Phương Thuốc Tuyệt Vọng

Lượt đọc: 27 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1. Ngày Chín Tháng Bảy

❊ ❊ ❊

Ngày họ lên đường là một trong những ngày oi ả nhất mà cao trào của chuỗi dài những đợt nắng nóng mùa hè có thể tạo ra. Cảnh vật mênh mông rung rập tựa như ngọn bấc đèn cầy khi đoàn tàu xình xịch lướt qua giữa không gian ấy. Những đàn cừu hiền lành nằm nghỉ dưới các tán cây cách đó không xa trông có một màu xanh nhạt. Những cánh đồng cỏ ba lá tái mét dưới ánh nắng chói chang rọi lên những bông hoa đỏ sẫm của chúng. Mọi cỗ xe ngựa và xe kéo đều được chủ nhân cẩn thận dời vào bóng râm; những chiếc thùng đựng nước mưa thì nứt nẻ tung tóe; gàu múc nước được thả chìm sâu dưới nắp miệng giếng để cứu chúng khỏi chung số phận với đám thùng; và nhìn chung, nước ở vùng quê này có vẻ còn khan hiếm hơn cả bia và táo lên men của những người nông dân đang đầu tắt mặt tối hay thảnh thơi lao động ở đó.

Việc nhìn ngắm cảnh vật bình thường bằng ánh mắt trẻ thơ chính là minh chứng cho thấy họ sở hữu một năng lực tuyệt vời: biết rút ra những cảm giác mới mẻ từ một trải nghiệm cũ — một dấu hiệu lành mạnh, hiếm hoi trong thời đại đầy rẫy sự cuồng nhiệt này — và là đặc điểm của một bản tính tươi trẻ bất diệt.

Cả hai anh em đều có khả năng ấy, và Cytherea thì thể hiện rõ rệt hơn cả. Họ ngắm nhìn những vùng đất trồng ngũ cốc lượn sóng vốn tẻ nhạt đối với tất cả những người đồng hành; tiếp nối sau đó là khung cảnh đầy đá và đất sét với những ngọn đồi góc cạnh, gập ghềnh. Kế đến là những vùng đầm lầy ngập mặn, giờ đây đã héo khô và trơ trụi — những nơi mà các vũng nước thường đọng lại nay hiện ra thành những vòng tròn đất trống nhẵn nhụi, chằng chịt một mạng lưới những khe nứt nhỏ vô kể. Rồi những cánh rừng thông mọc lên, đột ngột chấm dứt bên cạnh những đồng cỏ được cắt gặt gọn gàng, nơi những con bò có phần hông cao, màu sắc sậm, với phần sống lưng phẳng và thẳng tắp như chóp mái nhà, đang đứng bất động hoặc lười biếng gặm cỏ. Thỉnh thoảng, những khoảng nhìn thoáng qua về phía biển lại thu hút sự chú ý của họ, và những khoảnh khắc ấy xuất hiện ngày một thường xuyên hơn cho đến khi đoàn tàu cuối cùng dừng lại bên sân ga ở Budmouth.

“Cả thị trấn đang ngóng chờ chúng ta đấy,” đó là ấn tượng của Graye xuyên suốt cả ngày. Ông đến gặp ông Gradfield — người duy nhất được thông báo trực tiếp về chuyến đi của mình — và phát hiện ra rằng ông Gradfield đã quên bén mất điều đó.

Dù vậy, các sắp xếp vẫn được thực hiện với người đàn ông này — một thị dân sáu mươi tuổi vạm vỡ, năng nổ và có chòm râu bạc — theo đó Owen sẽ bắt đầu làm việc tại văn phòng của ông vào tuần tới.

Cùng ngày hôm đó, Cytherea đã soạn và gửi đi mẩu quảng cáo đính kèm sau đây: —

‘MỘT THIẾU NỮ đang có nhu cầu tìm việc làm gia sư hoặc người bầu bạn. Cô có khả năng giảng dạy tiếng Anh, tiếng Pháp và Âm nhạc. Có giấy giới thiệu đáng tin cậy — Xin liên hệ: C. G., Bưu điện, Budmouth.’

Một sự tồn tại thực tế hơn cả bản thân cô dường như đang được khắc họa trên trang giấy ấy. “Đó chắc hẳn không phải là mình; trông mình kỳ cục làm sao!” cô tự lẩm bẩm rồi mỉm cười.

2. NGÀY MƯỜI MỘT THÁNG BẢY

Vào thứ Hai tiếp theo sau ngày họ đến Budmouth, Owen Graye có mặt tại văn phòng của ông Gradfield để bắt đầu nhận nhiệm vụ, và cô em gái lần đầu tiên bị bỏ lại một mình trong căn phòng trọ.

Bất chấp những biến cố buồn đau của mùa thu trước, một niềm vui bất chợt vẫn lan tỏa trong tâm hồn cô suốt cả ngày dài. Sự thay đổi cảnh vật — dưới con mắt của một kẻ chưa từng đi đây đi đó — kết hợp với cảm giác tự do khỏi mọi sự kèm cặp, đã khơi dậy sự lấp lánh của một bản tính trẻ trung, nồng nhiệt, luôn sẵn sàng tận dụng bất kỳ liều thuốc tinh thần bất ngờ nào. Nỗi đau giáng thẳng vào mặt thường có xu hướng kìm nén hạnh phúc trong một thời gian hơn là tạo ra sự mài mòn vốn sinh ra từ những nỗi buồn do dự liệu trước cứ lớn dần theo năm tháng: những nỗi buồn ấy có lẽ đã cày xới và vùi lấp đi khả năng tận hưởng niềm vui.

Những kỳ vọng của cô đối với mẩu quảng cáo bắt đầu trở nên viển vông. Một gia đình khá giả, những người luôn khao khát có được sự hiện diện của cô, đã hiện lên rõ mồn một trong trí tưởng tượng vốn đang dạt dào cảm xúc của cô; trí tưởng tượng ấy tiếp tục dẫn dắt cô hình dung về từng thành viên trong gia đình, những nét tính cách, đức tính và cả thói hư tật xấu có thể có của họ, đồng thời tạm thời xóa nhòa đi ký ức về việc cô sẽ phải rời xa người anh trai.

Chìm đắm trong dòng suy tư ấy khi chờ anh trở về vào buổi chiều tối, ánh mắt cô chợt dừng lại trên bàn tay trái của mình. Việc một thiếu nữ ở độ tuổi trăng tròn, vốn yêu thích những biểu tượng, ngắm nhìn ngón tay áp út bàn tay trái của chính mình hình như, nếu không muốn nói là luôn luôn, thường đi kèm với một chuỗi những ý tưởng lãng mạn kỳ lạ. Tâm trí Cytherea, vẫn luẩn quẩn quanh tương lai của mình, đã bị cuốn vào quỹ đạo lãng mạn đó. Cô ngả người ra sau ghế, đưa tay cầm lấy ngón áp út vừa thu hút sự chú ý của mình, nhấc nó lên bằng đầu của những ngón tay còn lại, và ngắm nghía chiếc ngón thuôn dài, nhẵn nhụi ấy trong một hồi lâu.

Cô thầm thì một cách vẩn vơ: ‘Không biết chàng sẽ là ai và là người thế nào nhở?

‘Nếu chàng là một quý tộc phong lưu, chàng sẽ cầm lấy ngón tay tôi thế này, chỉ bằng những đầu ngón tay của chính mình, rồi với chút hồi hộp thắt thẻo trong tim cùng một thoáng run rẩy nơi khóe môi, nhẹ nhàng lồng chiếc nhẫn vào tay tôi đến mức tôi khó lòng nhận ra nó đang ở đó — và suốt khoảnh khắc ấy, ánh mắt chàng sẽ đắm đuối nhìn vào đôi mắt tôi.

‘Nếu chàng là một người lính dũng mãnh, xông pha, tôi đoán chàng sẽ kiêu hãnh quay người lại, cầm lấy chiếc nhẫn như thể giá trị của nó sánh ngang chiếc vương miện của Nữ hoàng, rồi quyết đoán tròng nó lên ngón tay tôi thế này. Chàng sẽ dán chặt ánh mắt không hề nao núng vào việc mình đang làm — tựa như đang đứng giữa chiến trận đối đầu với kẻ thù (dù thực ra, tất nhiên là chàng rất yêu mến tôi), và đỏ mặt ngượng ngùng chẳng kém gì tôi.

‘Nếu chàng là một thủy thủ, chàng sẽ cầm lấy ngón tay tôi và chiếc nhẫn theo cách này, rồi trang hoàng cho nó bằng sự khéo léo của một người nội trợ cùng sự dịu dàng hiện lên nơi khóe miệng, đúng như bản tính của những người đi biển: có lẽ chàng sẽ hôn nó bằng một vẻ mộc mạc, cứ như thể chúng tôi chỉ là những đứa trẻ đang chơi đùa ngây thơ, chứ không phải đang đứng giữa tâm điểm của sự chú ý và lòng ghen tị từ một đám đông lớn đang thì thầm rằng: “A! Giờ thì họ hạnh phúc biết bao!”

‘Giả sử chàng là một người hơi nghèo khó — có tấm lòng cao thượng và đầy ắp tình yêu thương, nhưng ngặt nỗi vẫn nghèo —’

Tiếng bước chân của Owen đang rầm rập bước lên cầu thang đã cắt đứt dòng tưởng tượng phiêu bồng ấy. Tự trách móc bản thân, thậm chí tức giận chính mình vì đã để tâm trí lang thang sang những chuyện vẩn vơ như vậy trong bối cảnh ngặt nghèo hiện tại, cô đứng dậy ra đón anh và chuẩn bị nước pha trà.

Sự tò mò muốn biết người anh trai đã được đón tiếp ra sao tại văn phòng ông Gradfield bùng nổ thành lời ngay lập tức trong lòng Cytherea. Hầu như chưa kịp ngồi vào bàn, cô đã bắt đầu tra hỏi anh theo đúng cái cách quen thuộc của chị em gái.

‘Nào, Owen, ngày hôm nay của anh thế nào? Nơi làm việc ra sao — anh có nghĩ mình sẽ hợp với ông Gradfield không?’

‘À, có chứ. Nhưng hôm nay ông ấy không có mặt ở văn phòng; anh chỉ làm việc với bác họa viên trưởng thôi.’

Phụ nữ trẻ có một thói quen, điều mà đàn ông không hề có, là sẵn sàng nhập vai ngay lập tức vào câu chuyện cuộc đời của bất kỳ ai mà họ chọn. Sự quan tâm của Cytherea liền chuyển hướng từ ông Gradfield sang cấp dưới của ông ấy.

‘Hắn ta là người thế nào vậy?’

‘Trông gã có vẻ là một chàng trai rất dễ mến; dù tất nhiên là anh vẫn chưa thể khẳng định chắc chắn được. Nhưng anh nghĩ gã là một người rất đang hoàng; chẳng có chút kiểu cách nào ở gã cả, và mặc dù không phải là cựu học sinh của một trường danh tiếng, gã đã đọc rất nhiều sách, đồng thời có một sự cảm nhận nhạy bén về những giá trị hay ho trong sách vở và nghệ thuật. Thực ra, vốn hiểu biết của gã không hề mang tính khép kín như đa số những người làm các ngành nghề chuyên môn khác.’

‘Đó là một lời khen lớn dành cho một kiến trúc sư đấy, bởi vì trong số tất cả những người làm nghề chuyên môn, họ thường là những kẻ gia giáo và câu nệ nhất.’

‘Ừ; có lẽ là vậy. Anh nghĩ gã này có thiên hướng hơi u buồn một chút.’

‘Viên thư ký quản lý đó có gia đình chưa?’ cô ôn tồn hỏi sau một lát, trong lúc ró thêm trà.

‘Gia đình á; chưa!’

‘Ơ hay, anh Owen thân mến, sao em lại có thể biết được chứ?’

‘Thì đương nhiên là gã chưa cưới vợ rồi. Nhưng tình cờ có một cuộc trò chuyện về phụ nữ diễn ra ở văn phòng, và anh nghe thấy gã nói về hình mẫu người vợ mà gã mong muốn.’

‘Hình mẫu người vợ mà gã ao ước sẽ thế nào?’ cô hỏi, ra chiều hoàn toàn dửng dưng.

‘À, gã bảo rằng nàng phải trẻ con và ngây thơ: nhưng đồng thời gã cũng chẳng đành lòng thiếu đi một chút sự tế nhị, sắc sảo của đàn bà, vì như thế mới thú vị làm sao. Ừ, gã nói đấy là những tố chất phải có ở nàng; nàng phải có sự khôn khéo của phái đẹp. “Và tuy thế, tôi vẫn muốn nàng sẽ đỏ mặt tía tai dẫu chỉ có một con chim sẻ ngó trân trân vào mình,” gã nói, “điều đó lại đưa tôi quay trở lại với sự ngây thơ ban đầu: và cứ thế, tâm trí tôi cứ dạo chơi qua lại. Tôi đoán mình phải chấp nhận những gì số phận ban tặng thôi,” gã bảo, “và dù nàng có ra sao đi nữa, ơn Chúa là nàng không tệ đến mức tồi tệ hơn. Tuy nhiên, nếu được đưa ra một thỉnh cầu cuối cùng với Đấng Tối Cao,” gã nói, “một đứa trẻ giữa những niềm vui, và một người phụ nữ giữa những nỗi đau chính là phác thảo sơ lược cho hình mẫu của tôi.”’

‘Gã đã nói vậy thật sao? Quả là một kẻ hay hoài tưởng.’

‘Đúng thế thật đấy.’

3. TỪ NGÀY MƯỜI HAI ĐẾN NGÀY MƯỜI LĂM THÁNG BẢY

Như người ta vẫn biết, những ý niệm trong bộ óc con người vốn dĩ vô cùng linh hoạt đến mức chúng chẳng có một kích thước cố định nào có thể được gọi là thể tích thực của chúng cả. Bất kỳ ý tưởng quan trọng nào cũng có thể bị nén lại nhỏ bằng một phân tử do sự chen lấn bất thường của những ý tưởng khác; và bất kỳ ý tưởng nhỏ nhoi nào cũng sẽ phình to ra tới bất kỳ chiều dài lẫn chiều rộng của khoảng trống tâm trí có thể nhường cho nó. Thế giới của Cytherea lúc này khá trống trải, và hình bóng của chàng thiết kế viên kiến trúc sư trẻ tuổi kia vì thế đã bao trùm lấy tâm trí cô. Tối hôm sau, chủ đề ấy lại được khơi mủi.

‘Tên hắn là Springrove,’ Owen đáp lời cô. ‘Hắn là một nghệ sĩ thực thụ, nhưng hình như có xuất thân khá khiêm tốn, tự bươn chải để có được ngày hôm nay. Anh nghĩ hắn là con trai của một nông dân, đại loại thế.’

‘Chà, có thế thì hắn cũng chẳng kém cạnh ai, tôi đoán vậy.’

‘Chẳng kém cạnh gì. Khi chúng ta đi xuống dốc, chúng ta sẽ liên tục gặp những kẻ đang đi lên.’ Nhưng thẳm sâu bên trong, Owen vẫn cảm thấy rằng Springrove có phần kém thế hơn một chút.

‘Chắc bây giờ hắn cũng lớn tuổi rồi nhỉ.’

‘Ồ không. Hắn khoảng hai mươi sáu tuổi — không hơn đâu.’

‘À, ra vậy.... Trông hắn thế nào hả Owen?’

‘Anh không thể tả chính xác ngoại hình của hắn cho em được: tả người khác lúc nào cũng là một việc vô cùng khó khăn.’

‘Một người mà anh sẽ miêu tả là thấp lùn chứ? Hầu hết đàn ông đều là những kẻ mà chúng ta có xu hướng gọi là thấp, em nghĩ vậy.’

‘Anh nghĩ mình sẽ gọi hắn là người có chiều cao trung bình; nhưng vì anh chỉ thấy hắn ngồi trong văn phòng nên tất nhiên anh không chắc chắn lắm về vóc dáng của hắn.’

‘Ước gì anh biết rõ điều đó nhỉ.’

‘Có thể em muốn thế. Nhưng ngặt nỗi anh lại không biết, thấy chưa.’

‘Biết ngay mà, lúc nào anh cũng hay trêu ngươi người khác. Owen này, hôm nay em đã thấy một người đàn ông trên phố mà em cứ ngỡ là hắn — nhưng mà, em cũng chẳng hiểu sao lại thế nữa. Hắn có mái tóc nâu sáng, chiếc mũi hếch, khuôn mặt rất tròn, và có một thói quen kỳ lạ là nheo mắt lại thành những đường thẳng mỗi khi nhìn chăm chú vào thứ gì đó.’

‘Ồ không. Đó không phải là hắn đâu, Cytherea.’

‘Chắc là chẳng có điểm nào giống hắn rồi.’

‘Trông chẳng giống chút nào. Hắn có mái tóc sẫm màu — chiếc mũi gần như mũi Hy Lạp, hàm răng đều đặn, và một gương mặt mang nét tri thức, theo như những gì anh có thể nhớ lại trong trí óc.’

‘A, thế thì đúng rồi, Owen, anh vừa miêu tả hắn đấy chứ! Nhưng chắc là mọi người thường không gọi hắn là dễ mến, hay là—’

‘Đẹp trai á?’

‘Em hầu như không có ý đó. Nhưng đã nhắc đến rồi, vậy hắn có đẹp trai không?’

‘Khá đấy.’

‘Tổng thể ngoại hình của hắn rất nổi bật phải không?’

‘Đúng thế — Ồ không, không — anh quên mất: không phải vậy. Gã hơi lôi thôi một chút ở chiếc áo lê, cà vạt và mái tóc.’

‘Thật là bực mình làm sao!... chắc là chính hắn cũng thấy phiền lòng lắm đây, tội nghiệp.’

‘Hắn là một mọt sách chính hiệu — khinh thường dòng thơ ca ngọt ngào, ủy mị — thuộc làu Shakespeare đến tận những dòng chú thích dưới trang cuối cùng. Thực ra, bản thân hắn cũng là một nhà thơ theo một cách rất riêng.’

‘Thật tuyệt vời làm sao!’ cô thốt lên. ‘Em chưa từng quen biết một nhà thơ nào cả.’

‘Và em cũng chẳng biết hắn đâu,’ Owen đáp gọn lỏn..

Cô đỏ bừng mặt. ‘Đương nhiên là em không biết rồi. Em thừa biết điều đó chứ.’

‘Em đã nhận được hồi âm nào cho mẩu quảng cáo của mình chưa?’ anh hỏi dò.

‘À — chưa!’ cô đáp, và nỗi thất vọng vốn đã bị lãng quên nhưng lại thoáng hiện lên trên khuôn mặt cô vào những thời điểm khác nhau trong ngày, giờ đây lại xuất hiện rõ mồn một.

Lại một ngày nữa trôi qua. Vào thứ Năm, mà chẳng cần phải dò hỏi, cô đã biết thêm nhiều điều về anh chàng họa viên trưởng ấy. Hắn và Graye đã trở nên vô cùng thân thiết, và hắn đã bị cám dỗ muốn cho anh trai cô xem bản sao một số bài thơ của mình — có bài nghiêm túc và buồn bã — có bài hài hước — từng được đăng rải rác trên góc dành cho thơ ca của một cuốn tạp chí. Owen liền đưa chúng cho Cytherea xem, và cô lập tức bắt đầu đọc chúng một cách chăm chú rồi thầmm trầm trồ chúng thật hay biết bao.

‘Ừ — Springrove không phải kẻ ngốc,’ Owen phán một câu chắc nịch.

‘Không phải kẻ ngốc ư! — em nghĩ hắn đích thực là một người thông minh ấy chứ,’ Cytherea vừa nói vừa ngẩng đầu lên khỏi trang giấy với một vẻ đầy phấn khích: ‘để mà viết nên những vần thơ thế này!’

‘Em đang suy diễn cái logic quái quỷ gì thế, Cytherea? À, ý anh không phải khen vì những vần thơ đâu, bởi vì anh còn chẳng thèm đọc chúng; mà là vì những gì hắn đã nói khi bọn họ bàn về chuyện phải lòng ai đó.’

‘Mà anh sẽ kể lại cho em nghe chứ?’

‘Hắn nói rằng một kẻ si tình thực thụ sẽ ngỡ ngàng nhận ra mình đã đính ước với một người thương, giống như một kẻ bắt được thứ gì đó trong bóng tối. Hắn chẳng biết đó là con dơi hay con chim, và chỉ đem nó ra ánh sáng khi đã bình tĩnh lại để tìm hiểu xem đó là thứ gì. Hắn nhìn xem nàng có đúng độ tuổi không, nhưng dù đúng hay sai tuổi, hắn vẫn phải coi nàng là một chiến lợi phẩm. Một thời gian sau, hắn ngẫm nghĩ xem nàng có phải là loại chiến lợi phẩm phù hợp với mình hay không. Dù phù hợp hay không — hắn cũng đã gọi nàng là của mình, và phải chấp nhận gắn bó với điều đó. Sau một thời gian, hắn tự hỏi bản thân rằng: “Nàng có tính khí, mái tóc và đôi mắt đúng như những gì mình hằng mong ước, và từng kiên quyết không đời nào chịu nhân nhượng hay không?” Hắn nhận ra mọi thứ hoàn toàn sai lệch, và thế là cuộc đấu tranh bắt đầu—’

‘Họ có kết hôn và sống hạnh phúc bên nhau không?’

‘Ai cơ? Ồ, ý em là cặp đôi giả định ấy hả. Anh nghĩ hắn đã nói — ừm, thực sự là anh quên béng mất hắn nói gì rồi.’

‘Anh thật ngốc nghếch quá đi mất!’ cô thiếu nữ thốt lên đầy vẻ chán nản.

‘Ừ.’

‘Nhưng hắn là một kẻ chuyên châm biếm — chắc là bây giờ em chẳng thèm để tâm đến hắn nữa đâu.’

‘Đoạn này thì em đã nhầm to rồi đấy. Hắn không phải thế. Theo anh tin, hắn là một kẻ bốc đồng từng phải trả giá đắt cho sự liều lĩnh của mình trong một mối tình nào đó.’

Cuộc đối thoại vào ngày thứ Năm khép lại như thế đấy, nhưng Cytherea vẫn lén đọc lại những vần thơ ấy một mình. Đến thứ Sáu, anh trai cô thông báo rằng Springrove đã báo với anh rằng hắn sẽ rời khỏi văn phòng ông Gradfield trong vòng nửa tháng nữa để đến Luân Đôn lập nghiệp.

Một cảm giác buồn bã khó tả chợt nhói lên trong tim Cytherea. Cô tự hỏi tại sao bản thân lại phải buồn trước một thông báo như thế, về một người mà cô chưa từng gặp mặt, trong khi tinh thần cô vốn đủ sức bật dậy sau những cú giáng nặng nề từ những rắc rối sâu sắc và thực tế cứ như thể cô chưa từng trải qua chúng? Dù không thể trả lời câu hỏi ấy, cô biết rõ một điều: cô đang cảm thấy não nề vì tin tức mà Owen mang lại.

4. NGÀY HAI MƯƠI MỘT THÁNG BẢY

Vào một buổi sáng thứ Năm, tiếng rao khàn đặc của người mõ làng vang lên khắp các con đường ở Budmouth thông báo về một chuyến tham quan bằng tàu thủy địa phương rất được ưa chuộng đến Vịnh Lulstead, khởi hành lúc sáu giờ ngay trong ngày hôm đó. Thời tiết vô cùng tuyệt đẹp, và vì đây là cơ hội đầu tiên mang tính chất như vậy được mở ra cho họ, Owen và Cytherea liền quyết định đi cùng với mọi người.

Họ đã đến vịnh, và đi bộ hướng về phía đất liền gần một tiếng đồng hồ trên ngọn đồi nhô lên bên bờ biển, thì Graye sực nhớ ra rằng cách nơi này sâu vào trong đất liền chừng hai hoặc ba dặm có một tàn tích trung cổ rất thú vị. Anh đã quen thuộc với những đặc điểm của nó qua một công trình khảo cổ học, và giờ đây khi thấy mình ở quá gần với thực tế, anh cảm thấy có hứng thú muốn kiểm chứng lại một vài giả thuyết mà mình từng đắp nặn về nó. Cho rằng vẫn còn thừa đủ thời gian để đi đến đó rồi quay lại trước khi con tàu rời bến, anh liền chia tay Cytherea trên đồi, rẽ xuống dốc rồi đi lên một thung lũng ngập tràn hoa thạch nam.

Cô ở lại trên đỉnh đồi nơi anh vừa rời đi cho đến thời điểm dự kiến anh quay lại, ngắm nghía từng chi tiết của khung cảnh xung quanh. Trải rộng một cách bình yên trước mắt cô về phía nam là Eo biển lộng gió, phản chiếu một sắc xanh thẳm hơn rất nhiều so với màu xanh của bầu trời phía trên, và rải rác ở tiền cảnh là nửa tá chiếc thuyền nhỏ với những bộ buồng buồm tương phản nhau, cánh buồm của chúng ngả màu từ trắng tinh sang nâu đỏ, những gam màu thực tế biến hóa ấy lại được nhân lên gấp bội dưới những tia nắng chiều đang lụi tàn.

Chẳng mấy chốc, tiếng chuông từ chiếc tàu thủy ở đằng xa vang lên, phát ra hồi chuông cảnh báo hành khách mau chóng lên tàu. Tiếp theo đó là một giai điệu rộn ràng cất lên từ những cây đàn hạc và đàn vi-ô-lông trên tàu, âm thanh của chúng khi ngân lên đã hòa quyện vào — chứ không hề bị lấn át bởi — tiếng rì rào của những con sóng khi đầu ngọn sóng cuộn trào — tại điểm mà sức cản của vùng nước nông bắt đầu cảm nhận rõ — rồi vỡ tan tành dọc theo sườn dốc ngập sỏi đá và cát trắng.

Cô quay mặt về hướng đất liền và dán chặt mắt để dò tìm, nếu có thể, bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy sự trở về của Owen. Chẳng có gì lọt vào tầm mắt ngoại trừ khung cảnh thiên nhiên vẫn rực rỡ đến chói lọi và tĩnh lặng. Lõm sâu hình vòng cung nằm ở phía sau ngọn đồi theo hướng này đang bừng cháy dưới ánh nắng chiều tây, tô thêm sắc cam rực rỡ vào sắc tím đậm của thạch nam — loài cây hiện đang ở thời kỳ mãn khai rực rỡ nhất và không hề vướng chút sắc nâu héo úa vốn thường len lỏi vào các tán lá của chúng rất nhanh. Ánh sáng mạnh mẽ đến mức làm nổi bật các sắc màu khiến chúng có vẻ như đang nhô lên khỏi bề mặt Trái Đất và bồng bềnh giữa không trung tựa như một làn hơi màu đỏ. Ở những thung lũng nhỏ hơn, nằm giữa những gò đất và rãnh đồi tạo nên nét đa dạng cho địa hình lòng chảo nhưng không làm phá vỡ tổng thể uốn lượn của nó, cô nhận ra những vạt dương xỉ cao nghệu, thân dày dặn, cao tới năm sáu sải tay đang khoác lên mình chiếc áo màu xanh lá mạ rực rỡ — một dải băng rộng ôm lấy lối mòn uốn lượn giữa chúng như một dòng suối chảy qua khe núi nhỏ kéo dài tận chân đồi, rồi dẫn lối đi thẳng vào khu đất cỏ xanh mướt của nó. Xen lẫn giữa những khóm dương xỉ là những bụi cây ô-rêu có màu sắc sẫm hơn bất kỳ cái bóng nào xung quanh, trong khi toàn bộ bề mặt của khung cảnh lấm tấm những hố hình nón nhỏ, và đây đó là những cái ao tròn, nay đã cạn nước và mọc đầy cỏ sậy.

Hồi chuông cuối cùng của con tàu vang lên. Cytherea đã quên bẵng mất bản thân mình và cả thứ mà cô đang chờ đợi. Trong cơn hoảng loạn sợ rằng Owen sẽ bị bỏ lại phía sau, cô túm gọn bốn góc chiếc khăn tay của mình — nơi đựng những mẫu vỏ sò, thực vật và hóa thạch mà vùng này sản sinh — rồi cắm cổ chạy lao xuống bãi cát, hòa mình vào những nhóm du khách đang tụ tập ở đó từ các điểm thú vị xung quanh; từ quán trọ, những ngôi nhà tranh cho đến các cỗ xe thuê vừa trở về sau những chuyến ngoạn cảnh ngắn trong nội địa. Tất cả bọn họ đều bước lên tàu theo cách thô sơ là qua một chiếc ván gỗ hẹp đặt trên hai bánh xe — và những người phụ nữ thì được hỗ trợ bằng một sợi dây thừng. Cytherea nán lại đến tận giây phút cuối cùng, tỏ ra luyến tiếc chưa muốn bước theo, và liên tục liếc nhìn luân phiên giữa con tàu và thung lũng phía sau. Sự chậm trễ của cô đã chọc tức Thuyền trưởng Jacobs, một người đàn ông vạm vỡ với làn da mang những vết bớt kỳ lạ — hậu quả từ sự tác động hỗn hợp của lửa và nước, vốn là đặc trưng của các thủy thủ trên những con tàu chạy bằng động cơ hơi nước.

‘Nào thưa tiểu thư, làm ơn nhanh lên hộ cái. Tôi rất tiếc phải báo với cô là thời gian của chúng ta đã hết rồi. Cô đang tìm ai thế, tiểu thư?’

‘Anh trai tôi — anh ấy đi bộ một quãng ngắn vào trong nội địa; chắc chắn anh ấy sẽ có mặt ở đây ngay bây giờ thôi. Ông có thể đợi anh ấy — thêm một phút nữa được không?’

‘Quả thực, tôi e là không được đâu thưa cô.’ Cytherea nhìn người đàn ông vạm vỡ có khuôn mặt tròn trĩnh, rồi nhìn sang con tàu, với một ánh mắt lấp lánh trong đôi mắt bộc lộ rõ rằng qua suy ngẫm, cô cũng có chung quan điểm với ông ta, đồng thời mang một vẻ buông xuôi cam chịu đến mức — xuất phát từ bản năng kiêu hãnh muốn chứng tỏ mình là người nhân đạo hơn người ta tưởng (những việc làm vượt quá bổn phận thường là sự hy sinh duy nhất có sức cám dỗ theo cách này) — và với cái giá phải trả vô cùng nhỏ, ông ta đã quyết định hoãn việc nhổ neo lại cho đến khi một số hành khách bắt đầu lẩm bẩm bất mãn.

‘Thôi được rồi, mặc kệ tôi đi,’ Cytherea dứt khoát nói. ‘Cứ đi đi khỏi cần tôi — tôi sẽ ở lại chờ anh ấy.’

‘Chà, bỏ mặc cô ở lại đây một mình thế này quả là rất bất tiện,’ viên thuyền trưởng nói. ‘Tôi thành thật khuyên cô không nên ở lại chờ làm gì.’

‘Chắc chắn anh ấy đã đi thẳng ra ga tàu hỏa rồi,’ một hành khách khác lên tiếng.

‘Không — anh ấy kìa!’ Cytherea vừa nói vừa đưa mắt nhìn về phía bóng dáng nửa ẩn nửa hiện của một người đàn ông đang sải bước với tốc độ bạt mạng lao xuống khe núi nằm giữa vùng thạch nam và bờ biển.

‘Hắn ta không thể đến đây kịp trong vòng chưa đầy năm phút nữa đâu,’ một hành khách nhận xét. ‘Mọi người phải biết lượng sức mình chứ, và phải đúng giờ giấc chứ. Thật sự, nếu như—’

‘Thưa ông thấy đấy,’ viên thuyền trưởng nhỏ giọng phân trần, ‘vì đó là anh trai của cô ấy, và cô ấy lại thui thủi có một mình, việc đợi thêm một phút khi cậu ta đã xuất hiện trong tầm mắt là chuyện rất đỗi bình thường. Giả sử bây giờ, ông là một thiếu nữ đi, và có một người anh trai giống như thế này, rồi ông đứng vào một buổi chiều trên bờ biển hoang vắng hiu quạnh này giống như cô ấy, thì chắc là ông cũng muốn chúng tôi phải chờ chứ bộ, đúng không thưa ông? Tôi nghĩ là ông sẽ muốn thế đấy.’

Kand người đang hớt hải chạy đến vừa rồi đã khuất tầm nhìn trong khoảnh khắc đó do một cái trũng trên mặt đất, và vách đá nhô ra ngay gần đó đã che khuất khúc uốn của con đường. Lúc này, tiếng bước chân của anh đã vang lên dồn dập trên con đường lát đá lửa từ khoảng cách chừng hai mươi hoặc ba mươi thước, nhưng vẫn nằm sau gờ đất chắn. Để tiết kiệm thời gian, Cytherea chuẩn bị bước lên tấm ván.

‘Để tôi đỡ tay cho cô nhé, thưa cô,’ Thuyền trưởng Jacobs nói.

‘Thôi — xin đừng chạm vào tôi,’ cô vừa nói vừa cẩn thận bước lên bằng cách trượt một bàn chân về phía trước chừng hai hoặc ba inch, kéo chân kia theo sau, cứ thế luân phiên — đôi môi mím chặt vì dồn hết tâm trí vào kỳ tích đó, đôi mắt dán chặt vào tấm ván, tay bám lấy sợi dây thừng, và tâm trí hoàn toàn hướng vào nỗi sợ rằng bề mặt đặt chân quá ư chật hẹp này. Lúc này, tiếng bước chân lại rung lên ở phần đầu dưới của tấm ván, và trong chớp mắt đã lao vút lên sát gót chân cô.

‘Ồ Owen, em mừng quá vì anh đã đến!’ cô thốt lên mà không hề quay đầu lại. ‘Đừng, đừng làm rung tấm ván hay chạm vào người em, bất kể anh định làm gì nhé.... Nào, em lên tới nơi rồi đây. Anh đã đi đâu mà lâu thế?’ cô tiếp tục hỏi với giọng thấp hơn, quay người lại phía anh khi đã đặt chân lên tới boong tàu.

Rời tầm mắt khỏi đôi chân vốn đang đứng trên boong tàu vững chãi và không cần phải bận tâm đến nó nữa, cô bắt đầu nhận diện người vừa tới theo thứ tự sau: chiếc quần lạ hoắc; chiếc áo lê lạ hoắc; gương mặt lạ hoắc. Người đàn ông đó không phải là anh trai cô, mà là một kẻ hoàn toàn xa lạ.

Tấm ván được rút đi; guồng nước bắt đầu quay, khựng lại, đảo ngược, đập hỗn loạn, rồi quay dứt khoát trở lại, và con tàu lướt thẳng ra vùng nước sâu.

Một hoặc hai người cất lên câu chào, ‘Chào anh Springrove nhé?’ rồi liếc nhìn Cytherea để xem cô chịu đựng nỗi thất vọng này thế nào. Tai cô vừa kịp bắt được tên của chàng họa viên trưởng thì cũng là lúc cô nhìn thấy hắn đang tiến thẳng về phía mình để chào hỏi.

‘Cô Graye phải không ạ?’ hắn vừa nói vừa ngả mũ chào.

‘Vâng,’ Cytherea đáp, mặt đỏ bừng và cố gắng tỏ ra không hề biết chút gì về hắn từ trước.

‘Tôi là Springrove. Tôi đã đi qua Lâu đài Corvsgate cách đây khoảng một tiếng đồng hồ, và ngay sau đó thì gặp anh trai cô đang đi về hướng đó. Anh ấy đã nhầm lẫn về khoảng cách, và đang định quay về mà không kịp ngắm nhìn tàn tích vì chân hoặc bàn chân đột ngột bị đau điếng. Tôi đã gợi ý rằng anh ấy cứ nên đi tiếp, vì dẫu sao cũng đã đến sát nút rồi; và sau đó, thay vì đi bộ ngược trở lại bến tàu, anh ấy có thể rẽ sang Ga Anglebury — một quãng đường đi bộ ngắn hơn đối với anh ấy — nơi anh ấy có thể kịp chuyến tàu muộn để trở về nhà ngay. Tôi có thể thông báo cho cô biết anh ấy đã làm gì, và xua tan mọi nỗi lo lắng của cô.’

‘Vết thương của anh ấy có nghiêm trọng không, anh có biết không?’

‘Ồ không; đơn giản là do đi bộ quá sức thôi. Dù sao thì việc đi xe về nhà vẫn tốt hơn.’

Được giải tỏa khỏi những nỗi lo lắng về phần Owen, cô đã có dịp quan sát kỹ hơn ngoại hình của người mang tin — Edward Springrove — người lúc bấy giờ đang cởi mũ ra một lát để lau mồ hôi. Hắn cao hơn anh trai cô một chút. Mặc dù phần trên của khuôn mặt và đầu hắn được tạo hình đẹp đẽ, viền bởi những đường nét nam tính vừa đủ, nhưng đôi chân mày của hắn lại hơi cong quá mức mềm mại và được tỉa tót quá kỹ đối với một đấng mày râu; tuy nhiên, điều đó không hề làm suy giảm chút nào niềm tin mà tổng hòa các nét trên khuôn mặt hắn mang lại — rằng dù chúng không chứng minh được kẻ sở hữu bộ óc suy tư bên trong đó sẽ làm nên nghiệp lớn gì trên thế giới này, thì những người từng làm nên những điều vĩ đại nhất cũng chẳng có khuôn mặt nào khả ái hơn thế. Vắt ngang trán hắn, dẫu vốn dĩ nhẵn nhụi hoàn hảo, là một nếp nhăn mỏng manh, và sự tươi tắn khỏe khoắn của các đường nét còn lại trên khuôn mặt cho thấy nếp nhăn ấy đã hằn lên trước cả tuổi thực của hắn.

Dù còn cách xa cái tuổi mà linh hồn minh mẫn giã từ những khiếm khuyết cuối cùng của một tâm hồn cao cả để chuyển sang việc đi tìm nhà cửa và đầu tư tài chính, hắn đã chạm đến giai đoạn trong cuộc đời của một thanh niên khi mà những quãng đời mang tính sự vụ, với một khởi đầu đầy hy vọng và một cái kết chán chường, bắt đầu chồng chất lên nhau, mang lại thứ quả ngọt mang tính khái quát; ánh mắt hắn đôi khi như muốn tuyên bố rằng: ‘Tôi đã sớm suy ngẫm thấu đáo về kết cục của những hoàn cảnh như thế này mà chúng ta đang trải qua.’ Có những lúc khác, hắn mang một vẻ đờ đẫn, xa xăm: ‘Dường như tôi đã từng sống qua khoảnh khắc này từ trước rồi thì phải.’

Hắn ăn mặc có phần cẩu thả trong bộ đồ màu xám sậm, quàng một chiếc khăn lụa đen cuộn tròn làm khăn cổ; chiếc thắt nút bị xộc xệch và lệch sang một bên — với một lớp bụi trắng đọng lại trong các nếp gấp.

‘Tôi rất tiếc vì sự thất vọng của cô,’ hắn tiếp tục nói, liếc nhìn vào khuôn mặt cô. Khi ánh mắt họ giao nhau, chúng như bị khóa chặt vào nhau, và khoảng thời gian ngắn ngủi mà phép lịch sự cho phép đối với một cái nhìn như thế đã bị nhân lên gấp ba: một tia sáng trí tuệ sắc bén và trong trẻo đã phóng từ người này sang người kia, khai sinh ra một trong những cảm giác kỳ lạ mang đến tận sâu thẳm trái tim trước khi một bàn tay kịp chạm vào nhau hay một lời khen xã giao cất lên, mạnh mẽ hơn cả chứng minh toán học, niềm xác tín rằng: ‘Một mối lương duyên đã bắt đầu gắn kết chúng ta lại với nhau.’

Cả hai khuôn mặt cũng vô tình bộc lộ rằng thời gian gần đây chủ nhân của chúng đã nghĩ về nhau rất nhiều. Owen đã trò chuyện với chàng kiến trúc sư trẻ về cô em gái thoải mái chẳng kém gì việc Cytherea trò chuyện với anh về chàng kiến trúc sư ấy.

Một cuộc trò chuyện bắt đầu, và nó trở nên vô cùng thú vị đối với những người trong cuộc, dẫu rằng nó chỉ gồm toàn những lời bàn tán nhạt nhẽo và tầm thường nhất. Rồi dàn nhạc gồm đàn hạc và vi-ô-lông cất lên một giai điệu rộn ràng, và boong tàu được dọn sạch để khiêu vũ; mặt trời chìm khuất đường chân trời trong suốt quá trình đó, và vầng trăng liền hiện ra ở phía đuôi tàu. Biển phẳng lặng đến mức người ta có thể nghe rõ tiếng xèo xèo êm dịu phát ra từ sự vỡ tung của vô vàn bọt nước phía sau guồng chèo. Những hành khách không khiêu vũ, trong đó có cả Cytherea và Springrove, chìm vào im lặng, tựa người vào các hộp bánh xe chèo hoặc đứng tách biệt — ngắm nhìn sự rung rập của boong tàu theo nhịp điệu khiêu vũ — theo dõi những con sóng từ guồng chèo lướt qua nhau một cách nhẹ nhàng và êm ái bên dưới mép tàu.

Đêm đã buông xuống hoàn toàn khi họ cập bến cảng Budmouth, nơi rực sáng với những ánh đèn trắng, đỏ và xanh lục đối lập với vệt sáng lấp lánh từ hình ảnh phản chiếu của ánh trăng ở phía bên kia, trải dài tít tắp đến tận chân đường chân trời cho đến khi những gợn sóng lăn tăn thu nhỏ lại thành những đốm sáng mịn như bụi vàng.

‘Tôi sẽ đi bộ ra ga để tìm hiểu chính xác thời gian tàu đến,’ Springrove nói với vẻ khá sốt sắng khi họ vừa đặt chân lên bờ.

Cô gửi lời cảm ơn hắn rối rít.

‘Có lẽ chúng ta có thể đi cùng nhau,’ hắn ngập ngừng đề nghị. Cô nhìn có vẻ như không biết phải tính sao, và hắn liền chốt hạ bằng cách dẫn đường.

Khi đến nơi, họ phát hiện ra rằng vào ngày đầu tiên của tháng đó, chuyến tàu cụ thể được chọn cho sự trở lại của Graye đã ngừng dừng tại ga Anglebury.

‘Tôi rất tiếc vì đã dẫn đường sai cho anh ấy,’ Springrove nói.

‘Ồ, tôi chẳng lo lắng chút nào đâu,’ Cytherea đáp lại.

‘Chà, chắc chắn là mọi chuyện sẽ ổn thôi — anh ấy sẽ ngủ lại đó, và bắt chuyến đầu tiên vào buổi sáng. Nhưng còn cô, cô sẽ làm gì khi ở một mình đây?’

‘Tôi hoàn toàn yên tâm về vấn đề đó; bà chủ nhà rất thân thiện. Bây giờ tôi phải vào nhà đây. Chúc ngủ ngon, anh Springrove.’

‘Để tôi đi vòng ra cửa nhà cô nhé?’ hắn nài nỉ.

‘Thôi, cảm ơn anh; nhà chúng tôi ở sát ngay đây thôi.’

Hắn nhìn cô giống như cách một người phục vụ nhìn số tiền thối lại mà anh ta mang ra. Nhưng cô vẫn tỏ ra vô cảm.

‘Đừng — đừng quên tôi nhé,’ hắn thì thầm. Cô không đáp lời.

‘Cho phép tôi được gặp cô thỉnh thoảng nhé,’ hắn nói.

‘Có lẽ anh sẽ chẳng bao giờ gặp lại tôi nữa đâu — tôi sắp đi rồi,’ cô đáp lại với giọng điệu lưu luyến; rồi rẽ vào Phố Cross, chạy vội vào nhà và leo lên gác.

Việc đột ngột rút đi thứ vốn dĩ ban đầu là thừa thãi thường được cảm nhận như một sự mất mát thiết yếu. Cảm giác đó giờ đây đang hiện hữu ở cô thiếu nữ. Hơn thế nữa, sau một cuộc gặp gỡ quá đỗi ngọt ngào và bùng nổ cảm xúc như vậy, cô dường như vừa ngầm ám chỉ rằng họ sẽ chẳng bao giờ còn hội ngộ.

Chàng trai trẻ nhẹ nhàng bước theo cô, đứng đối diện ngôi nhà và ngắm nhìn cô xuất hiện nơi căn phòng trên lầu cùng ngọn đèn. Chẳng mấy chốc, tầm mắt của hắn bị cắt đứt bởi hành động tiến lại cửa sổ và kéo rèm xuống của cô — Edward cứ thẫn thờ hướng về bóng dáng đang khuất dần của cô với một nỗi buồn tuyệt vọng vì mất mát, tựa như cảm giác mà các nhà logic học vẫn gán cho Adam khi ông lần đầu tiên nhìn thấy mặt trời lặn, và trong sự non nớt kinh nghiệm của mình, đã nghĩ rằng nó sẽ chẳng bao giờ quay trở lại nữa.

Hắn đứng đợi cho đến khi cái bóng của cô đã lướt qua cửa sổ tới hai lần, rồi khi nhận ra không thể hy vọng nhìn thấy lại bóng hình kiều diễm ấy thêm lần nào nữa, hắn rời khỏi con phố, băng qua cây cầu cảng và bước vào căn phòng đơn độc của chính mình ở phía bên kia, vừa đi vừa vẩn vơ suy nghĩ (với những lý do mơ hồ rằng):

‘Một niềm hy vọng quá đỗi giống sự tuyệt vọng

Đến mức sự thận trọng cũng chẳng tài nào kìm nén nổi.’

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.