Quả Chuông Ác Mộng
Tặng Elizabeth và David

Quả Chuông Ác Mộng

Lượt đọc: 23 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Một

❊ ❊ ❊

Đó là một mùa hè dị thường, ngột ngạt và oi bức, mùa hè mà người ta đưa vợ chồng nhà Rosenberg lên ghế điện, còn tôi thì chẳng biết mình đang làm gì ở New York nữa. Tôi mù tịt về những vụ hành hình. Ý nghĩ phải lên ghế điện làm tôi phát ốm, nhưng đó là tất cả những gì có thể đọc được từ những tiêu đề giật gân trên báo chí cứ đập vào mắt tôi nơi các góc phố và ở mỗi lối xuống ga tàu điện ngầm ẩm mốc bốc mùi đậu phộng. Chúng chẳng liên quan gì đến tôi, nhưng tôi không thể không tự hỏi sẽ như thế nào khi các dây thần kinh bị thiêu sống.

Tôi nghĩ đó hẳn là điều kinh khủng nhất trần đời.

New York quả thực tồi tệ. Tầm 9 giờ sáng, sự tươi mát ẩm ướt giả tạo rỉ ra trong đêm đã tan biến như đoạn kết của một giấc mơ ngọt ngào. Chỉ còn lại vẻ xám xịt dưới đáy các thung lũng hoa cương, những con đường nóng rẫy loang loáng dưới ánh mặt trời, những mui xe kêu ri rỉ và lấp lánh sáng, bụi khô như than đỏ đâm vào mắt, tràn vào tận họng.

Tôi vẫn tiếp tục nghe về nhà Rosenberg trên radio nhiều đến nỗi khi ở văn phòng làm việc tôi không thể dứt bỏ nó ra khỏi tâm trí. Cũng giống như lần đầu tiên tôi nhìn thấy xác chết. Nhiều tuần sau, cái đầu thi thể - hay đúng hơn là những gì còn sót lại của nó - cứ lềnh bềnh lên món trứng và thịt nguội trong bữa sáng và đằng sau là gương mặt của Buddy Willard, người phải chịu trách nhiệm vì đã chỉ cho tôi thấy nó đầu tiên. Ngay sau đó, tôi cảm thấy như lúc nào cũng phải mang bên mình cái đầu lâu lơ lửng trên một sợi dây, tựa như một quả bong bóng màu đen không có mũi, hôi mùi giấm.

(Tôi biết mình có gì đó không ổn vào mùa hè ấy, bởi lúc nào tôi cũng chỉ nghĩ tới vụ án nhà Rosenberg và tôi ngu ngốc hết mức khi mua một lô quần áo đắt tiền, nhưng không chút tiện dụng nào chỉ để treo đầy tủ, và tất cả những thành công nho nhỏ mà tôi đã hạnh phúc khi gặt hái được ở trường trở nên vô nghĩa hoàn toàn khi đứng trước những cửa hiệu bằng đá cẩm thạch và kính, dọc theo đại lộ Madison.)

Tôi phải tận hưởng thời khắc đẹp đẽ của cuộc đời.

Tôi phải trở thành đối tượng ghen tị của hàng ngàn nữ sinh viên đại học ở khắp nước Mỹ, những cô gái không có mong muốn gì hơn là được dạo chơi với đôi giày da bóng cỡ số bảy mà tôi đã mua ở hiệu Bloomingdale nhân một lần đi ăn trưa, cùng với chiếc thắt lưng và túi xách đồng màu da đen bóng. Rồi khi ảnh tôi xuất hiện trên tờ tạp chí, nơi mười hai đứa chúng tôi đang làm việc, uống martini ở Starlight Roof, mình mặc áo yếm lấp lánh ánh kim cùng chiếc váy phồng bằng vải tulle trắng, được vây quanh bởi nhóm thanh niên xa lạ với cấu trúc xương kiểu Mỹ, thuê riêng cho những dịp thế này - hẳn mọi người sẽ cho rằng tôi đang quay cuồng thực sự.

Họ sẽ bảo, hãy nhìn xem cái gì đang xảy ra ở cái đất nước này. Một cô gái tỉnh lẻ sống ở vùng sâu vùng xa nào đó suốt mười chín năm trời, nghèo đến nỗi không mua nổi một tờ tạp chí, đột nhiên nhận được một học bổng đại học, rồi giành hết giải thưởng này sang giải thưởng khác, và tạo ảnh hưởng ở New York ngon lành như thể lái chiếc xe riêng của mình vậy.

Chỉ có điều tôi chẳng lái cái gì cả, kể cả bản thân mình. Tôi chỉ đi từ khách sạn đến nơi làm việc hoặc các bữa tiệc, rồi lại từ các bữa tiệc trở về khách sạn và tiếp tục đi làm như một chiếc xe điện tê cóng. Tôi nghĩ mình cũng có thể bị kích động như phần lớn những cô gái khác, nhưng tôi không thể tự phản ứng lại được. Tôi cảm thấy rất bình yên và trống trải tựa như mắt bão khi di chuyển một cách chậm chạp giữa tiếng mưa gào gió thét xung quanh.

Mười hai đứa chúng tôi đều ở khách sạn.

Chúng tôi vừa đoạt giải trong kỳ thi do một tạp chí thời trang tổ chức dự thi những bài luận, truyện ngắn, thơ và quảng cáo thời trang. Giải thưởng là một công việc ở New York trong vòng một tháng, mọi chi phí đều đã được đài thọ, thêm vào đó là hàng lô hàng lốc những món thưởng khác: vé ba lê, xem trình diễn thời trang, làm tóc tại một tiệm danh tiếng và cơ hội gặp được những người thành đạt trong lĩnh vực mà chúng tôi mơ ước, để nhận được những lời khuyên thích hợp với mình.

Tôi vẫn còn giữ cái hộp trang điểm mà họ đã tặng, vốn hợp với một cô nàng mắt nâu tóc vàng: một lọ mascara màu nâu với bàn chải nhỏ xíu, một ô phấn mắt màu xanh hình tròn chỉ vừa đủ lớn bằng đầu ngón tay, và ba thỏi son môi từ đỏ đến hồng, tất cả đều đặt trong một cái hộp nhỏ mạ vàng, mặt trong có kèm gương. Tôi cũng có một cái hộp đựng kính mát bằng nhựa trắng, được khảm xà cừ đủ màu và đính một con sao biển bằng nhựa màu xanh lá cây.

Tôi nhận ra rằng việc trao tặng những món quà này chính là cách quảng cáo miễn phí của các doanh nghiệp, nhưng tôi không thể không giữ chúng. Tôi từng hất văng tất cả những món quà trong tầm tay. Suốt một thời gian dài, tôi giấu biệt chúng đi, nhưng rồi khi bình tâm lại, tôi lôi chúng ra và bày khắp nhà. Đôi khi tôi dùng son môi, và mới tuần trước tôi đã cắt con sao biển bằng nhựa khỏi bao kính để làm đồ chơi cho một đứa bé.

Cả bọn mười hai đứa chúng tôi đều ở khách sạn, cùng một bên dãy ở cùng một tầng gồm các phòng đơn. Phòng nọ kế tiếp phòng kia làm cho tôi nhớ đến các phòng ở ký túc xá. Đây không phải là một khách sạn đúng nghĩa - tôi muốn nói đến khách sạn mà đàn ông và đàn bà ở lẫn lộn trên cùng một tầng.

Khách sạn Amazon này chỉ dành cho phái nữ, phần lớn là những cô gái cùng lứa tuổi tôi, gia cảnh giàu có, mong ước cho con gái mình sống ở một nơi mà bọn đàn ông không thể lui tới và lừa dối được: tất cả bọn họ đều theo học những trường sang trọng chuyên đào tạo thư ký như Katy Gibbs, nơi họ phải mang mũ, tất dài và găng tay đến lớp; hoặc những người vừa tốt nghiệp các trường như Katy Gibbs và trở thành thư ký cho các ủy viên cao cấp, và cứ quanh quẩn ở New York mong tìm được một anh chàng thành đạt nào đó để kết hôn.

Với tôi, những cô gái này buồn tẻ một cách khủng khiếp. Tôi thấy họ nằm phơi nắng, vừa ngáp vừa sơn móng tay và cố giữ cho làn da Bermuda rám nắng, nom họ nhạt nhẽo chết đi được. Tôi lân la tán chuyện với một người trong đám, cô nàng cho biết đã chán ngấy những chiếc thuyền buồm, chán ngấy những chuyến du hành bằng máy bay, và cả việc đi trượt tuyết ở Thụy Sĩ vào dịp Giáng sinh lẫn cánh đàn ông ở Brazil nữa.

Đám con gái đó làm tôi phát ốm. Họ khiến tôi ghen tỵ nhưng không dám nói thành lời. Mười chín tuổi đầu, tôi chưa từng bước chân ra khỏi New England trừ chuyến đi New York này. Đây là cơ hội lớn đầu tiên của tôi, thế nhưng giờ đây, nó đang như những giọt nước dần dần trôi tuột qua kẽ tay.

Tôi nghĩ một trong những phiền nhiễu của tôi chính là Doreen.

Tôi chưa từng quen một đứa con gái nào như Doreen. Cô nàng tới từ một trường nữ sinh dành cho giới thượng lưu ở miền Nam. Cô có mái tóc bạch kim bồng bềnh như một cây kẹo bông quanh đầu, cặp mắt xanh như hai viên mã não trong trẻo, cô cứng cỏi, thanh lịch và ương ngạnh, nụ cười giễu cợt luôn nhếch trên môi. Tôi không cho rằng đó là sự cay độc, mà là kiểu giễu nhại, pha chút thần bí, như thể tất cả mọi người xung quanh đều ngốc nghếch và cô ta có thể buông lời bỡn cợt họ bất cứ lúc nào.

Doreen để mắt tới tôi ngay lập tức. Cô làm tôi cảm thấy mình sắc sảo hơn mọi người, còn cô lại là con người rất hài hước. Doreen thường ngồi cạnh tôi mỗi lần hội họp và khi những vị khách danh tiếng tới thăm phát biểu, cô ta thì thầm vào tai tôi mấy lời nhận xét châm chọc tếu táo.

Cô ta bảo với tôi rằng trường của cô ta rất chú trọng chuyện thời trang. Tất cả nữ sinh phải có túi xách may cùng một loại với quần áo, thành thử mỗi lần thay đồ lại phải đổi túi xách cho phù hợp. Kiểu chi tiết tỉ mỉ này khiến tôi rất ấn tượng. Nó biểu thị một cuộc sống tuyệt diệu, xa hoa mà suy đồi, và thu hút tôi như một thanh nam châm.

Lần duy nhất mà Doreen hoạch họe tôi là về chuyện hoàn thành công việc đúng thời hạn.

“Cậu đổ mồ hôi cho việc đó làm gì?” Doreen hỏi, cô nàng mặc nguyên bộ đồ bằng tơ màu hồng đào ngả ngốn trên giường tôi, lấy một miếng giấy ráp giũa những móng tay dài vàng khè vì nicotin, trong khi tôi đánh máy lại bài phỏng vấn một tiểu thuyết gia thuộc dạng best-seller.

Đó lại là chuyện khác - còn thường thì chúng tôi khoác những bộ quần áo ngủ mùa hè bằng vải bông và áo choàng mặc ở nhà, hoặc có thể là những loại áo dài bằng vải kiểu mặc ngoài bãi biển. Duy có Doreen mới mặc những loại áo cực mỏng hay bằng ren gần như trong suốt, hoặc váy áo màu da, khiến người cô lúc nào cũng lách tách tình điện. Ở cô có một điểm thú vị nữa là luôn phảng phất một mùi mồ hôi hấp dẫn gợi tôi nhớ tới mùi hương khi ta vò nát những chiếc lá dương xỉ hình quạt giữa các ngón tay.

“Cậu nên biết mụ Jay Cee sẽ không nổi điên lên nếu cậu gác câu chuyện này đến mai hoặc thứ Hai đâu.” Doreen châm một điếu thuốc và nhả khói chầm chậm qua lỗ mũi, khiến đôi mắt cô trở nên mơ hồ.

“Mụ Jay Cee xấu như quỷ,” Doreen lạnh lùng nói tiếp. “Mình dám cá là lão chồng già của mụ phải tắt hết đèn trước khi gần gũi mụ, bằng không lão sẽ phát nôn ngay.”

Jay Cee là sếp của tôi, và tôi rất quý bà, bất kể Doreen có nói gì đi nữa. Bà không phải là loại người phù phiếm vẫn thường thấy trên các tạp chí thời trang với hàng lông mi giả và đồ trang sức hào nhoáng. Jay Cee là người có đầu óc, nên vẻ xấu xí của bà xem ra chẳng có gì hệ trọng cả. Bà nói được vài thứ tiếng và biết rõ những tay viết cứng cựa trong nghề.

Tôi cố hình dung ra cảnh bà Jay Cee cởi bộ đồng phục cứng nhắc cùng chiếc mũ dự tiệc, lên giường với lão chồng béo ị của bà, nhưng không tài nào hình dung được. Tôi luôn luôn rất khó khăn khi phải tưởng tượng ra cảnh người ta đang ngủ với nhau.

Jay Cee luôn muốn dạy dỗ tôi, tất cả những bà lớn tuổi khác mà tôi quen biết đều như vậy, nhưng tôi cho rằng họ chẳng có điều gì để chỉ bảo tôi cả. Tôi đóng nắp máy chữ rồi khóa lại.

Doreen cười nhăn nhở: “Thông minh đấy!”

Chợt có tiếng gõ cửa.

“Ai đấy?” Tôi không buồn đứng dậy.

“Betsy đây. Cậu có đi dự tiệc không?”

“Chắc có đấy.” Tôi vẫn không ra mở cửa.

Betsy được đưa thẳng từ Kansas về đây cùng mái tóc hoe vàng tết kiểu đuôi ngựa và nụ cười kiểu những cô nàng thiện tâm. Tôi nhớ một lần hai đứa chúng tôi được mời tới văn phòng của một đạo diễn truyền hình mặc bộ đồ sọc, để xem thử có góc độ nào nơi chúng tôi khả dĩ phù hợp với một chương trình của ông không. Và Betsy bắt đầu nói về loại ngô đực ngô cái ở Kansas. Cô nàng hào hứng với thứ ngô chết tiệt này đến mức nhà đạo diễn phải rưng rưng mắt lệ, nhưng sau đó ông ta nói rằng lấy làm tiếc bởi chẳng có gì hữu dụng cả.

Sau này, người phụ trách thẩm mỹ thuyết phục Betsy cắt tóc và cho cô nàng lên bìa báo, tôi thi thoảng còn thấy khuôn mặt của cô đang tươi cười trên mẫu quảng cáo “Vợ của PQ mặc đồ nhà BH. Wragge.”

Betsy lúc nào cũng rủ tôi làm việc cùng cô và vài cô nàng khác nữa, cứ như thể đang cố cứu vớt tôi không bằng. Cô chẳng bao giờ rủ Doreen cả. Doreen lén gọi riêng với tôi là con nhỏ cao bồi Pollyanna.

“Cậu có muốn đi cùng taxi với bọn tớ không?” Betsy hỏi vọng vào.

Doreen lắc đầu.

“Được rồi, Betsy.” Tôi nói. “Tớ sẽ đi cùng với Doreen.”

“Ừ!” Tôi nghe tiếng Betsy đi xuống đại sảnh.

“Tụi mình ghé qua một lát, khi nào oải quá thì về.” Doreen bảo tôi, dụi tắt điếu thuốc lá vào đế cây đèn đọc. “Rồi tụi mình xuống phố. Những buổi tiệc tùng ở đây làm mình nhớ lại những lần khiêu vũ trong phòng thể chất ở trường. Tại sao chúng nó cứ phải bám lấy bọn Yale? Chúng ngốc bỏ xừ!”

Buddy Willard đã tới Yale học, giờ nghĩ lại, tôi thấy vấn đề của Buddy đúng là anh ta ngốc thật. Ồ, anh ta đã xoay xở để đạt thành tích tốt, và rồi có quan hệ lăng nhăng với một cô hầu bàn vớ vẩn ở Cape tên là Gladys. Nhưng anh ta không có một chút trực giác nào. Doreen thì trực giác rất tốt. Mọi điều cô nói ra đều giống như đi guốc trong bụng tôi.

Chúng tôi bị tắc đường bởi giờ mở cửa nhà hát. Chiếc taxi của chúng tôi chen vào giữa đuôi xe của Betsy với mũi một chiếc xe khác chở bốn cô gái, không nhích lên được chút nào.

Doreen trông rất tuyệt. Cô mặc một chiếc váy bằng ren trắng, khóa kéo tới tận chiếc áo nịt ngực, chiếc váy bó sát lấy eo thon phô diễn những đường cong ở cả ba vòng trên cơ thể, làn da Doreen mịn màng được thoa một lớp phấn nhạt, cả người cô ngào ngạt mùi nước hoa.

Còn tôi thì mặc một cái váy lụa Sơn Đông màu đen giá bốn mươi đô la. Một trong những thứ tôi mua bằng tiền học bổng ngay khi biết tin mình là một trong những người may mắn được đi New York. Cái váy được thiết kế kỳ cục tới độ tôi không thể mặc coóc xê bên trong, nhưng điều đó không có gì quan trọng bởi tôi gầy nhom như một cậu nhóc, cả người hầu như chẳng có lấy đường cong nào. Hơn nữa tôi thích cảm thấy gần như khỏa thân trong những đêm hè nóng nực.

Cuộc sống nơi thành thị đã làm nước da rám nắng của tôi nhợt nhạt dần. Tôi trở nên vàng vọt như một người Trung Hoa. Bình thường tôi có thể sẽ lo lắng về trang phục và màu da kỳ quặc của mình, nhưng đi cùng Doreen làm tôi quên mọi lo lắng. Tôi cảm thấy khôn ngoan và hài hước hết sức.

Khi trông thấy gã đàn ông mặc sơ mi xanh, quần đen và đi đôi bốt cao bồi bằng da thuộc tiến lại từ hàng hiên, nơi hắn không rời mắt khỏi chiếc taxi, tôi không có một ảo tưởng nào hết. Tôi thừa hiểu là hắn tới đón Doreen. Hắn len lỏi giữa những chiếc xe đang dừng bánh, đến tựa một cách duyên dáng vào cửa xe đang mở của chúng tôi.

“Tôi có vinh dự được biết hai quý cô xinh đẹp đang làm gì một mình trong taxi vào một đêm tuyệt vời như thế này không?”

Hắn cười toét cả miệng, để lộ hàm răng trắng muốt như một quảng cáo kem đánh răng.

“Chúng tôi đang trên đường tới dự một bữa tiệc,” tôi buột miệng nói, vì Doreen đột nhiên ngây như phỗng và lúng túng đùa nghịch với cái nắp ví màu trắng.

“Nghe thật nhàm chán!” Hắn nói. “Sao hai cô không cùng tôi tới quán bar đằng kia làm vài ly? Tôi cũng có vài người bạn đang chờ ở đó.”

Rồi hắn gật gật đầu về phía một đám người ăn mặc tùy tiện đang tụ tập dưới hàng hiên. Họ đang dõi mắt theo và phá lên cười khi thấy hắn liếc về phía họ.

Lẽ ra tiếng cười ấy đã cảnh báo tôi. Đó là một tiếng cười thâm trầm ra vẻ ta đây, nhưng lúc này các phương tiện giao thông đã bắt đầu có thể tiếp tục di chuyển, tôi biết nếu mình cứ ngồi yên, chỉ hai giây thôi, tôi sẽ hối hận vì bỏ lỡ cơ hội để hiểu thêm về một New York, ngoài những gì được người ta sắp xếp một cách cẩn thận cho chúng tôi được thấy trên các tạp chí.

“Cậu nghĩ sao Doreen?” Tôi hỏi.

“Em nghĩ sao, Doreen?” Gã đàn ông lặp lại, vẫn nụ cười rộng mở trên môi. Đến giờ tôi chịu không nhớ nổi hắn trông thế nào lúc không cười. Tôi nghĩ chắc lúc nào hắn cũng cười thì phải. Cười như thể một điều tất lẽ dĩ ngẫu với hắn vậy.

“Thôi cũng được.” Doreen nói với tôi. Tôi mở cửa và chúng tôi bước ra khỏi taxi đúng lúc nó sắp sửa tiếp tục nhích về phía trước, rồi đi về phía quán bar.

Có tiếng bánh xe phanh cháy đường rít lên, rồi uỳnh uỳnh hai tiếng.

“Này mấy cô,” gã tài xế của chúng tôi ló đầu ra khỏi xe, mặt tím bầm vì giận. “Mấy cô làm trò gì vậy?”

Gã ngừng xe đột ngột khiến chiếc xe sau đụng phải, và chúng tôi có thể thấy bốn cô gái trên đó xô nhau ngã dúi dụi xuống sàn.

Gã đàn ông cười lớn, bỏ chúng tôi bên lề đường rồi quay lại trả tiền cho người tài xế giữa tiếng còi xe và la hét inh ỏi, sau đó chúng tôi trông thấy mấy cô gái ở tạp chí theo nhau xuống xe, mấy chiếc taxi nối đuôi nhau như trong một lễ cưới chỉ gồm toàn phù dâu.

“Đi nào, Frankie,” gã đàn ông nói với một người bạn trong nhóm, và một gã lùn xủn tách ra, đi vào quán rượu với chúng tôi.

Gã này thuộc tuýp người mà tôi không thể chịu nổi. Tôi cao khoảng một mét bảy tám lúc đi chân không, khi tôi đứng bên người đàn ông thấp bé, tôi phải khom người và nghiêng hông bên thấp bên cao cho có vẻ lùn hơn, và tôi cảm thấy mình như một kẻ vụng về và yếu ớt vậy.

Trong thoáng chốc tôi có một hy vọng điên rồ là chúng tôi sẽ bắt cặp theo vóc dáng, tôi sẽ cặp với gã đàn ông đã trò chuyện với chúng tôi lúc đầu và rõ ràng là hắn phải cao trên mét tám, nhưng hắn đã tiến về phía Doreen và chẳng thèm liếc qua tôi một lần. Tôi vờ như không thấy Frankie đang bám sát lấy tôi, và ngồi xuống kế bên Doreen.

Quán rượu tối đến nỗi tôi không nhìn thấy nổi cái gì ngoài Doreen. Với mái tóc bạch kim và chiếc váy trắng, trông cô nàng như tạc bằng bạc. Tôi nghĩ ánh đèn neon trong quán đã tạo nên hiệu ứng ấy. Còn tôi thì cảm thấy mình đang tan chảy vào trong bóng tối như thể một âm bản của một người tôi chưa từng gặp trong đời.

“Chúng ta uống gì nhỉ?” Gã đàn ông hỏi, vẫn với nụ cười cởi mở.

“Tớ nghĩ là sẽ uống một ly cổ điển.” Doreen nói với tôi.

Việc gọi đồ uống luôn khiến tôi bối rối. Tôi thậm chí còn không phân biệt nổi whisky và gin, cũng như chẳng ưa gì hương vị của chúng. Buddy Willard và mấy anh chàng khác ở trường mà tôi quen đều nghèo mạt, làm gì có tiền mua rượu mạnh, hoặc giả họ cũng coi thường việc nhậu nhẹt. Thật đáng ngạc nhiên là các anh chàng sinh viên chẳng hề rượu chè hút xách gì thì tôi biết ráo cả. Lần xôm nhất là hôm Buddy Willard mua một chai Dubonnet; anh chàng làm vậy chỉ để thể hiện rằng mình cũng có khiếu thẩm mỹ dẫu chỉ là một gã sinh viên y khoa.

“Cho tôi một ly vodka.” Tôi nói.

Gã đàn ông nhìn sát tôi hơn. “Có pha gì không?”

“Nguyên chất.” Tôi nói “Tôi luôn luôn uống nguyên chất.”

Tôi nghĩ mình sẽ tự làm trò cười khi nói uống kèm đá, gin hoặc một thứ gì đó. Tôi mới xem quảng cáo rượu vodka có một lần, một ly đầy vodka ở giữa một miền tuyết trắng dưới ánh sáng màu xanh, ly vodka trông trong suốt và tinh khiết như nước, vì thế tôi cho rằng gọi vodka không pha là ổn cả thôi. Niềm mơ ước của tôi là một ngày nào đó gọi thứ đồ uống này và cảm nhận được hương vị tuyệt vời của nó.

Người hầu bàn bước đến, gã đàn ông gọi đồ uống cho cả bọn. Hắn xem ra hết sức tự nhiên thoải mái trong quán rượu này đến nỗi tôi nghĩ đây hẳn là một người khá nổi tiếng.

Doreen không nói một câu nào, cô nàng đang đùa nghịch với chiếc nút chai và cuối cùng châm một điếu thuốc, nhưng gã đàn ông dường như không để ý. Hắn cứ tiếp tục nhìn cô nàng theo kiểu người ta ngắm một con chim anh vũ trắng ở sở thú, chờ nó cất lên tiếng người.

Đồ uống được mang tới, ly của tôi trông trong suốt và tinh khiết y hệt trong quảng cáo.

“Anh làm nghề gì?” Tôi hỏi gã đàn ông để phá vỡ sự yên lặng đang bủa vây quanh tôi như giữa rừng cỏ dại. “Ý tôi là anh đang làm gì ở New York này?”

Gã đàn ông chầm chậm ra vẻ rất miễn cưỡng rời mắt khỏi bờ vai Doreen: “Tôi là DJ,” hắn nói. “Có lẽ cô đã nghe nói đến. Tôi tên là Lenny Shepherd.”

“Tôi biết anh rồi.” Doreen bất chợt nói.

“Anh rất sung sướng khi nghe vậy cưng ạ!” Gã đàn ông nói rồi phá lên cười. “Điều đó cũng tự nhiên thôi. Anh nổi tiếng chết đi được.”

Sau đó Lenny Shepherd nhìn Frankie hồi lâu.

“Này, mấy em từ đâu tới?” Frankie hỏi và đột nhiên ngồi thẳng dậy. “Em tên gì nhỉ?”

“Đây là Doreen,” Lenny luồn tay mình qua cánh tay trần của Doreen và ôm chặt cô nàng.

Điều làm tôi ngạc nhiên là Doreen vờ như không thấy hành động này của anh ta. Cô chỉ ngồi đó, mù mịt như một ả da đen tóc hoe trong chiếc váy trắng, nhấm nháp ly nước của mình.

“Em là Elly Higginbottom.” Tôi nói. “Em từ Chicago đến.” Nói xong tôi cảm thấy vững tâm hơn. Tôi không muốn bất cứ điều gì mình nói hoặc làm đêm hôm đó liên quan đến tên thật và gốc gác của tôi ở Boston.

“Tuyệt, Elly! Chúng ta nhảy vài bản chứ?”

Ý nghĩ phải nhảy với một gã lùn tịt đi đôi giày da lộn màu cam, mặc một chiếc áo thun bần tiện và áo khoác thể thao màu xanh lòng thòng khiến tôi bật cười. Nếu có một điều gì khiến tôi phải khinh rẻ, thì đó là một gã mặc quần áo màu xanh. Đen, xám hoặc nâu thì còn tàm tạm. Nhưng màu xanh thì thật buồn cười.

“Em đang không có hứng nhảy nhót.” Tôi lạnh lùng đáp, rồi quay lưng lại phía gã, dịch ghế tới gần Doreen và Lenny.

Anh ả trông cứ như đã biết nhau từ lâu lắm rồi. Doreen đang dùng chiếc thìa bạc xúc những miếng trái cây ở dưới đáy ly, còn Lenny thì lầm bầm mỗi lúc thấy cô nàng đưa thìa lên miệng, lại còn đóng giả làm một con cún hay đại loại thế, cố đớp miếng trái cây khỏi chiếc thìa. Doreen cười khúc khích và cứ tiếp tục xúc trái cây.

Rốt cuộc tôi bắt đầu cho rằng vodka là đồ uống thích hợp nhất với tôi. Tư vị nó không giống bất cứ thứ gì khác, lao thẳng vào dạ dày như một diễn viên xiếc vừa nuốt lưỡi gươm, khiến tôi thấy mình mạnh mẽ như thần thánh.

“Tôi phải đi đây.” Frankie nói và đứng dậy.

Tôi không trông thấy gã rõ lắm vì trong quán hơi tù mù, nhưng lần đầu tiên tôi nghe gã cao giọng với vẻ ngu ngốc như vậy. Chẳng ai thèm để ý tới gã.

“Này, Lenny, cậu còn nợ tớ đấy nhé! Cậu nhớ còn nợ tớ cái gì không Lenny?”

Tôi nghĩ thật lạ lùng khi Frankie đòi nợ Lenny ngay trước mặt chúng tôi, những người hoàn toàn xa lạ, nhưng Frankie cứ đứng đó nhắc đi nhắc lại cho đến khi Lenny thò tay vào túi và lôi ra một nắm giấy bạc xanh, rút một tờ đưa cho Frankie. Tôi nghĩ đó là tờ mười đô la.

“Câm mồm và biến đi.”

Trong một thoáng, tôi nghĩ Lenny cũng bảo cả tôi như thế, nhưng rồi tôi nghe Doreen nói: “Em sẽ không đi đâu hết nếu không có Elly.” Tôi phải chắp tay bái phục cái cách cô nàng xướng lên cái tên giả của tôi.

“Ồ, Elly sẽ đi chứ, phải không em?” Lenny vừa nói vừa nháy mắt với tôi.

“Chắc chắn em sẽ đi.” Tôi nói. Frankie đã cuốn xéo trong màn đêm, vì thế tôi nghĩ mình sẽ theo đuôi Doreen. Tôi muốn nhìn càng nhiều càng tốt.

Tôi thích quan sát kẻ khác trong những hoàn cảnh nguy kịch. Nếu xảy ra một tai nạn giao thông, một vụ đánh nhau ngoài phố hay một đứa bé bị ngâm trong bình thí nghiệm mà tôi trông thấy, tôi luôn luôn đứng lại và nhìn kỹ đến mức không bao giờ quên.

Chắc chắn tôi đã học được nhiều điều mà nhẽ ra tôi không thể biết nếu chẳng dùng cách này, kể cả khi chúng làm cho tôi ngạc nhiên hay phát ốm, tôi cũng không để lộ ra, và vẫn vờ như đó là phương cách trước giờ giúp tôi biết được mọi việc.

Trần Quế Chi (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.