Quả Chuông Ác Mộng

Lượt đọc: 23 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sáu

❊ ❊ ❊

Tôi vẫn nài nỉ Buddy dẫn tôi đi xem những điều thú vị ở bệnh viện, vì thế một ngày thứ Sáu, tôi cúp học để có một kỳ nghỉ cuối tuần dài, nhưng anh ta lại cho tôi một vố nhớ đời.

Thoạt tiên, tôi mặc một chiếc áo khoác trắng và ngồi trên một cái ghế băng cao trong một căn phòng với bốn cái xác chết, nhìn Buddy và đồng nghiệp giải phẫu. Những cái xác này đã không còn ra hình người nên chẳng còn khiến tôi sợ hãi chút nào. Da chúng đã trở nên cứng như da thuộc, đen sậm, và bốc mùi giấm cũ.

Sau đó, Buddy dẫn tôi vào trong một căn phòng lớn nơi đặt vài cái bình thủy tinh cỡ đại, trong đựng đầy xác những đứa bé đã chết trước khi lọt lòng. Đứa bé trong bình thứ nhất có một cái đầu lớn trắng bệch, cúi gập xuống thân mình bé xíu chỉ bằng một con ếch. Đứa bé trong bình kế tiếp lớn hơn một chút, cứ như vậy độ lớn tăng dần cho tới bình cuối cùng, đứa bé trong đó có kích thước bằng đứa trẻ sơ sinh và nhìn tôi mỉm cười như một chú lợn con.

Tôi tự hào về sự bình tĩnh của mình trước những vật thể khủng khiếp này. Lần duy nhất tôi nhảy chồm lên là lúc tôi tựa khuỷu tay vào bụng của xác chết khi quan sát Buddy mổ xẻ một lá phổi. Sau một, hai phút, tôi có cảm giác nóng rực nơi khuỷu tay, nó gợi cho tôi ý nghĩ có lẽ cái xác chưa chết hẳn bởi nó vẫn còn âm ấm, vì thế tôi bật khỏi ghế và thốt lên một tiếng nho nhỏ. Bấy giờ, Buddy mới giải thích cảm giác nóng rát ấy là do chạm phải dung dịch tẩy, tôi bèn trở về chỗ ngồi.

Một tiếng trước giờ ăn trưa, Buddy dẫn tôi đi nghe một buổi thuyết trình về chứng thiếu hồng cầu và một vài chứng bệnh đáng sợ khác, ở đó họ mang những người bệnh vào, đặt nằm trên bục giảng, hỏi dăm ba câu rồi lại đẩy ra, sau đó cho chúng tôi xem những tấm phim chụp màu.

Tôi nhớ có một tấm chụp một cô gái đẹp đang cười, trên má có một nốt ruồi đen. “Hai mươi ngày sau khi nốt ruồi này xuất hiện, cô gái chết.” Vị bác sĩ nói như thế. Cả hội trường im lặng và rồi tiếng chuông reo, vì thế đến giờ tôi vẫn chẳng biết nốt ruồi đó là gì hoặc tại sao cô gái chết.

Buổi chiều, chúng tôi đi xem một đứa trẻ chào đời.

Thoạt tiên chúng tôi tới tủ trang phục ở hành lang bệnh viện, Buddy lấy ra chiếc khẩu trang trắng cho tôi đeo, và một ít băng gạc.

Anh chàng sinh viên Y khoa, to béo như tài tử điện ảnh Sydney Greenstreet, lượn lờ tới gần nhìn Buddy quấn băng quanh đầu tôi, tới khi bít kín hết tóc tai chỉ lộ ra đôi mắt trên chiếc khẩu trang trắng, anh khúc khích cười đùa cợt. “Ít nhất cô còn được mẹ cô yêu.”

Tôi đang bận suy nghĩ về sự béo tốt của anh ta và tự nhủ quá béo đúng là bất hạnh cho một chàng trai, nhất là chàng trai trẻ, bởi vì phụ nữ khó mà vượt qua cái bụng bự ấy để hôn anh ta. Thế nên ngay lúc ấy, tôi không nhận ra điều anh chàng sinh viên vừa nói là một sự sỉ nhục. Về sau, tôi nghĩ rằng chắc hẳn hắn tự cho mình là một gã bảnh bao, và nghĩ ra được một lời cay độc để đáp trả rằng chỉ có mẹ hắn mới yêu nổi một gã mập thì hắn đã đi rồi.

Buddy đang xem xét một tấm bảng gỗ kỳ lạ gắn trên tường, trên đó có đục một hàng lỗ, bắt đầu là một cái lỗ nhỏ bằng đồng xu bạc và lỗ cuối cùng lớn bằng một cái đĩa ăn.

“Hay quá,” anh ta nói với tôi. “Có một người sắp sinh ngay bây giờ.”

Đứng ở cửa phòng hộ sinh là một sinh viên Y khoa gầy gò, lưng gù, quen với Buddy.

“Chào Will,” Buddy nói. “Ai phụ trách ca này thế?”

“Là tớ,” Will uể oải nói, tôi nhận thấy trên vầng trán cao, xanh xao của anh chàng lấm tấm những giọt mồ hôi. “Là tớ, đây là ca đầu tiên của tớ.”

Buddy bảo tôi rằng Will là sinh viên năm ba và phải đỡ đẻ cho tám đứa bé trước khi được công nhận tốt nghiệp.

Sau đó anh ta để ý tới tiếng ồn ào ở cuối hành lang. Một vài người mặc áo choàng xanh biếc, đội mũ bác sĩ đi cùng với một vài nữ y tá đang tiến về phía chúng tôi, đẩy một chiếc xe trên đó có một đống màu trắng lớn. “Cô không nên xem cái này,” Will thì thầm vào tai tôi. “Nếu thấy, cô sẽ không bao giờ muốn có con nữa. Lẽ ra họ không nên cho phụ nữ xem. Vì như vậy chính là sự kết thúc của loài người.”

Buddy và tôi bật cười, sau đó Buddy bắt tay Will và chúng tôi cùng bước vào phòng.

Tôi sửng sốt không nói nên lời khi nhìn thấy cái bàn nơi người ta đặt người phụ nữ. Nó giống như một cái bàn tra tấn khủng khiếp, với những bàn đạp bằng kim loại gắn lơ lửng ở một đầu và đủ loại dụng cụ cùng những ống những dây ở đầu kia.

Buddy và tôi cùng đứng cạnh cửa sổ, cách người phụ nữ vài bước, nơi chúng tôi có thể quan sát khá rõ.

Bụng người đàn bà nhô cao khiến tôi không thể trông thấy khuôn mặt cũng như phần trên của thân hình cô. Dường như cô ta chẳng còn gì ngoài cái bụng khổng lồ như con nhện và đôi chân mảnh khảnh xấu xí treo trên hai cái bàn đạp, trong suốt thời gian sinh nở, cô ta không ngớt gào thét bằng một giọng thảm thiết không còn là của con người.

Về sau, Buddy cho tôi biết cô ta đã được tiêm thuốc làm cho quên hết mọi đau đớn, nên khi la hét và rên rỉ, cô cũng chẳng còn biết mình đang làm gì, giống như trong một giấc ngủ mê man vậy.

Tôi nghĩ rằng thứ thuốc này chỉ có đàn ông mới phát minh ra. Người đàn bà đang đau đớn khủng khiếp, chắc chắn cô ta phải cảm thấy hết mọi thứ, nếu không, cô đã chẳng rên rỉ như vậy. Rồi cô sẽ trở về nhà, lại bắt đầu thai nghén một đứa bé khác, bởi vì thứ thuốc này làm cho cô quên đi đã đau đớn nhường nào, và nỗi đau đớn trong chốn sâu thẳm nhất của cô, cái hành lang kín mít, mù quáng và dài dằng dặc ấy, bất cứ lúc nào cũng chực mở ra để nhốt kín cô lại.

Vị bác sĩ trưởng, người giám sát Will, không ngớt nói với người phụ nữ: “Rặn đi, cô Tomolillo, rặn nữa đi, nào bé ngoan, cố lên!” Và cuối cùng qua kẽ hở giữa đôi chân xanh nhợt vì thuốc sát trùng của cô, tôi thấy một thứ màu sẫm xuất hiện.

“Đầu đứa bé đấy,” Buddy thì thầm giữa tiếng rên rỉ của người mẹ.

Nhưng vì một lý do nào đó, đầu đứa bé bị kẹt lại, vị bác sĩ bảo Will rạch một đường. Tôi nghe tiếng kéo cắt da của người thiếu phụ như cắt vải và máu bắt đầu ào ào tuôn ra - một màu đỏ tươi. Ngay tức khắc đứa bé chừng như bật ra ngoài, lọt vào đôi tay Will, trong một màu mận xanh trộn với chất nhờn màu trắng và những vệt máu đỏ. Will không ngớt la lên bằng một giọng sợ hãi: “Tôi đánh rơi nó mất, tôi đánh rơi nó mất, tôi đánh rơi nó mất.”

“Không sao đâu,” vị bác sĩ vừa nói vừa đón đứa bé trên tay Will và bắt đầu xoa bóp cho nó, màu xanh biến mất, đứa bé bắt đầu khóc bằng một giọng khàn khàn, đáng thương, tôi nhận ra đó là một bé trai.

Điều đầu tiên đứa bé làm là tè thẳng vào mặt của vị bác sĩ. Sau này, tôi bảo Buddy rằng tôi không thể tưởng tượng được điều đó, nhưng anh bảo điều đó vẫn có thể xảy ra, dù không thường xuyên.

Ngay khi đứa bé vừa chào đời, mọi người trong phòng chia thành hai nhóm, các cô y tá buộc một tấm thẻ bằng kim loại vào cổ tay của đứa bé, lau mắt cho nó bằng một đầu tăm quấn bông, bọc đứa bé lại rồi đặt nó vào trong chiếc nôi vải nhỏ. Trong khi vị bác sĩ và Will bắt đầu dùng kim và một sợi chỉ dài khâu vết cắt của người mẹ.

Một người nào đó nói: “Là con trai, cô Tomolillo,” nhưng người mẹ không trả lời, cũng chẳng ngẩng đầu lên.

“Em thấy thế nào?” Buddy hỏi với một vẻ hài lòng khi chúng tôi đi qua khoảng sân màu xanh để về phòng anh.

“Tuyệt,” tôi nói. “Em có thể xem những điều như vậy hằng ngày.”

Tôi những muốn hỏi anh liệu còn cách nào khác cho đứa bé chào đời không. Vì một lý do nào đó, điều quan trọng nhất đối với tôi lúc này là được thấy tận mắt đứa trẻ sinh ra từ chính bụng ta và đích thực nó là con của ta. Tôi nghĩ ta vẫn có thể tỉnh táo dù phải chịu tất cả những nỗi đau đớn này.

Tôi luôn luôn tưởng tượng ra cảnh bản thân gồng mình trên khuỷu tay trên bàn sinh lúc mọi sự đã xong xuôi - mặt trắng bệch sau khi trải qua một thử thách khủng khiếp, dĩ nhiên là không chút trang điểm, nhưng khuôn mặt lại mỉm cười và rạng rỡ, tóc xõa ngang lưng, tay ôm ấp đứa con đầu lòng và gọi tên nó, bất kể là tên gì.

“Tại sao nó lại bê bết bột thế?” Tôi hỏi để tiếp tục câu chuyện và Buddy nói cho tôi nghe về chất sáp có tác dụng bảo vệ da cho trẻ sơ sinh.

Chúng tôi trở lại phòng của Buddy, nơi gợi cho tôi nhớ đến phòng của một thầy tu, với những bức tường, giường và sàn nhà trống không, bàn làm việc chất đầy sách Giải phẫu học của Gray và những cuốn dầy cộp khác. Buddy thắp nến và mở một chai Dubonnnet. Chúng tôi nằm bên nhau, Buddy nhấm nháp từng hớp rượu, còn tôi đọc lớn bài Một nơi nào tôi chưa từng đến[1] và những bài khác trong tập thơ mà tôi mang theo.

Buddy bảo rằng chắc phải có một điều gì đó trong thi ca mới khiến một cô gái như tôi phải bỏ hết thời gian vào đó, vì vậy mỗi lần gặp nhau tôi sẽ đọc cho anh nghe vài bài thơ và giải thích cho anh ta hiểu những gì tôi cảm nhận trong đó. Đó là ý kiến của Buddy. Anh ta luôn sắp xếp kỳ nghỉ cuối tuần sao cho chúng tôi không thấy tiếc vì đã lãng phí thời giờ. Bố của Buddy là thầy giáo, tôi nghĩ Buddy cũng có thể trở thành giáo viên, anh ta luôn cố giải thích mọi việc cho tôi hiểu và giới thiệu cho tôi những kiến thức mới.

Bất thình lình, sau khi tôi đọc xong một bài thơ, anh nói: “Esther, em đã bao giờ thấy một người đàn ông chưa?”

Cách nói của anh ta khiến tôi hiểu rằng anh không nói đến một người đàn ông hay cánh đàn ông nói chung, tôi hiểu anh ám chỉ một người đàn ông trần truồng.

“Chưa,” tôi đáp. “Chỉ những bức tượng thôi.”

“Tốt! Vậy em có muốn thấy anh không?”

Tôi không biết phải nói sao. Mẹ và bà ngoại tôi luôn ám chỉ Buddy ngoan ngoãn và tử tế thế nào, rằng anh xuất thân từ một gia đình danh giá, mọi người ở nhà thờ đều nói anh là người đàn ông kiểu mẫu, luôn lễ phép với cha mẹ và người lớn tuổi, lại còn khỏe mạnh, đẹp trai và thông minh nữa.

Tất cả những gì tôi nghe về Buddy đều cho thấy anh ta là một người đàng hoàng, tử tế và với người thế này, một cô gái cũng phải phải cư xử đàng hoàng và tử tế. Vì thế tôi thực sự không thấy một chút nguy hiểm nào trong bất cứ điều gì Buddy định làm.

“Ồ, tốt thôi, em nghĩ vậy,” tôi nói.

Tôi nhìn chằm chằm vào Buddy trong khi anh ta kéo khóa quần xuống, cởi hẳn ra rồi ném lên ghế, sau đó anh cởi luôn quần lót làm bằng một thứ vải như lưới nylon.

“Loại này rất mát mẻ,” anh ta giải thích. “Mẹ anh bảo rằng nó cũng dễ giặt.”

Sau đó anh ta đứng trước mặt tôi, còn tôi thì cứ nhìn chằm chằm vào anh. Điều duy nhất mà tôi có thể nghĩ tới là cái cổ và mề của một con gà tây và tôi thấy hết sức chán nản.

Buddy hơi phật ý vì tôi chẳng nói gì cả.

“Anh nghĩ em nên quen với việc nhìn anh thế này,” anh ta nói. “Bây giờ cho anh thấy em!”

Nhưng chuyện cởi đồ trước mặt Buddy đột nhiên làm tôi liên tưởng tới việc chụp ảnh các tư thế ở trường, khi đó ta như phải trần truồng đứng trước ống kính, và ta biết rõ rằng mình trần truồng, cả ảnh chụp chính diện lẫn chụp trông nghiêng, và được lưu lại trong hồ sơ thể chất của trường để đánh giá A, B, C, hoặc D tùy theo tư thế mạnh mẽ của ta.

“Ồ, để dịp khác đi,” tôi nói.

“Cũng được,” Buddy mặc quần áo vào.

Sau đó, chúng tôi hôn nhau và ôm ghì lấy nhau một lúc, tôi liền cảm thấy khá hơn. Tôi uống nốt chỗ Dubonnet còn lại, ngồi bắt chéo chân cuối giường của Buddy và hỏi mượn một cái lược. Tôi bắt đầu chải tóc rũ xuống mặt để Buddy không nhìn thấy nó. Bất chợt tôi hỏi: “Anh đã làm chuyện ấy với ai chưa Buddy?”

Tôi không hiểu điều gì đã khiến tôi nói vậy, lời lẽ cứ đột nhiên tuôn ra khỏi miệng. Tuyệt nhiên tôi chẳng dám nghĩ Buddy đã làm chuyện ấy với bất cứ ai. Tôi mong anh sẽ nói: “Không, anh giữ mình nguyên vẹn đến khi nào cưới được một người trong trắng và trinh bạch như em.”

Nhưng Buddy không nói gì, mặt đỏ lên.

“Sao, có chưa?”

“Ý em chuyện ấy nghĩa là gì?” Buddy hỏi lại bằng một giọng giả tạo.

“Anh biết rồi còn gì, anh đã bao giờ ngủ với ai chưa?” Tôi rũ tóc xuống phía mặt gần với Buddy nhất và cảm thấy một luồng điện chạy qua đôi má nóng bỏng của mình khiến tôi muốn la lên “Thôi, thôi, đừng kể cho em, đừng nói gì hết.” Nhưng tôi không nói. Tôi vẫn im lặng.

“Có, anh đã làm chuyện ấy rồi.” Cuối cùng Buddy nói.

Tôi gần như gục xuống. Từ đêm đầu tiên Buddy Willard hôn tôi và nói rằng hẳn tôi đã đi chơi với hàng tá con trai, anh làm tôi tin rằng mình phóng đãng, có kinh nghiệm hơn anh ta nhiều, mọi hành động của Buddy như ôm hôn, âu yếm đối với tôi chẳng qua chỉ là chuyện bột phát, anh chẳng đừng được và cũng không hiểu làm thế nào mà nó xảy ra.

Lúc này tôi mới hiểu suốt thời gian đó anh ta chỉ ngây thơ cụ mà thôi.

“Kể cho em chuyện đó đi,” tôi chậm chạp chải đi chải lại mái tóc, cảm thấy từng cái răng lược đâm sâu vào má. “Ai vậy?”

Buddy thở phào nhẹ nhõm vì tôi không tức giận. Thậm chí anh còn nhẹ cả người vì có dịp bộc lộ với người khác về chuyện mình đã bị quyến rũ như thế nào.

Dĩ nhiên là người quyến rũ Buddy, chứ anh không đâu bắt đầu chuyện đó trước nên anh ta thực ra không có lỗi. Đó chính là ả hầu phòng tại khách sạn nơi anh làm bồi bàn phụ mùa hè năm ngoái tại Cape Cod. Buddy để ý cô ả hay nhìn mình không chớp mắt và hay ưỡn cặp vú về phía mình lúc lộn xộn ở trong bếp, cuối cùng một hôm anh ta hỏi thẳng cô ả về chuyện đó, cô ả nhìn thẳng vào mắt anh và nói: “Em muốn anh.”

“Ăn kèm rau mùi tây chứ?” Buddy ngây thơ cười lớn.

“Không,” cô ả nói. “Một đêm nào đó.”

Thế là Buddy đánh mất sự trong trắng và trinh tiết của mình.

Thoạt tiên tôi cứ tưởng anh ta chỉ ngủ với ả hầu phòng có một lần duy nhất, nhưng khi tôi hỏi rằng bao nhiêu lần cho chắc ăn, anh ta trả lời là không nhớ nổi, độ đôi lần một tuần suốt mùa hè còn lại. Tôi lấy ba nhân mười là ba mươi, một con số vượt ngoài sức tưởng tượng.

Sau lần gặp này, một điều gì đó trong tôi chợt đông cứng lại.

Quay lại trường, tôi bắt đầu hỏi các sinh viên lớp trên xem họ sẽ làm gì nếu một gã trai đột nhiên cho họ biết là mình đã ngủ ba mươi lần với một ả hầu phòng đàng điếm suốt mùa hè. Nhưng họ nói phần lớn bọn con trai đều vậy, bạn không có tư cách gì hoạch họe chúng, chí ít là cho đến khi hai người gắn bó keo sơn hoặc đã hứa hôn cùng nhau.

Thực ra, chẳng phải ý nghĩ Buddy ngủ với ai đó khiến tôi phiền lòng. Tôi muốn nói là mình đã đọc nhiều về chuyện trai gái lên giường với nhau, và nếu bữa ấy là một gã con trai nào khác, tôi sẽ đơn giản là hỏi anh ta về những chi tiết thú vị nhất, để rồi có thể chính tôi sẽ đi chơi và ngủ với một ai đó, lấy lại thăng bằng, rồi bỏ qua mọi chuyện.

Điều tôi không chịu được là Buddy vẫn giả vờ cho rằng tôi quá phóng đãng còn anh ta thì thanh khiết, trong khi anh ta đã làm chuyện ấy bao lần với ả hầu phòng đàng điếm và ắt hẳn đang thích thú cười vào mặt tôi.

“Mẹ anh nghĩ sao về cô hầu phòng ấy?” Tôi hỏi Buddy cuối tuần ấy.

Buddy gần gụi với mẹ một cách đáng ngạc nhiên. Anh ta luôn luôn trích dẫn những gì bà nói về quan hệ trai gái, và tôi biết bà Willard là một mẫu người cuồng tín về chữ trinh của cả nam lẫn nữ. Khi tôi tới nhà bà ăn tối lần đầu tiên, bà nhìn tôi một cách quái lạ, săm soi, dò xét, tôi hiểu là bà đang cố gắng tra cứu xem tôi có còn trinh tiết hay không.

Đúng như tôi nghĩ, Buddy tỏ ra bối rối thú nhận: “Mẹ có hỏi anh về Gladys.”

“Ồ, thế anh nói sao?”

“Anh bảo Gladys còn tự do, da trắng và mới hai mươi mốt tuổi.”

Giờ tôi đã biết Buddy không bao giờ nói chuyện với mẹ một cách sỗ sàng như vậy về tôi. Anh ta luôn lặp cách bà nói: “Đàn ông cần một người bạn, đàn bà cần vô hạn an toàn,” hoặc “đàn ông là mũi tên bắn vào tương lai, còn đàn bà là nơi phóng mũi tên đó.” Tôi phát mệt với những câu nói ấy.

Mỗi lần tôi cố tranh luận, Buddy đều nói rằng mẹ anh ta vẫn hài lòng về chồng mình, chẳng phải đó là điều tuyệt vời với những người đã ngần ấy tuổi sao, điều đó có nghĩa là bà biết rõ cái gì ra cái nấy.

Cuối cùng tôi đã quyết định chia tay với Buddy Willard vĩnh viễn, không phải vì anh ta đã ngủ với một cô hầu phòng, mà vì anh ta không thành thực thừa nhận điều đó với mọi người và không dám đối diện với nó như tính cách của anh vẫn vậy. Lúc đó chuông điện thoại ngoài sảnh reo vang và một giọng nói nhỏ nhẹ đều đều cất lên: “Gọi cậu đấy, Esther, từ Boston.”

Tôi biết ngay là có gì đó không ổn, bởi vì Buddy là người duy nhất ở Boston mà tôi quen biết, anh ta không bao giờ gọi điện thoại đường dài cho tôi, vì cước phí rất đắt so với gửi thư. Một lần, có việc muốn nhắn tôi gấp, anh ta đã quanh quẩn ở cổng trường Y, dò hỏi xem có ai lái xe đến trường tôi vào ngày nghỉ cuối tuần không, rồi khi tìm được người, anh bèn gửi nhờ một lá thư mà tôi nhận được ngay trong ngày. Thậm chí anh ta còn chẳng hề mất tiền tem.

Đúng là Buddy thật. Anh ta cho biết trong đợt khám hàng năm, kết quả chụp X-quang cho thấy anh mắc lao phổi, anh sẽ nhận được trợ cấp dành cho các sinh viên Y khoa mắc bệnh lao đến một nơi chữa trị ở Adirondacks. Sau đó anh ta bảo tôi đã không viết thư cho anh ta kể từ cuối tuần trước, hy vọng là sẽ không có chuyện gì xảy ra giữa chúng tôi. Rồi xin tôi viết thư cho anh ta mỗi tuần một lá, và đến thăm anh ta tại nơi chữa trị vào kỳ nghỉ Giáng sinh được không?

Tôi chưa bao giờ thấy Buddy buồn bã đến thế. Anh ta vốn rất tự hào về sức khỏe hoàn hảo của mình và luôn bảo rằng chứng viêm xoang và khó thở của tôi là do phương diện tâm lý gây ra. Tôi cho rằng đây là thái độ kỳ lạ đối với một bác sĩ, có lẽ anh ta nên học để trở thành bác sĩ tâm lý mới đúng, nhưng dĩ nhiên là tôi không nói ra.

Tôi bảo Buddy là mình rất lấy làm tiếc về căn bệnh lao và hứa sẽ viết thư, nhưng khi gác máy, tôi chẳng thấy buồn chút nào cả. Tôi chỉ thấy như trút được gánh nặng.

Tôi nghĩ bệnh lao phổi có thể là một hình phạt cho kiểu sống lá mặt lá trái của Buddy mà lúc nào cũng tỏ ra hơn người. Bây giờ cũng vừa tiện lúc để tôi khỏi cần báo cho mọi người biết là mình đã cắt đứt quan hệ với Buddy, và lại bắt đầu lần nữa cái công việc buồn nản của những cuộc hẹn hò xem mặt.

Tôi chỉ đơn giản nói cho mọi người biết là Buddy mắc bệnh lao và chúng tôi trên thực tế là đã hứa hôn. Khi tôi ở lại học mỗi tối thứ Bảy, họ đều đối xử tử tế với tôi vì cho rằng tôi hết sức kiên cường, ra sức học hành để giấu đi một trái tim tan vỡ.

❀ ❀ ❀

[1] Tên bài thơ Somewhere i have never travelled, gladly beyond của nhà thơ Mỹ E.E. Cummings (1894-1962).

Trần Quế Chi (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.