Quả Chuông Ác Mộng

Lượt đọc: 23 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Bốn

❊ ❊ ❊

Tôi không hiểu tại sao việc thoát được môn Hóa học lại lởn vởn trong đầu tôi khi đang ở trong văn phòng của Jay Cee.

Suốt thời gian bà nói chuyện, tôi thấy hình ảnh thầy Manzi lờ mờ phía sau đầu của Jay Cee như thể phòi ra từ cái mũ, tay thầy cầm quả cầu gỗ nhỏ và cái ống nghiệm mù mịt khói màu vàng và bốc mùi trứng thối giống như tiết học trước lễ Phục sinh khiến cả lớp và chính bản thân thầy phải phá lên cười.

Tôi cảm thấy mình có lỗi với thầy Manzi. Tôi muốn chạy tới chắp tay quỳ gối trước mặt ông và xin thứ tội vì đã dối trá một cách trắng trợn đến thế.

Jay Cee đưa cho tôi một tập bản thảo truyện ngắn và nói chuyện với tôi dịu dàng hơn. Tôi dành thời gian còn lại của buổi sáng để đọc và đánh máy những cảm nhận của mình trên một loại giấy màu hồng liên lạc nội bộ, sau đó gửi chúng đến phòng biên tập của Betsy, để cô đọc vào ngày hôm sau. Jay Cee thỉnh thoảng lại chen ngang công việc của tôi, kể một điều gì đó về công việc hoặc một câu chuyện tào lao.

Jay Cee sẽ đi ăn trưa với hai văn sĩ nổi tiếng, một nam và một nữ. Ông văn sĩ đã bán sáu truyện ngắn cho New Yorker và sáu truyện khác cho Jay Cee. Điều này làm tôi ngạc nhiên, tôi không hiểu tại sao các tạp chí lại mua từng lô sáu truyện một như vậy, và tôi sửng sốt khi nghĩ tới món nhuận bút mà sáu truyện ngắn mang lại. Jay Cee nói rằng bà ta phải rất cẩn trọng trong bữa trưa này vì nữ văn sĩ cũng viết truyện ngắn, nhưng chưa bao giờ được đăng trên New Yorker còn Jay Cee cũng chỉ mua một truyện của bà ta trong suốt năm năm trời. Jay Cee vừa phải tâng bốc ông nhà văn này nổi tiếng hơn, đồng thời vừa phải cẩn thận để tránh làm tổn thương bà nhà văn kém tiếng nọ.

Khi thiên thần nhỏ trên chiếc đồng hồ treo tường kiểu Pháp của Jay Cee vẫy đôi cánh và đưa chiếc kèn mạ vàng lên môi thổi lần lượt mười hai tiếng, Jay Cee bảo tôi hôm nay làm việc thế là đủ, hãy đến dự bữa tiệc chiêu đãi của tạp chí Ladies’ Day và buổi công chiếu phim; cũng như muốn thấy tôi ở văn phòng sáng sớm ngày hôm sau.

Sau đó bà ta khoác một chiếc áo vét ra ngoài áo sơ mi màu tử đinh hương, đội chiếc mũ có gắn hoa tử đinh hương giả, thoa chút phấn lên cánh mũi và chỉnh lại cặp kính dày cộm. Bà ta trông thật kinh khủng, nhưng rất thông thái. Trước khi rời văn phòng, với bàn tay đeo găng màu tử đinh hương, bà vỗ vai tôi và bảo: “Cô đừng để cho thành phố đồi bại này làm sa đọa.”

Tôi yên lặng ngồi trên chiếc ghế xoay ít phút, suy nghĩ về Jay Cee. Tôi cố tưởng tượng mọi việc sẽ ra sao nếu mình là Ee Gee, một biên tập viên nổi tiếng làm việc trong một văn phòng đầy ắp chậu cây cao su và violet Phi châu mà thư ký phải tưới nước mỗi buổi sáng. Tôi cũng ước mình có một người mẹ như Jay Cee. Và tôi sẽ biết mình phải làm gì.

Mẹ ruột tôi không giúp gì nhiều được cho tôi. Bà dạy ghi tốc ký và đánh máy để nuôi chúng tôi kể từ ngày bố tôi mất, bà thầm oán giận bố tôi, hận vì ông qua đời mà không để lại chút tiền bạc nào, bởi vì ông đã không tin vào mấy gã bán bảo hiểm nhân thọ. Bà thường ép tôi học tốc ký mỗi khi đi học về, để có một kỹ năng thực tế song song với bằng đại học. “Các Thánh tông đồ còn đi dựng lều nữa là,” bà nói. “Ai cũng phải kiếm sống cả, chúng ta cũng vậy.”

Tôi nhúng ngón tay vào bát nước ấm mà cô hầu bàn đã đặt vào chỗ hai đĩa kem đã sạch trơn. Sau đó cẩn thận chùi sạch từng ngón vào chiếc khăn ăn hãy còn sạch sẽ. Rồi tôi gập chiếc khăn bằng vải lanh đó lại, đặt vào giữa đôi môi rồi mím lại. Khi tôi để chiếc khăn xuống bàn, hình đôi môi màu hồng nhàn nhạt hiện lên rõ chính giữa khăn, trông như một trái tim bé xíu.

Tôi nghĩ mình đã trải qua một quãng đường dài.

Lần đầu tiên tôi thấy bát nước rửa tay là tại nhà vị ân nhân của tôi. Người phụ nữ nhỏ nhắn mặt đầy tàn nhang thuộc ban xét duyệt học bổng đã nói cho tôi biết rằng theo thông lệ ở trường, nếu bạn nhận được học bổng, bạn phải viết thư cám ơn người đã trao suất học bổng đó cho bạn, nếu người đó còn sống.

Tôi nhận được học bổng của Philomena Guinea, một nữ tiểu thuyết gia giàu có từng tới thăm trường tôi vào những năm đầu của thế kỷ 20, tiểu thuyết đầu tay của bà được dựng thành phim câm do Bette Davis đóng, đồng thời được đọc trên hàng loạt sóng phát thanh còn tồn tại cho tới ngày nay. Hóa ra bà ta vẫn còn sống, trong một lâu đài rộng lớn không xa câu lạc bộ nơi ông tôi làm việc.

Thế là tôi viết cho bà Philomena Guinea một bức thư dài bằng mực đen trên giấy xám có dập nổi tên trường tôi bằng mực đỏ. Tôi tả về những chiếc lá mùa thu khi tôi đạp xe dạo trên những ngọn đồi và thật tuyệt vời biết bao khi được học nội trú thay vì ở nhà rồi đi tới trường bằng xe buýt. Và cả về vô vàn tri thức đang rộng mở trước mắt tôi, biết đâu một ngày nào đó, tôi cũng viết được những cuốn sách tuyệt vời như bà.

Tôi từng đọc một trong những cuốn sách của bà Guinea tại thư viện thành phố - và một lý do nào đó thư viện của trường không lưu trữ chúng - và từ đầu tới cuối cuốn truyện đầy ắp những câu hỏi nghi vấn dài dòng như “Liệu Evelyn có nhận ra rằng Gladys đã quen biết Roger trong quá khứ không? Hector bồn chồn tự hỏi” hoặc “Làm sao để Donald có thể cưới cô khi anh biết rằng bé Elsie đang bị giấu biệt cùng với bà Rollmop tại một nông trại hẻo lánh? Griselda hỏi chiếc gối thảm đạm, đẫm ánh trăng.” Những cuốn sách này đã mang lại cho Philomena Guinea hàng triệu đô la, dù sau này bà có kể cho tôi rằng bà rất kém hồi còn đi học.

Bà Guinea viết thư trả lời và mời tôi đến nhà ăn trưa. Đó chính là nơi mà lần đầu tiên tôi trông thấy bát nước rửa tay.

Bát nước bồng bềnh một vài cánh hoa anh đào, tôi tưởng đó là món súp loãng Nhật Bản dùng để tráng miệng, và thế là tôi húp sạch trơn, kể cả những cánh hoa bé xíu. Bà Guinea không nói năng gì cả, mãi sau này khi tôi kể cho một đứa bạn vừa nhập trường về bữa ăn đó, tôi mới hiểu ra mình đã làm gì.

Khi chúng tôi bước ra khỏi văn phòng tràn ngập ánh sáng của tạp chí Ladies’ Day, đường phố đã xám xịt, mưa bay khói tỏa. Đó không phải là thứ mưa bụi gột rửa đường xá mà là một thứ mưa tưởng chừng chỉ có ở Brazil. Từng giọt mưa lớn như giọt cà phê rơi thẳng từ trời đánh bộp một cái xuống mặt đường trải nhựa nóng bỏng làm bốc lên từng làn hơi nước.

Mơ ước thầm kín của tôi, được trải qua buổi chiều một mình ở công viên trung tâm đã tan vỡ đằng sau cánh cửa xoay thủy tinh của tạp chí Ladies’ Day. Tôi thấy mình bị tống ra ngoài xuyên qua làn nước mưa âm ấm vào một cái động âm u và nhộn nhạo của một chiếc taxi cùng với Betsy, Hilda và Emily Ann Offenbach, một cô ả nhỏ nhắn nghiêm nghị, tóc đỏ buộc thành búi, có chồng và ba đứa con ở Teaneck, New Jersey.

Bộ phim dở tệ. Vai nữ chính là một cô gái đẹp tóc vàng trông giống June Allyson nhưng chắc chắn không phải, và một cô gái tóc đen sexy giống Elizabeth Taylor nhưng cũng không phải nốt, thêm hai gã vai u thịt bắp có tên là Rick và Gil gì đó.

Đó là một bộ phim màu lãng mạn về bóng đá.

Tôi ghét phim màu. Có cảm giác những diễn viên trong phim màu đều thấy bị bó buộc, khi phải mặc những bộ trang phục nhợt nhạt trong mỗi cảnh phim, tự biến mình thành những cái giá phơi quần áo, với hàng đống cây cối xanh lét, hoặc lúa mì thì vàng rực hay đại dương xanh thẳm trải dài vô tận về mọi hướng.

Phần lớn cảnh phim diễn ra trên khán đài của một sân bóng; hai cô gái ăn mặc diêm dúa với bông hoa cúc màu cam to bằng cây bắp cải cài trên ve áo, đang vẫy tay cổ vũ, hoặc trong phòng khiêu vũ, nơi hai cô ả bò lê bò toài trên sàn với bạn trai của mình, phục trang y như trong phim Cuốn theo chiều gió, nhưng rồi lẻn sang phòng trang điểm để kể cho nhau nghe những chuyện tục tĩu.

Cuối cùng cô gái đẹp tóc vàng kết đôi được với anh chàng danh thủ bóng đá, còn cô nàng sexy chẳng cặp được với ai, vì gã Gil chỉ muốn bồ bịch tạm bợ chứ không muốn lấy vợ, giờ gã sắp cuốn gói sang châu Âu với vé một chiều.

Xem đến đây tôi bắt đầu cảm thấy kỳ quái. Tôi nhìn chung quanh tất cả mọi hàng ghế nơi những mái đầu nhỏ nhắn đang chăm chú xem phim, ánh sáng màn bạc hắt lên đằng trước họ, phía sau đều một bóng đen như nhau, họ trông giống như một lũ ngáo bại não ngây ngốc không hơn không kém.

Tôi cảm thấy buồn nôn một cách khủng khiếp. Không biết là do cuốn phim tệ hại kia khiến tôi lên cơn đau dạ dày hay do đống caviar tôi đã chén.

“Tớ về khách sạn đây.” Tôi thì thầm với Betsy trong bóng tối lờ mờ.

Betsy đang chăm chú nhìn màn ảnh với sự tập trung cao độ. “Cậu thấy không ổn à?” Cô mấp máy môi hỏi.

“Ừ,” tôi nói. “Khó chịu muốn chết vậy.”

“Tớ cũng thế. Tớ sẽ về cùng với cậu.”

Chúng tôi rời chỗ ngồi và luôn miệng nói xin lỗi suốt dọc cả hàng ghế giữa những tiếng càu nhàu của những người phải dẹp ủng đi mưa và ô để cho chúng tôi qua. Tôi giẫm lên chân của bất cứ ai tôi đi ngang qua để dời sự chú ý của tâm trí tôi ra khỏi cơn buồn nôn đang phồng lên nhanh chóng như cái bong bóng, khiến tôi chẳng thấy được gì ngoài nó cả.

Những giọt mưa âm ấm vẫn lắc rắc rơi khi chúng tôi ra tới đường.

Betsy hiện ra trước mắt tôi thật ghê rợn. Đôi má không chút huyết sắc, khuôn mặt xanh mét và nhễ nhại mồ hôi.

Má nhợt, mặt khô rốc, xanh tái và đầy mồ hôi. Chúng tôi nhảy lên một chiếc taxi màu vàng lúc nào cũng đợi sẵn ở góc đường, bạn sẽ luôn thấy chúng mỗi khi băn khoăn về việc có nên bắt xe hay không. Dọc đường về khách sạn, tôi ói một lần còn Betsy hai lần.

Gã tài xế taxi vào cua gấp đến nỗi chúng tôi ở băng ghế sau cứ xô nhào hết bên nọ đến bên kia. Cứ mỗi khi một trong hai đứa muốn ói, chúng tôi lại khẽ khàng cúi người xuống như thể đang cố lượm cái gì đó vừa đánh rơi xuống, còn người kia vừa nói lầm bầm vừa giả vờ ngó ra ngoài cửa sổ.

Dẫu vậy, gã tài xế thừa biết chúng tôi đang làm trò gì.

“Này,” gã vọt lên khi vừa chuyển đèn đỏ và la lên. “Không được làm thế trong xe, ra ngoài và ói ra đường ấy.”

Nhưng chúng tôi chẳng đáp lời, tôi nghĩ gã cũng biết là sắp về đến khách sạn nên không bắt chúng tôi rời xe cho tới khi đỗ lại trước cổng chính.

Không dám chờ tính tiền, chúng tôi giúi đại vào tay gã một nắm tiền, che vội mấy tờ khăn giấy Kleenex lên bãi nôn trên sàn xe, rồi chạy băng qua hành lang vào một chiếc thang máy trống. Thật may mắn cho chúng tôi vì đó là giờ vắng khách. Betsy lại buồn nôn trong thang máy, tôi phải nâng đầu cô lên, sau đó đến lượt tôi, cô lại phải nâng đầu tôi.

Thông thường sau khi nôn, bạn sẽ thấy khá hơn ngay tức khắc. Chúng tôi ôm hôn nhau từ biệt rồi mỗi người rẽ về một hành lang để về nằm dài trong phòng riêng của mình. Chẳng có gì dễ kết bạn chí cốt hơn là cùng nhau nôn mửa cả.

Ngay khi đóng sập cánh cửa sau lưng, cởi đồ rồi vật mình ra giường, tôi cảm thấy tồi tệ hơn bao giờ hết. Tôi thấy mình phải vào toilet. Tôi ráng khoác chiếc áo choàng trắng có thêu hoa thanh cúc và loạng choạng đi tới phòng tắm.

Betsy đã có mặt ở đó. Tôi nghe tiếng cô ậm ọe phía sau cửa, vì thế tôi vội vòng qua hành lang khác tới khu nhà tắm kế tiếp. Tôi nghĩ mình chết đến nơi rồi.

Tôi ngồi trên bồn cầu, tựa đầu vào lavabo và nghĩ thầm cả bữa ăn lẫn mật xanh mật vàng đều đã đi tong hết. Cơn buồn nôn cứ cuộn trào từng đợt trong tôi. Cứ mỗi lần trào lên rồi dịu xuống, tôi lại cảm thấy mình lả đi như một chiếc lá ướt đầm, toàn thân run rẩy, thế rồi cơn nôn lại trào lên, tôi như đang lọt vào trong căn phòng tra tấn, dưới chân, trên đầu và khắp bốn phía là những viên gạch men trắng lấp lánh muốn ép vụn tôi ra từng mảnh.

Tôi không biết mình còn trụ được bao lâu nữa. Tôi cứ để cho vòi nước lạnh trong lavabo chảy ào ào để ai đó đi ngang qua đều nghĩ rằng tôi đang giặt quần áo, rồi khi cảm thấy tương đối ổn hơn, tôi nằm xoải xuống sàn bất động.

Dường như không còn là mùa hè nữa, tôi cảm thấy cái rét mùa đông khiến xương cốt tôi run lẩy bẩy và hai hàm răng va vào nhau lập cập, chiếc khăn tắm lớn màu trắng của khách sạn mà tôi cuộn lại để gối đầu tê cóng như một mảng tuyết.

Tôi nghĩ người ta thật bất lịch sự khi nện thình thình vào cửa phòng tắm như họ vừa làm lúc này. Họ nên vòng qua một ngả khác, kiếm một phòng tắm khác giống như tôi ban nãy và để cho tôi được yên.

Nhưng người đó vẫn tiếp tục đập cửa và nài nỉ tôi cho vào, tôi mơ hồ nhận ra được giọng nói. Nghe có chút giống giọng của Emily Ann Offenbach.

“Chờ một phút.” Tôi nói. Lời lẽ của tôi bật ra đặc quánh như mật.

Tôi xốc lại tinh thần, từ từ nhổm dậy, xả nước bồn cầu lần thứ mười và cọ cái lavabo sạch tưng không còn dấu nôn mửa gì hết. Sau đó tôi mở cửa và bước ra ngoài hành lang.

Tôi nghĩ mình sẽ ngã quay lơ nếu nhìn vào Emily Ann hoặc bất cứ ai khác, vì thế tôi ghim ánh mắt vô hồn của mình vào khung cửa sổ đang lộn tùng phèo ở cuối sảnh, trong khi chân bước tới một ô cửa sổ khác.

Vật kế tiếp lọt vào mắt tôi là chiếc giày của ai đó.

Một chiếc giày da rạn màu đen đã cũ với những lỗ li ti hình vỏ sò ở đầu ngón chân và đã được đánh xi. Mũi giày quay về phía tôi. Hình như nó được đặt nằm trên mặt phẳng cứng màu xanh đang làm cho xương gò má phải của tôi bị đau.

Tôi nằm im một chỗ, chờ ai đó bảo cho biết nên làm gì. Tôi lại thấy lơ mơ ngay bên trái chiếc giày là một đống hoa thanh cúc nằm trên một nền trắng, và điều này làm cho tôi muốn la lên. Đó chính là tay của chiếc áo choàng tắm tôi đang mặc, còn bàn tay trái nhợt nhạt như một con cá tuyết của tôi thì đang nắm lấy nó.

“Cô ta ổn rồi.”

Thanh âm văng vẳng từ đâu đó xa xăm lạnh lẽo, lý tính phía trên đầu tôi. Thoạt tiên tôi chẳng nhận ra điều gì bất thường cả, nhưng rồi tôi lại nghĩ khác. Đó là giọng đàn ông, mà không một người đàn ông nào được phép vào khách sạn của chúng tôi bất kể ngày hay đêm.

“Còn mấy người nữa?” Giọng nói đó tiếp tục.

Tôi chăm chú lắng nghe. Sàn phòng xem ra rất mực vững chắc. Thật thoải mái khi biết rằng mình đã ngã rồi và không thể ngã được thêm.

“Tôi nghĩ là mười một người.” Một giọng nữ trả lời. Tôi đoán bà ta đang xỏ chân trong chiếc giày đen. “Tôi nghĩ là còn mười một người nữa, nhưng vắng một cô nên chỉ còn lại mười.”

“Được rồi, bà mang cô này về giường, tôi sẽ lo cho những người còn lại.”

Những tiếng lùng bùng trong tai phải của tôi mỗi lúc một mờ dần. Rồi từ đằng xa, một cánh cửa mở ra, có tiếng người trò chuyện cùng tiếng rên rỉ vọng tới, và cửa đóng sập lại.

Hai tay xốc nách tôi, người phụ nữ nói: “Cố lên nào cưng, một tẹo là xong thôi!” và tôi thấy mình được nâng lên, lướt qua từng ô cửa đang từ từ rộng mở, cuối cùng tới một cánh cửa mở toang và bước vào.

Chăn trên giường đã được vén lên, người phụ nữ đỡ tôi nằm xuống, đắp chăn cho tới tận cằm, ngồi xuống chiếc ghế bành bên cạnh giường một lát, bà dùng bàn tay hồng hào, mũm mĩm phe phẩy thay quạt. Bà mang cặp kính gọng vàng và đội một chiếc mũ y tá màu trắng.

“Bà là…?” Tôi hỏi bằng một giọng yếu ớt.

“Tôi là y tá của khách sạn.”

“Tôi bị làm sao vậy?”

“Ngộ độc,” bà nói ngắn gọn. “Tất cả mấy cô đều bị ngộ độc. Tôi chưa từng thấy chuyện như thế bao giờ. Chỗ này một bãi nôn, chỗ kia một bãi nôn. Không hiểu các quý cô của tôi đã ăn món gì thế?”

“Tất cả những người khác cũng nôn mửa sao?” Tôi ôm ấp một tia hy vọng.

“Tất tần tật,” bà hào hứng khẳng định. “Bệt xề lệt như chó ốm luôn và la khóc đòi mẹ.”

Căn phòng nhẹ nhàng quay mòng mòng xung quanh tôi, như thể bàn ghế, những bức tường tự trở nên không trọng lượng để cảm thông với sự yếu đuối của tôi lúc này.

“Bác sĩ vừa tiêm cho cô xong,” y tá nói khi ra đến cửa. “Cô sẽ ngủ ngay thôi.”

Rồi cánh cửa thế chỗ bà ta như một tờ giấy trắng, rồi một tờ giấy lớn hơn thế chỗ cho cánh cửa, tôi hướng về phía đó, mỉm cười và chìm vào giấc ngủ.

Ai đó đang đứng bên gối tôi, tay cầm một cái chén màu trắng.

“Uống đi,” người ấy nói.

Tôi lắc đầu. Cái gối lạo xạo như một nùi rơm.

“Uống vào cô sẽ thấy khỏe hơn.”

Một chiếc chén sứ dày màu trắng được đưa sát xuống mũi tôi. Trong ánh sáng nhàn nhạt không phân biệt nổi là hoàng hôn hay bình minh, tôi chăm chú nhìn thứ chất lỏng trong như hổ phách. Một lớp váng bơ nổi trên bề mặt và mùi thịt gà thoang thoảng nhập mũi tôi.

Ánh mắt tôi dời sang chiếc váy đằng sau cái chén. “Betsy,” tôi kêu lên.

“Betsy cái khỉ, là tớ đây.”

Tôi ngước mắt lên, thấy mái đầu của Doreen đang in bóng trên song cửa sổ, mái tóc vàng óng phía sau trông tựa vầng hào quang vàng ròng. Khuôn mặt Doreen ẩn trong bóng tối nên tôi không nhận ra biểu cảm của cô, nhưng tôi cũng cảm được sự dịu dàng toát ra từ những đầu ngón tay. Đó cũng có thể là Betsy, là mẹ tôi hoặc một nữ y tá nào đó đượm mùi lá dương xỉ.

Tôi cúi đầu xuống và uống một hớp nước súp. Tôi cứ ngỡ miệng mình làm bằng cát. Tôi uống thêm một hớp, rồi lại một hớp nữa cho tới khi cạn chén.

Tôi cảm thấy như được gột rửa và trở lại tinh khiết, sẵn sàng cho một cuộc đời mới.

Doreen đặt cái chén lên bậu cửa sổ và ngồi xuống ghế bành. Tôi ngạc nhiên nhận thấy cô chẳng hề lấy thuốc ra hút, bởi cô là con nghiện thuốc lá.

“Suýt chết nhá,” cuối cùng cô nàng nói.

“Tớ nghĩ là do món caviar.”

“Caviar cái khỉ! Tại món cua đấy! Họ đã đem đi xét nghiệm, kết quả là nó đã bị nhiễm khuẩn chứa đầy chất độc ptomaine.”

Tôi đã từng tham quan những căn bếp trắng ngần như mây ở trụ sở tạp chí Ladies’ Day, trải dài đến vô tận. Tôi đã thấy những trái bơ nhồi thịt cua và xốt mayonnaise được chụp hình dưới ánh sáng lộng lẫy. Tôi thấy những chiếc càng cua lốm đốm hồng rất quyến rũ dưới lớp mayonnaise, còn những trái bơ thịt vàng, vỏ xanh thì được dùng làm đĩa để đựng cái món hỗn độn ấy.

Chất độc.

“Ai đã xét nghiệm?” Tôi tưởng tượng cảnh ông bác sĩ hút dạ dày của ai đó ra rồi đem phân tích những gì tìm thấy trong phòng thí nghiệm của khách sạn.

“Mấy mụ ở tạp chí Ladies’ Day ấy mà. Ngay khi tất cả các cậu đổ vật ra như những con ki, một ai đó đã gọi điện cho văn phòng và văn phòng lại gọi tới tạp chí. Họ đã xét nghiệm ngay những gì còn thừa lại sau đại tiệc. Hừ!”

“Hừ!” Tôi lặp lại như vẹt. Thật là tuyệt khi Doreen trở lại.

“Họ gửi quà tới,” cô nói thêm. “Chúng ở trong thùng các tông lớn ngoài sảnh kia.”

“Sao chúng được gửi tới nhanh thế nhỉ?”

“Dịch vụ giao hàng hỏa tốc mà, cậu nghĩ sao vậy? Họ không thể chịu được khi cả bọn các cậu đi khắp nơi rêu rao rằng mình bị trúng độc ở tạp chí Ladies’ Day. Thậm chí cậu còn có thể kiện họ trắng tay, rỗng túi luôn nếu cậu có luật sư giỏi đấy.”

“Quà gì thế nhỉ?” Tôi bắt đầu cảm thấy rằng nếu đó là một món quà hậu hĩnh, tôi sẽ bỏ qua hết những gì đã xảy ra, bởi vì giờ đây tôi thấy mình rất thanh khiết.

“Đã ai mở thùng đâu, mọi người còn nằm bệt xà lệt. Tớ phải mang súp đến cho từng người, vì lẽ chỉ có mỗi tớ là còn đứng được trên đôi chân của mình, nhưng tớ mang tới cho cậu trước tiên đấy.”

“Mở xem quà gì đi?” Tôi van vỉ. Sau đó tôi chợt nhớ ra và nói. “Tớ cũng có một món quà tặng cậu đấy.”

Doreen bước ra ngoài sảnh. Tôi nghe tiếng cô lạch cạch một hồi rồi có tiếng giấy bị xé. Cuối cùng cô trở lại với một cuốn sách dày cộp có bìa trơn láng và tên vài người được in trên đó.

“Ba mươi truyện ngắn hay nhất năm.” Cô đặt cuốn sách lên lòng tôi. “Còn mười một cuốn thế này trong thùng. Tớ đoán họ muốn các cậu có cái gì để đọc khi dưỡng bệnh.” Cô ngừng lại. “Quà của tớ đâu?”

Tôi lục túi xách và đưa cho Doreen chiếc gương có viết tên cô và những đóa hoa cúc. Doreen nhìn tôi, tôi nhìn lại rồi cả hai phá lên cười.

“Cậu có thể ăn phần súp của tớ nếu muốn,” cô nói. “Họ dọn nhầm mười hai phần súp ra khay. Lenny và tớ đã chén đẫy hotdog trong khi đang trú mưa, tớ không thể nhét thêm gì vào mồm được nữa.”

“Mang vào đây,” tôi nói. “Tớ đói ngấu rồi.”

Trần Quế Chi (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.