ bên mạn sườn cô ta.

‘Sau đó tôi lắp mọi thứ lại y như cũ.

‘Mang theo những món đồ đó trong túi, tôi bước ra khỏi sân, đi xuyên qua khu rừng liễu gai để ra tới nghĩa trang, tiến vào từ lối phía sau. Tại đây, tôi cẩn thận mò mẫm đi cho đến khi tới một góc khuất nơi những mảnh xương từ các ngôi mộ mới đào đôi khi được chất đống đằng sau những bụi nguyệt quế. Tôi đã tha thiết hy vọng tìm thấy một chiếc hộp sọ giữa đống xương cũ này; nhưng dù tôi từng thường xuyên nhìn thấy một hoặc hai chiếc trong đống rác này, thì lúc bấy giờ lại chẳng có lấy một cái. Tôi bèn mò mẫm ở góc bên kia với kết quả tương tự — hoàn toàn không thể tìm thấy hộp sọ ở bất cứ đâu. Ba bốn mảnh xương chân và xương sống là tất cả những gì tôi có thể thu gom, và tôi buộc phải hài lòng với chừng đó.

‘Cầm chúng trên tay, tôi băng qua đường, vòng ra phía sau quán trọ, nơi đống cỏ khô vẫn đang âm ỉ cháy. Nấp sau hàng rào, tôi có thể nhìn thấy đầu của ba bốn gã đang canh gác khu vực đó.

‘Đứng ở vị trí này, tôi cầm những khúc xương, ném từng cái qua hàng rào và bay qua đầu mấy gã đó rơi thẳng vào đống than hồng đang bốc khói. Khi đã ném hết xương, tôi ném chùm chìa khóa; cuối cùng là chiếc đồng hồ.

‘Sau đó tôi trở về nhà theo lối cũ, và lại lên giường nằm ngủ khi trời vừa hửng sáng. Tôi hân hoan thầm nghĩ — “Cytherea lại thuộc về ta rồi!”

‘Vào giờ ăn sáng, tôi chợt nghĩ, “Giỡn mặt nếu bằng một sự tình cờ hy hữu nào đó mà chiếc tủ chén bị dịch chuyển vào ngày hôm nay thì sao!”

‘Tôi liền chạy sang bãi đá của thợ hồ ngay gần đó, tranh thủ lúc đám thợ đang ăn sáng, múc một xẻng vữa mang đi. Tôi mang nó vào nhà phụ, lại dịch chuyển chiếc tủ chén ra, và trát kín phần miệng lò nướng ở phía sau. Chỉ việc đẩy chiếc tủ chén trở lại vị trí cũ, tôi chờ đợi đêm hôm sau để đem chôn cái xác, mặc dù xét toàn cục thì nó đang nằm ở một nơi ẩn nấp tương đối an toàn.

‘Khi màn đêm buông xuống, thần kinh của tôi có phần yếu ớt hơn so với đêm hôm trước. Tôi cảm thấy chần chừ không muốn chạm vào thi thể. Tôi đi ra nhà phụ, nhưng thay vì mở lò nướng, tôi dùng búa đóng thật chặt những chiếc đinh giữ chiếc tủ chén vào vách tường. “Dù thế nào đi nữa, tối mai ta cũng sẽ chôn cô ta,” tôi tự nhủ.

‘Nhưng đêm hôm sau tôi lại càng chần chừ hơn khi phải chạm vào cô ta. Và sự do dự của tôi cứ thế lớn dần lên, thế là cái xác cứ nằm lại đó rành rành. Rốt cuộc thì cái lò nướng ấy đời nào có chuyện bị mở ra trong thời gian tôi còn sống chứ.

‘Tôi đã kết hôn với Cytherea Graye, và chưa từng có một chú rể nào bước ra khỏi nhà thờ với một trái tim ngập tràn tình yêu và hạnh phúc, cùng một bộ óc kiên định với những dự định tốt đẹp hơn tôi vào buổi sáng hôm đó.

‘Khi người anh trai của Cytherea xuất hiện tại khách sạn ở Southampton, mang theo bằng chứng kỳ lạ từ lời kể của gã nhân viên nhà ga, tôi đã sững sờ đến mức không thốt nên lời. Tôi tưởng họ đã tìm thấy cái xác rồi cơ chứ. “Lẽ nào ta sắp bị bắt giữ và mất nàng ngay cả lúc này sao?” tôi đau đớn nghĩ ngợi. Tôi nhận ra sai lầm của mình, và ngay lập tức cũng thấy rằng tôi phải hành xử bề ngoài như một người đàn ông đáng kính. Thế là theo yêu cầu của hắn, tôi đã giao nàng lại cho hắn, đồng thời suy tính về nhiều kế hoạch khác nhau nhằm giúp tôi có thể danh chính ngôn thuận đòi lại người phụ nữ mà tôi có quyền hợp pháp để nhận làm vợ, mà không cần phải tiết lộ lý do tại sao tôi biết mình có quyền đó.

‘Ngày hôm sau, tôi trở về nhà ở Knapwater, và sống trong trạng thái lưỡng lự suốt gần một tuần lễ. Tôi không thể nghĩ ra nổi một kế hoạch nào để chứng minh vợ mình đã chết mà không làm ảnh hưởng đến bản thân.

‘Ông Raunham bóng gió rằng tôi nên tiến hành các bước tìm kiếm tung tích vợ bằng cách đăng quảng cáo. Tôi chẳng có chút năng lượng nào để diễn cái trò hề đó cả. Nhưng rồi vào một buổi tối, tình cờ tôi bước vào quán trọ Rising Sun. Hai tên trộm cắp khét tiếng đang ngồi trên chiếc ghế dài có lưng tựa cao vốn che khuất lối vào của tôi. Bọn chúng đã ngà ngà say — cuộc trò chuyện của chúng diễn ra với giọng điệu trang nghiêm và đầy điểm tĩnh vốn thường thấy ở giai đoạn say xỉn đó, và chính tôi lại là đề tài bàn tán của chúng.

‘Nội dung chính từ những lời bàn tán rời rạc của chúng như sau: Vào đêm xảy ra vụ hỏa hoạn lớn ở Carriford, một trong hai tên đã được cử đi để gặp tôi, và báo tin vợ tôi đã qua đời. Hắn đã làm đúng như vậy; nhưng vì tôi không chịu trả tiền cho bản tin đó, hắn đã rời đi với tâm trạng đầy thù hằn. Khi vụ hỏa hoạn kết thúc, hắn nhập bọn với chiến hữu của mình. Khoảng thời gian thuận lợi trong đêm đã gợi ý cho chúng về khả năng kiếm chác chút lợi ích phi pháp trước khi trời hửng sáng. Chuồng gà của tôi nằm ở một vị trí đầy cám dỗ, và vì vẫn còn ấm ức chuyện bị tôi hắt hủi tối hôm đó, một tên đã đề xuất ra tay với đám gia cầm của tôi. Người ta đồn rằng tôi đã đến nhà xứ cùng ông Raunham. Tên kia thì không hứng thú lắm, thế là tên thứ nhất lủi thủi đi một mình.

‘Lúc đó đã khoảng ba giờ. Hắn đã tiến đến sát khu vườn cây cảnh mọc gần bức tường phía bắc ngôi nhà, thì bỗng nghe thấy, vượt lên trên tiếng gầm thét của dòng thác, những âm thanh phát ra từ phía bên kia tòa nhà. Hắn mô tả chúng bằng những từ này, “Tiếng mồm miệng ma quái thì thầm — rồi một tiếng ngã — rồi một tiếng rên rỉ — sau đó là tiếng nước chảy xiết và tiếng động cơ kêu cót két như trước.” Chỉ có một lời giải thích duy nhất hiện lên trong đầu hắn; ngôi nhà này bị ma ám. Và dù là giọng nói của người sống hay kẻ chết đi nữa, thì bất kỳ thứ âm thanh nào cũng đều là mối họa đối với kẻ đang đi làm một việc mờ ám như hắn. Hắn lén lút trộm chuồn về nhà.

‘Mục đích bất hợp pháp khi có mặt ở phía sau ngôi nhà đã khiến hắn phải giấu nhẹm chuyến phiêu lưu đó đi. Không một chút nghi ngờ nào về sự thật lọt vào tâm trí hắn cho đến khi gã nhân viên đường sắt khiến mọi người giật mình bằng thông báo kỳ lạ của hắn ta. Lúc đó hắn mới tự hỏi, liệu những âm thanh kinh hoàng đêm hôm đó có thực sự là một màn kịch bằng xương bằng thịt diễn ra giữa tôi và vợ tôi hay không?

‘Lời của tên kia là:

‘“Sao hắn không thử tìm cô ta xem cô ta còn sống hay không?”

‘“Đúng thế,” tên thứ nhất nói. “Ừ thì, ta không quên những gì mình đã nghe thấy, và nếu cô ta không thò mặt ra sống nhăn thì trong đầu tao sẽ đinh ninh chắc như đinh đóng cột rằng cô ta đã bị sát hại, và vị mục sư sẽ phải biết chuyện đó, dẫu cho tao có phải xơi sáu tháng tù mọt gông vì cái tội bén mảng đến chỗ đó đi chăng nữa.”

‘“Và nhỡ cô ta xuất hiện còn sống thì sao?”

‘“Thế thì tao sẽ biết là mình đã sai, và tự nhận mình vừa là kẻ ngốc vừa là thằng lưu manh, rồi ngậm miệng lại.”

‘Tôi lủi thủi chuồn ra khỏi quán trong cơn mồ hôi lạnh vã ra như tắm. Áp lực duy nhất trên cõi đời hay chốn thiên đường có thể ép buộc tôi phải từ bỏ Cytherea nay đã giáng xuống đầu tôi — đó là nỗi sợ hãi về một cái chết trên giá treo cổ.

‘Tôi đã ngồi suốt đêm hôm đó để dệt nên vô số mưu kế đủ loại. Biện pháp khắc phục duy nhất có hiệu quả cho tình thế nguy hiểm của tôi lúc bấy giờ rất đơn giản. Đó là đưa một người phụ nữ khác đóng thế vợ tôi trước khi sự nghi ngờ của gã khờ khạo dễ dãi kia đi quá xa.

‘Khó khăn duy nhất là tìm ra một người thay thế khả thi.

‘Người phụ nữ duy nhất có chút khả năng cho mục đích này là một sinh vật vô tội, không nơi nương tựa tên là Anne Seaway, người mà tôi từng quen biết thời trẻ, và đã làm quản gia cho một phu nhân ở London được một thời gian. Do vị phu nhân đó đột ngột qua đời, Anne đang rơi vào hoàn cảnh khá bấp bênh liên quan đến kế sinh nhai trong tương lai. Cô ta không phải là lựa chọn tốt nhất cho kế hoạch này; nhưng chẳng còn sự thay đổi nào khác. Có một phẩm chất ở cô ta rất giá trị; cô ta không phải là kẻ nhiều chuyện. Ngay ngày hôm sau, tôi đến London, ghé qua khu nhà trọ ở Hoxton của vợ tôi (nơi duy nhất cô ta được biết đến với cái tên Mrs. Manston), và nhận thấy không có khó khăn lớn nào ngáng trở việc giả mạo cả. Và thế là những hoàn cảnh thuận lợi đã định đoạt đường đi nước bước của tôi. Tôi đến thăm Anne Seaway, tán tỉnh cô ta, và bày tỏ kế hoạch của mình.

‘Chúng tôi sống khá yên bình cho đến ngày chủ nhật trước khi tôi bị bắt giữ. Hôm đó Anne đi lễ nhà thờ về, và kể cho tôi nghe về ánh mắt đầy ngờ vực mà một thanh niên đã nhìn cô ta ở đó. Chẳng thể làm gì khác ngoài việc chờ đợi kết quả của sự việc. Rồi bức thư từ Raunham được gửi tới. Lần đầu tiên trong đời, tôi có thái độ nửa thờ ơ trước số phận đang chờ đón mình. Trong suốt ngày hôm sau, đã có một hai lần tôi nghĩ đến chuyện trốn chạy, nhưng lại không thể hạ quyết tâm. Dù sao đi nữa, tốt nhất vẫn là chôn cất thi thể vợ mình, tôi nghĩ vậy, bởi vì cái lò nướng có thể bị mở ra bất cứ lúc nào. Tôi đến Casterbridge và sắp xếp một vài việc. Vào buổi tối, tiểu thư Aldclyffe (người gắn kết với tôi bởi một bí mật chung mà tôi không có quyền cũng không muốn tiết lộ) đã đến nhà tôi, và càng khiến tôi hoảng sợ hơn. Cô ta nói rằng cô ta có thể nhận ra qua thái độ của ông Raunham tối hôm đó, rằng ông ấy đang giấu giếm cô ta một sự nghi ngờ thậm chí còn quan trọng hơn cả điều ông ấy vừa nói, và rằng những kẻ lạ mặt thậm chí đã có mặt ở nhà ông ấy ngay lúc đó.

‘Tôi đoán được sự nghi ngờ xa hơn ấy là gì, và quyết định sẽ làm sáng tỏ vấn đề với cô ta ở một mức độ nào đó, qua đó đảm bảo sự giúp đỡ của cô ta. Tôi nói rằng tôi đã vô tình sát hại vợ mình vào đêm hỏa hoạn, đồng thời xoáy sâu vào lợi ích mà cô ta có được từ cái chết của người phụ nữ duy nhất biết rõ bí mật của cô ta.

‘Sự hoảng sợ của cô ta, cùng với nỗi lo lắng cho số phận của tôi, đã khiến cô ta ra tay canh gác nhà xứ vào tối hôm đó. Cô ta trông thấy viên thám tử rời đi và bám theo hắn về đến tận dinh thự của tôi. Cô ta hấp tấp kể lại điều này cho tôi nghe khi tôi vừa nhận ra cô ta sau khi đã đào xong huyệt chôn vợ mình trong khu vườn ươm. Cô ta không hề nghi ngờ trong bao tải đựng những gì.

‘Giờ đây tôi sắp bước vào trạng thái bình thường của mình. Bởi vì con người hầu như lúc nào cũng nằm trong nấm mồ của họ. Khi chúng ta nhìn lại chuỗi dài nhân thế, thật kỳ lạ và càng kỳ lạ hơn khi nhận ra rằng họ phần lớn là những kẻ đã chết, những kẻ dường như chưa từng sống khác đi bao giờ.

‘AENEAS MANSTON.’

Bản thú tội của viên quản gia, được hỗ trợ bởi các bằng chứng gián tiếp đủ loại, chính là phương tiện giúp giải thoát cả Anne Seaway lẫn tiểu thư Aldclyffe khỏi mọi nghi ngờ về tội đồng lõa với kẻ sát nhân.

2. SÁU GIỜ TỐI

Trời đã về chiều — đúng vào lúc hoàng hôn — vào ngày Manston qua đời.

Trong ngôi nhà tranh ở Tolchurch, một nhóm người đang tụ họp gồm Cytherea, anh trai cô, Edward Springrove và cha của anh ấy. Họ ngồi bên cửa sổ trò chuyện về những sự kiện kỳ lạ vừa mới diễn ra. Trong đôi mắt Cytherea ánh lên một tia hy vọng, dẫu khuôn mặt cô trắng bệch như hoa huệ tây.

Trong lúc họ trò chuyện, phóng tầm mắt nhìn ra thứ ánh sáng vàng vọt buổi chiều tối đang nhuộm lên các hàng rào, cây cối và ngọn tháp nhà thờ, một chiếc xe ngựa brougham lăn bánh vòng qua khúc cua của con đường làng và hiện ra trọn vẹn trong tầm mắt. Nó phản chiếu những tia nắng mặt trời bằng một tia chớp lóe lên từ những tấm ván gỗ được đánh bóng khi xoay qua góc cua, các căm bánh xe lấp lánh thứ ánh sáng đó trông giống như những lưỡi lê. Chiếc xe tiến lại gần hơn, và dừng lại ngay trước cửa nhà Owen, lúc này người đánh xe kéo cương và cất tiếng hô, thế là những con ngựa đang thở hồng hộc và ướ đẫm mồ hôi liền khựng lại.

‘Xe ngựa của tiểu thư Aldclyffe!’ tất cả bọn họ đồng thanh kêu lên.

Owen bước ra ngoài. ‘Tiểu thư Graye có ở nhà không?’ người đánh xe hỏi. ‘Có một bức thư gửi cho cô ấy, và tôi phải đợi câu trả lời.’

Cytherea đọc những dòng chữ viết tay của Vị mục sư giáo xứ Carriford:—

‘THÂN GỬI TIỂU THƯ GRAYE, — Tiểu thư Aldclyffe đang ốm, dù không đến nỗi nguy hiểm. Cô ấy cứ lặp đi lặp lại tên cô mãi, và giờ đây rất muốn gặp cô. Nếu có thể được, xin hãy đến bằng xe ngựa. — Thân ái gửi cô, JOHN RAUNHAM.’

‘Sao cô ấy lại lâm bệnh thế?’ Owen hỏi người đánh xe.

‘Bà ấy bị cảm lạnh nặng vì đứng ở ngoài trời ẩm ướt vào đêm gã quản gia bỏ trốn. Kể từ đó cho đến tận sáng nay, bà ấy cứ phàn nàn về cảm giác tức ngực và nóng rát trong lồng ngực. Sáng nay người hầu gái hộc tốc chạy vào và thông báo đột ngột rằng Manston đã tự sát trong nhà tù — bà ấy thét lên — đứt một mạch máu — và ngã quỵ xuống sàn nhà. Tình trạng xuất huyết nội nghiêm trọng kéo dài một thời gian rồi mới dừng lại. Người ta nói rằng thế nào bà ấy cũng vượt qua được; nhưng chính bản thân bà ấy lại bảo là không. Bà ấy từng bị chứng bệnh đó hành hạ trước đây rồi.’

Cytherea chỉ chuẩn bị trong khoảnh khắc là đã bước lên xe ngựa.

3. BẢY GIỜ TỐI

Dù Cytherea có di chuyển nhẹ nhàng đến đâu dọc theo hành lang của dinh thự Knapwater, sự nhạy bén sắc sảo đến kỳ lạ của người phụ nữ đang oằn mình vì bệnh tật ấy vẫn bắt được tiếng bước chân quen thuộc của thiếu nữ. Cô bước vào căn phòng bệnh với hơi thở như ngừng bặt.

Trong phòng mọi thứ đều tĩnh lặng đến mức, và cảm giác dường như bị pha loãng đến độ tinh vi bởi sự lo lắng, đến nỗi việc suy nghĩ dường như chính là hành động, và nỗ lực yếu ớt nhằm duy trì sự sống của người phụ nữ ấy tựa như một cuộc vật lộn âm thầm với toàn bộ các thế lực của vũ trụ. Không có ai có mặt ở đó ngoài ông Raunham, y tá đã rời phòng ngay khi Cytherea bước vào, còn vị bác sĩ và y sỹ thì đang bận thì thầm to nhỏ với nhau ở một căn phòng bên cạnh. Bệnh nhân của họ đã được tuyên bố qua cơn nguy kịch.

Cytherea tiến đến bên giường bệnh và ngay lập tức được nhận ra. Ôi, thật là một sự đổi thay — tiểu thư Aldclyffe phải nương mình vào những chiếc gối! Và thế nhưng đó lại không phải là một sự thay đổi gây cảm giác xa cách. Đi cùng với sự suy yếu là nét mặt trở nên dịu dàng hơn: sự kiêu kỳ đã biến mất khỏi gương mặt gầy gò mỏng manh, thay vào đó là một vẻ bình thản dịu ngọt và hiền hòa hơn.

Tiểu thư Aldclyffe ra hiệu cho ông Raunham rằng bà muốn ở một mình với Cytherea.

‘Cytherea?’ bà thì thầm yếu ớt ngay khoảnh khắc cánh cửa khép lại.

Cytherea siết chặt bàn tay yếu ớt của người phụ nữ ấy và quỵ xuống bên cạnh bà.

Tiểu thư Aldclyffe lại thì thầm. ‘Họ bảo rằng tôi chắc chắn sẽ sống; nhưng tôi thừa biết rằng mình chắc chắn sẽ chết.’

‘Em nghĩ, và cũng hy vọng rằng họ biết rõ điều đó.’

‘Tôi hiểu rõ bản thân mình nhất, nhưng chúng ta hãy gác chuyện đó sang một bên đi. Cytherea — ôi Cytherea, cô có thể tha thứ cho tôi không!’

Người bạn đồng hành siết chặt tay bà.

‘Nhưng cô vẫn chưa biết đâu — cô vẫn chưa biết đâu,’ người bệnh thì thầm. ‘Thứ mà tôi khẩn khoản xin tha thứ chính là lời nói dối với Edward Springrove trước kia, và vì đã ép buộc cậu ấy quá mức — nguyên nhân gây ra toàn bộ chuỗi tai ương vô tận của cô!’

‘Em biết hết rồi — tất cả. Và em thực sự tha thứ cho chị. Không phải bằng một phút bốc đồng rồi sẽ rút lại khi tâm trí bình tĩnh trở lại, mà là một cách có ý thức và chân thành: mong sao bản thân em cũng được tha thứ thế nào, em xin dành cho chị sự tha thứ ngay lúc này như thế.’

Những giọt nước mắt trào ra từ đôi mắt của tiểu thư Aldclyffe, hòa lẫn với nước mắt của người bạn trẻ, người không sao kìm nén được cảm xúc vì đồng cảm. Những lời lẽ thể hiện tình cảm sâu sắc, ngắt quãng bởi sự xúc động, cứ nghẹn ngào thốt lên từ người phụ nữ đã tan nát cõi lòng.

‘Nhưng cô không biết động cơ của tôi. Ôi, nếu như cô chỉ biết được điều đó thôi, thì lúc ấy cô sẽ thương xót tôi biết nhường nào!’

Cytherea không phá vỡ khoảng lặng kéo dài sau đó, và người phụ nữ lớn tuổi dường như lúc này đang dồn hết nỗ lực siêu phàm để lấy lại tinh thần. Bà tiếp tục cất lời bằng một giọng yếu ớt như làn gió mùa hè, ngắt quãng liên tục, vậy mà bao trùm lên đó là một sự kiên định trong tâm ý dường như đòi hỏi những âm thanh vững chãi để tải trọn giá trị của nó.

‘Cytherea,’ bà nói, ‘hãy lắng nghe tôi trước khi tôi nhắm mắt xuôi tay.

‘Cách đây đã lâu lắm rồi — hơn ba mươi năm trước — một thiếu nữ mới mười bảy tuổi đã bị chính người anh họ của mình, một sĩ quan ngổ ngáo tuổi hai mươi sáu, nhẫn tâm lừa dối tình cảm. Hắn ta sang Ấn Độ và bỏ mạng ở đó.

‘Vào một đêm khi người thiếu nữ khốn khổ ấy vừa cùng cha mẹ trở về nhà từ Đức, nơi đứa con của cô ấy cất tiếng khóc chào đời, cô đã gom hết số tiền mình có, ghim nó lên ngực đứa trẻ sơ sinh, cùng với một bức thư, trong đó nêu rõ, giữa nhiều điều khác, cái tên thánh mà cô muốn đặt cho đứa bé; bọc đứa nhỏ lại và ôm nó đi bộ đến Clapham. Tại đây, trong một con phố vắng vẻ, cô chọn một ngôi nhà. Cô đặt đứa trẻ lên bậc thềm cửa rồi gõ cửa, sau đó bỏ chạy và đứng nấp nhìn theo. Họ đã mở cửa bế nó vào nhà.

‘Giờ đây khi đứa con tội nghiệp đã đi mất, người thiếu nữ tự trách mình cay đắng vì sự tàn nhẫn đối với nó, và ước gì lúc trước mình đã nghe theo lời khuyên của cha mẹ là bí mật thuê một vú nuôi. Cô khao khát được nhìn thấy nó. Cô chẳng biết phải làm sao. Cô viết một bức thư bằng tên giả gửi cho người phụ nữ đã nhận nuôi đứa trẻ, và hẹn người đó mang đứa bé đến gặp người viết thư tại những địa điểm cụ thể do cô chỉ định. Đó là những khách sạn hoặc quán cà phê ở Chelsea, Pimlico hoặc Hammersmith. Người phụ nữ đó, vì được trả thù lao hậu hí, nên lần nào cũng đến và chẳng hỏi han điều gì cả. Trong một lần hẹn gặp — tại một quán trọ ở Hammersmith — bà ta xuất hiện mà không mang theo đứa trẻ, và bảo với thiếu nữ rằng đứa bé bệnh nặng đến mức sẽ không sống nổi qua đêm nay. Tin dữ đó, cùng với sự kiệt sức, đã khiến cô ngất lịm đi....’

Những tiếng nấc nghẹn ngào khiến tiểu thư Aldclyffe không thể thốt nên lời, và bà trở nên vô cùng kích động. Cytherea, tái mặt và kinh ngạc trước những gì mình vừa nghe thấy, bật khóc vì thương xót cho bà, cúi người ôm lấy và nài nỉ bà đừng nói tiếp nữa.

‘Không — tôi phải nói,’ bà kêu lên giữa những tiếng nấc. ‘Tôi sẽ — tôi buộc phải nói tiếp! Và tôi còn phải kể rõ ràng hơn nữa!... cô phải nghe thấy nó trước khi tôi qua đời, Cytherea.’ Người thiếu nữ đầy lòng trắc ẩn và bàng hoàng lại ngồi xuống.

‘Tên của người phụ nữ đã nhận nuôi đứa bé là Manston. Bà ta là góa phụ của một giáo viên trường làng. Bà ta nói rằng mình đã nhận nuôi đứa con của một người họ hàng.

‘Chỉ có duy nhất một người đàn ông phát hiện ra người mẹ đó là ai. Ông ta là chủ quán trọ nơi cô đã ngất xỉu, và sự im lặng của ông ta đã được cô mua chuộc từ đó cho đến nay.

‘Một năm trôi qua — mười lăm tháng — và người thiếu nữ mang nhiều nỗi buồn ấy gặp một người đàn ông tại nhà cha mình tên là Graye — cha của cô đấy, Cytherea, lúc bấy giờ vẫn chưa kết hôn. Ồ, một người đàn ông tuyệt vời làm sao! Sự non dại lúc này mới nhận ra thế nào là được yêu thương bằng cả tâm hồn và sự chân thật! Nhưng đã quá muộn rồi. Nếu ông ấy biết được bí mật của cô, ông ấy sẽ ruồng rẫy cô. Cô đã phải dứt khỏi ông ấy trong một nỗ lực đầy đau đớn và héo mòn.

‘Nhiều năm rồi lại nhiều năm sau đó, khi cô trở thành chủ nhân của một gia tài khổng lồ và những điền trang rộng lớn sau khi cha cô qua đời, cô đã nảy sinh cái ý định yếu đuối là muốn giữ bên cạnh mình người con trai mà khi cha cô còn sống, cô từng bị cấm không được nhận diện. Cytherea, cô biết người phụ nữ yếu đuối đó là ai rồi đấy.

‘Bằng thứ lao động nhọc nhằn như thế, tôi đã đưa nó về đây làm quản gia cho tôi. Và tôi muốn biến nó thành chồng của cô, Cytherea! — người chồng của đứa con do người tình đích thực của tôi sinh ra. Đó từng là một giấc mơ ngọt ngào đối với tôi.... Hãy thương xót tôi — ôi, hãy thương xót tôi! Chết đi mà không được yêu thương là điều vượt quá sức chịu đựng của tôi! Tôi đã yêu cha của cô, và cho đến bây giờ tôi vẫn yêu ông ấy.’

Đó chính là gánh nặng chất chứa trong lòng Cytherea Aldclyffe.

‘Chắc là cô phải rời bỏ tôi nữa rồi — lúc nào cô cũng bỏ tôi mà đi,’ bà nói, sau khi nắm lấy bàn tay người thiếu nữ trong một khoảng thời gian dài đầy im lặng.

‘Không — thực sự em sẽ ở lại luôn. Chị có muốn em ở lại không?’

Tiểu thư Aldclyffe dẫu đang đối mặt với cửa tử vẫn hoàn là tiểu thư Aldclyffe xưa nay, dù ngọn lửa cũ giờ đây đã thoái hóa thành thứ ánh sáng lân tinh yếu ớt. ‘Nhưng cô còn phải làm quản gia cho anh trai mình thì sao?’

‘Vâng.’

‘Chà, dĩ nhiên là cô không thể đột ngột ở lại với tôi thế này được.... Hãy về nhà đi, kẻo anh ấy lại thiếu thốn mọi thứ. Và sáng mai hãy quay lại nhé, được không em yêu, hãy quay lại đây — chúng ta sẽ cho xe đón em. Nhưng bây giờ em không thể ở lại, rồi làm đảo lộn sinh hoạt của Owen. Ôi không — điều đó thật ngớ ngẩn.’ Sự bận tâm ám ảnh về những chuyện vặt vãnh trong sinh hoạt thường nhật, thứ mà chúng ta thường hay bắt gặp ở những người bệnh nặng, lại hiện diện rõ ở đây.

Cytherea hứa sẽ về nhà, và sáng hôm sau sẽ quay lại ở hẳn luôn.

‘Vậy hãy ở lại cho đến khi tôi chết nhé, được không? Vâng, cho đến lúc tôi chết — tôi sẽ không chết trước ngày mai đâu.’

‘Tất cả chúng em đều mong chị sớm hồi phục.’

‘Tôi tự biết rõ nhất. Hãy đến vào lúc sáu giờ nhé, cục cưng.’

‘Ngay sớm nhất có thể ạ,’ Cytherea dịu dàng đáp lời.

‘Nhưng sáu giờ thì sớm quá — em còn phải lo bữa sáng cho anh trai mình cơ mà. Hãy rời Tolchurch lúc tám giờ nhé, chịu không?’

Cytherea đồng ý với điều này. Tiểu thư Aldclyffe sẽ chẳng bao giờ hay biết nếu người bạn đồng hành ở lại trong nhà suốt cả đêm; nhưng sự trung thực trong bản tính của Cytherea đã chống lại cả cái sự dối trá đầy thiện ý mà một hành động như thế sẽ mang lại.

Một sự sắp xếp đã được thống nhất là cô sẽ được đưa về nhà bằng xe ngựa kéo pony thay vì chiếc xe brougham đã đến đón cô; chiếc xe ngựa sẽ ghé lại trang trại Tolchurch qua đêm, và vì lý do đó mà sẽ sẵn sàng để đưa cô quay lại sớm hơn.

4. NGÀY BA MƯƠI THÁNG BA. LÚC BÌNH MINH

Trường hợp thứ ba và cũng là lần cuối cùng Cytherea rơi vào những nỗi kinh hoàng định kỳ trong đêm — những nỗi sợ từng khắc sâu mối dây liên hệ giữa cô với cái tên và dòng máu Aldclyffe — đã xảy ra vào thời điểm hiện tại.

Trời khoảng bốn giờ sáng khi Cytherea, dù rất có thể đang mơ, dường như tỉnh giấc — và ngay lập tức bị chết trân bởi một thứ bùa chú, mang theo cảm giác kính sợ nhiều hơn là hoảng hốt. Ngay dưới chân giường cô, đang nhìn thẳng vào mặt cô với một vẻ khẩn khoản vượt quá khả năng diễn tả bằng lời của ngôn ngữ, chính là bóng dáng của tiểu thư Aldclyffe — xanh xao và rõ mồn một. Không hề có một cử động nào ở bà; nhưng sự khao khát — niềm khao khát cháy bỏng — được viết rõ trên từng đường nét khuôn mặt.

Cytherea tin rằng cô vẫn đang dùng lý trí tỉnh táo bình thường của mình để đinh ninh rằng, không mảy may nghi ngờ, tiểu thư Aldclyffe đang đứng trước mặt cô bằng xương bằng thịt. Lý trí lúc đó không đủ nhạy bén để dẫn dắt Cytherea tự hỏi bản thân làm sao một chuyện như thế lại có thể xảy ra được.

‘Em đã định ở lại với chị rồi — sao chị lại không cho em ở lại cơ chứ!’ Cytherea thốt lên. Câu thần chú bị phá vỡ: cô hoàn toàn tỉnh giấc; và bóng người liền biến mất.

Trời đang lúc mờ sáng. Cô run rẩy trong cơn mồ hôi vã ra vì bất an, và không tài nào chịu đựng nổi ý nghĩ anh trai mình vẫn đang say ngủ, cô liền bước sang gõ cửa phòng anh.

‘Owen!’

Anh không phải là người ngủ say, và lúc đó cũng gần đến giờ thức dậy quen thuộc của anh rồi.

‘Em muốn gì thế, Cytherea?’

‘Lẽ ra tối qua em không nên rời khỏi Knapwater. Ước gì em đã không đi. Thật tình là em nghĩ mình sẽ lên đường ngay bây giờ đây. Em biết chắc là bà ấy đang cần em mà.’

‘Mấy giờ rồi em?’

‘Hơn bốn giờ vài phút rồi.’

‘Tốt hơn là em đừng đi. Cứ theo đúng thời gian đã thỏa thuận đi. Em thử nghĩ xem, chúng ta sẽ rắc rối biết bao khi phải đánh thức gã đánh xe, và bao nhiêu thứ khác nữa.’

Xét cho cùng thì làm theo một phút bốc đồng ngẫu hứng có vẻ không phải là khôn ngoan. Cô quay lại giường nằm.

Một tiếng đồng hồ sau, khi Owen đang nghĩ đến chuyện dậy thì có tiếng gõ cửa chính vang lên. Ngay khoảnh khắc tiếp theo có cái gì đó chạm vào kính cửa sổ phòng Owen. Anh chờ đợi — tiếng động lại lặp lại. Một ít sỏi đã được ném vào cửa kính để đánh thức anh.

Anh bước ngang qua phòng, kéo rèm che lên và nhìn ra ngoài. Một khuôn mặt trắng bệch đầy vẻ nghiêm trang đang ngước nhìn lên từ con đường, cố gắng căng mắt chờ đợi khoảnh khắc đầu tiên bắt gặp hình bóng ai đó phía sau khung kính. Đó là khuôn mặt của một người đàn ông ở Knapwater đang cưỡi ngựa.

Owen hiểu ngay mục đích chuyến đi của hắn. Có một biểu cảm không thể nhầm lẫn trên khuôn mặt của bất cứ kẻ nào mang tin dữ về cái chết. Graye mở cửa sổ.

‘Tiểu thư Aldclyffe...’ người đưa tin cất lời, rồi ngập ngừng.

‘Hả — đã mất rồi sao?’

‘Vâng — bà ấy qua đời rồi.’

‘Bà ấy mất lúc mấy giờ?’

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.