Quả Chuông Ác Mộng

Lượt đọc: 23 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Mười Chín

❊ ❊ ❊

“Tớ sẽ làm bác sĩ tâm thần.”

Joan nói với cái giọng khào khào kích động như thường lệ. Chúng tôi ngồi uống rượu táo trong phòng đợi ở Belsize.

“Ồ!” Tôi nói khô khốc. “Hay đấy.”

“Tớ đã nói chuyện rất lâu với bác sĩ Quinn, bà ấy cho là điều đó hoàn toàn khả thi.” Bác sĩ Quinn là bác sĩ tâm thần của Joan, một quý bà độc thân thông minh sáng láng, tôi thường nghĩ rằng nếu mình được giao phó cho bác sĩ Quinn thì tôi sẽ mãi ở Caplan hoặc tệ hơn nữa, ở Wymark. Bác sĩ Quinn có lối suy nghĩ trừu tượng làm Joan thấy thích thú, nhưng ngược lại chỉ khiến tôi lạnh gáy.

Joan tiếp tục luyên thuyên về Cái tôi và Bản ngã, còn tâm trí tôi đã quay sang chuyện khác, về cái hộp bọc giấy nâu vừa mở ở ngăn kéo dưới cùng. Tôi không bao giờ nói chuyện về Cái tôi và Bản ngã với bác sĩ Nolan. Thật ra tôi cũng không biết chúng tôi trò chuyện gì nữa.

“…Bây giờ tớ sẽ ở khu ngoại trú.”

Tôi quay sang Joan. “Ở đâu cơ?” Tôi dò hỏi, cố giấu nỗi ganh tị.

Bác sĩ Nolan cho biết trường đại học sẽ nhận tôi trở lại vào học kỳ hai này, theo lời đảm bảo của bà và học bổng của bà Philomena Guinea, nhưng vì các bác sĩ không đồng ý để tôi sống với mẹ trong thời gian này, nên tôi vẫn ở bệnh viện cho đến kỳ nghỉ đông.

Nhưng ngay cả thế, tôi vẫn cảm thấy không công bằng khi Joan được rời khỏi đây trước mình.

“Ở đâu?” Tôi vật nài. “Họ không thể để cậu sống một mình, đúng không?” Đến tuần này, Joan mới được phép vào thành phố trở lại.

“Ồ, dĩ nhiên là không rồi. Tớ sống ở Cambridge với cô y tá Kennedy. Bạn cùng phòng của cô ấy cưới chồng nên cô ấy cần người khác đến sống cùng.”

“Chúc mừng cậu.” Tôi nâng ly rượu táo và chúng tôi chạm ly. Mặc dù có đôi chút thành kiến với Joan, nhưng tôi vẫn quý mến cô. Như thể chúng tôi bị va đập vào nhau trong một vòng quay không thể chống đỡ, như chiến tranh hay bệnh dịch, và cùng chia sẻ thế giới riêng của chúng tôi.

“Bao giờ cậu đi?”

“Đầu tháng sau.”

“Hay lắm.”

Joan bỗng đăm chiêu. “Cậu sẽ đến thăm tớ chứ Esther?”

“Tất nhiên.”

Nhưng trong bụng lại thầm nghĩ “chưa chắc.”

***

“Đau quá,” tôi nói, “nhất định phải đau sao?”

Irwin không đáp. Rồi anh ta bảo: “Đôi khi cũng đau.”

Tôi gặp Irwin ở cầu thang nơi thư viện Widener Library. Tôi đang đứng ở đầu cầu thang dài, nhìn lên những ngôi nhà gạch đỏ bao quanh sân phủ đầy tuyết và chuẩn bị đón chuyến xe buýt trở lại bệnh viện thì một thanh niên cao, đeo kính, có khuôn mặt xấu xí nhưng khá thông minh, bước đến và nói: “Xin cô xem giúp mấy giờ rồi ạ?”

Tôi liếc nhìn đồng hồ đeo tay: “4 giờ 5 phút.”

Chàng trai chuyển đống sách vở từ tay này sang tay kia như một khay đồ ăn trước bụng và để lộ cổ tay gầy trơ xương.

“Ồ, cô cũng đúng giờ như cái đồng hồ vậy.”

Chàng trai buồn rầu nhìn đồng hồ của mình. Anh ta rút nó ra đưa lên tai lắc lắc. “Không chạy.” Anh ta mỉm cười thân thiện. “Cô đi đâu thế?”

Tôi định nói: “Trở về nhà thương điên,” nhưng anh chàng trông đầy hứa hẹn nên tôi đổi ý. “Về nhà.”

“Cô dùng một chút cà phê trước đã nhé?”

Tôi lưỡng lự. Tôi phải trở về ăn tối ở bệnh viện và tôi không muốn về quá muộn đến nỗi bị gạch tên khỏi đó mãi mãi.

“Một tách cà phê rất nhỏ được chứ?”

Tôi quyết định thực hành nhân cách bình thường mới của mình với anh chàng này, và trong khi tôi còn do dự, anh ta đã giới thiệu mình tên là Irwin và là một giáo sư Toán học được đãi ngộ rất cao, vì thế tôi nói: “Được thôi!” và bắt nhịp cùng những sải bước của Irwin, thong thả bước xuống cầu thang dài phủ băng tuyết bên cạnh anh ta.

Chỉ sau khi nhìn thấy phòng làm việc của Irwin, tôi mới quyết định quyến rũ anh ta.

Irwin sống trong một căn hộ tầng trệt u ám nhưng tiện lợi trong một con phố xập xệ ở ngoại vi Cambridge, anh ta chở tôi đến đó - để uống bia, anh ta nói vậy - sau ba tách cà phê đen ở một quán cà phê sinh viên. Chúng tôi ngồi trong phòng làm việc trên những chiếc ghế bọc da nâu, giữa những giá sách bụi bặm chật cứng, những cuốn sách khó hiểu với hàng đống công thức khổng lồ đính vào một cách đầy nghệ thuật như những bài thơ.

Trong khi tôi đang ngồi nhấm nháp ly bia đầu tiên - tôi chưa bao giờ thật sự cần uống bia lạnh giữa mùa đông, nhưng tôi cần thứ gì đó đủ nặng để giữ trong tay - thì có tiếng chuông cửa reo.

Irwin dường như rất lúng túng: “Anh nghĩ có lẽ là một phu nhân.”

Irwin có một thói quen ngộ nghĩnh cố hữu gọi phụ nữ là các phu nhân.

“Hay lắm, hay lắm.” Tôi vung tay ra hiệu. “Để bà ấy vào.”

Irwin lắc đầu: “Em sẽ làm bà ấy bối rối.”

Tôi mỉm cười nhìn vào ly bia lạnh màu hổ phách.

Chuông cửa lại vang lên cùng một tiếng đập mạnh dứt khoát. Irwin thở dài và đứng dậy mở cửa. Ngay khi anh ta vừa biến mất, tôi lao vào nhà tắm và trốn sau tấm mành bẩn thỉu xỉn màu, liếc trộm khuôn mặt khắc khổ của Irwin qua khe cửa.

Một phu nhân cao lớn người Slav, với bộ ngực bự trong chiếc áo len lông cừu to sụ, quần rộng màu tím, giày cao gót màu đen có cổ giày bằng lông cừu Ba Tư và đội mũ vải đồng màu, lúng búng thều thào và thở khói trắng vào không khí buốt giá. Giọng của Irwin trôi dạt tới tai tôi qua hành lang lạnh lẽo.

“Anh xin lỗi. Olga… anh đang làm việc, Olga… Không, anh không nghĩ vậy, Olga.” Trong lúc đó, đôi môi đỏ của vị phu nhân mấp máy và những lời nói biến thành làn khói trắng bồng bềnh, bay lên giữa những cành tử đinh hương trơ trụi bên cửa. Rồi cuối cùng, “Có lẽ vậy Olga… Tạm biệt, Olga.”

Tôi ngưỡng mộ bộ ngực bao la như thảo nguyên của phu nhân khi bà lùi lại từng chút một, đi xuống cầu thang bằng gỗ kêu kẽo kẹt, một chút chua xót xứ Siberi còn vương trên đôi môi ướt mọng.

“Tôi đoán anh có cả tá phi vụ tình ái nho nhỏ ở Cambridge.” Tôi vui vẻ nói với Irwin, vừa dùng ghim khảy ốc trong một tiệm ăn Pháp ở Cambridge.

“Anh có rất có duyên với các phu nhân.” Irwin công nhận với một nụ cười tủm tỉm khiêm tốn.

Tôi cầm cái vỏ ốc rỗng và mút sạch chỗ nước màu lục bên trong. Tôi không biết làm như vậy có đúng không, nhưng sau hàng tháng chịu đựng thực đơn tẻ ngắt không suy suyển ở bệnh viện, tôi rất thèm bơ.

Tôi gọi điện thoại công cộng cho bác sĩ Nolan và xin phép được qua đêm ở Cambridge với Joan. Dĩ nhiên tôi không biết Irwin có mời tôi về nhà anh ta sau bữa tối không, nhưng tôi nghĩ việc anh ta từ chối phu nhân người Slav - vợ một giáo sư nào đó - có vẻ rất hứa hẹn.

Tôi ngửa cổ uống cạn một ly Nuits-St-Georges.

“Em có vẻ thích rượu vang.” Irwin nhận xét.

“Chỉ Nuits-St-Georges thôi. Em hình dung ra ông ta… với những con rồng…”

Irwin nắm lấy tay tôi.

Tôi từng mong người đàn ông đầu tiên ngủ với mình hẳn phải rất thông minh, như thế tôi sẽ kính trọng anh ta. Irwin là một giáo sư thực thụ từ năm hai mươi sáu tuổi, anh ta có nước da nhợt nhạt, nhẵn nhụi của một thần đồng. Tôi cũng cần một người có kinh nghiệm để bù vào chỗ thiếu hụt của mình, và những phu nhân của Irwin đảm bảo với tôi điều ấy. Vả lại, tôi yên trí khi người đó không quen biết tôi và sẽ không đòi biết thêm về tôi - giống trong những câu chuyện về lễ nghi của các bộ lạc, người ta tìm các nhân viên giao tế, hay các thầy tư tế.

Đến tối khuya thì tôi không còn nghi ngờ gì về Irwin nữa.

Từ khi hiểu ra trò bẩn thỉu của Buddy Willard, khái niệm trinh tiết như gánh nặng đè lên cổ tôi. Đã quá lâu tôi hằng tâm niệm chữ trinh đáng giá ngàn vàng, khiến cho tôi phải bảo vệ nó bằng mọi giá. Tôi đã bảo vệ nó năm năm nay và tôi phát ốm vì nó.

Mãi đến khi Irwin bế xốc tôi đang mê mụ và sóng sượt vì rượu lên, khi đã trở lại nhà anh ta, và mang tôi vào phòng ngủ tối om, tôi mới thì thào với Irwin: “Anh biết không, Irwin, em nghĩ là phải nói cho anh biết, em hãy còn trinh.”

Irwin bật cười và đặt tôi xuống giường.

Vài phút sau, một tiếng kêu ngạc nhiên tiết lộ rằng Irwin đã không thực sự tin tôi. Tôi nghĩ mình thật may mắn vì vừa bắt đầu thực hành biện pháp ngừa thai lúc ban ngày, bởi vì trong tình trạng say xỉn đêm ấy, tôi sẽ chẳng thèm bận tâm đến ca phẫu thuật cần kíp và phức tạp kia. Tôi nằm trên tấm chăn thô của Irwin, sung sướng và trần trụi, chờ tận hưởng sự biến đổi diệu kỳ.

Nhưng tôi chỉ cảm thấy đau nhói dữ dội.

“Đau quá,” tôi nói, “nhất định phải đau sao?”

Irwin không đáp. Rồi anh ta bảo: “Đôi khi cũng đau.”

Một lát sau Irwin đứng dậy và đi vào nhà tắm rồi tôi nghe tiếng vòi sen xả nước. Tôi không biết Irwin đã hoàn thành việc anh ta định làm chưa, hay trinh tiết của tôi đã cản trở anh ta. Tôi muốn hỏi anh ta xem mình có còn trinh không, nhưng tôi cảm thấy quá bối rối. Một thứ chất lỏng âm ấm rỉ ra giữa hai chân tôi. Thận trọng, tôi thử chạm tay vào nó.

Khi tôi hướng tay lên khe sáng rọi vào từ nhà tắm, đầu ngón tay tôi thẫm lại.

“Irwin,” tôi lo lắng gọi, “đem cho em cái khăn.”

Irwin trở lại, một chiếc khăn tắm quấn ngang eo và ném cho tôi một chiếc nhỏ hơn. Tôi nhét cái khăn vào giữa hai chân mình một thoáng rồi kéo ra lập tức. Nó sẫm lại một nửa vì máu.

“Em bị chảy máu!” Tôi thông báo và ngồi dậy.

“Ồ, điều đó thường xảy ra mà,” Irwin trấn an tôi. “Em sẽ ổn thôi.”

Rồi câu chuyện về ga trải giường dính máu đêm tân hôn và những viên nhộng chứa mực đỏ của cô dâu đã thất trinh thoáng hiện trong đầu tôi. Tôi băn khoăn không biết mình sẽ chảy bao nhiêu máu và lại nằm xuống, giữ chặt chiếc khăn. Tôi chợt nghĩ máu chính là câu trả lời cho bản thân. Tôi không còn là một trinh nữ. Tôi mỉm cười trong bóng tối. Tôi cảm thấy mình là một phần của một truyền thống vĩ đại.

Tôi len lén đắp một cái khăn trắng sạch vào vết thương, nghĩ thầm ngay khi máu ngừng chảy, tôi sẽ đáp chuyến tàu điện cuối cùng về bệnh viện. Tôi muốn tĩnh tâm suy nghĩ kỹ về tình trạng mới của mình. Nhưng cái khăn sẫm lại và ướt sũng.

“Em… nghĩ mình nên về nhà.” Tôi yếu ớt nói.

“Đừng về sớm thế.”

“Không, em nghĩ là mình nên về.”

Tôi hỏi mượn Irwin một chiếc khăn và gấp nó như một cái băng đặt giữa hai đùi. Rồi tôi mặc bộ đồ len của mình vào. Irwin đề nghị đưa tôi về nhà, nhưng tôi thấy không thể để anh ta chở tôi về bệnh viện được, vì thế tôi lục tìm địa chỉ của Joan trong sổ tay. Irwin biết đường và ra khởi động xe. Tôi quá lo lắng đến nỗi không dám nói với Irwin rằng tôi vẫn còn bị chảy máu. Tôi vẫn hy vọng từng phút rằng nó sẽ ngừng chảy.

Nhưng khi Irwin chở tôi qua những con phố vắng lặng phủ đầy tuyết, tôi cảm thấy dòng máu âm ấm thấm qua cái khăn với váy rồi chảy xuống ghế xe.

Khi chúng tôi giảm tốc độ, dò tìm qua từng ngôi nhà sáng đèn, tôi nghĩ thật may mắn vì mình đã không từ bỏ trinh tiết khi còn sống ở trường đại học hay ở nhà, vì sẽ không thể bưng bít được như thế này.

Joan mở cửa với vẻ mặt ngạc nhiên vui mừng. Irwin hôn tay tôi và nhờ Joan chăm sóc tôi cẩn thận.

Tôi tựa lưng vào cánh cửa vừa đóng lại, cảm thấy máu rút xuống khỏi khuôn mặt đỏ bừng.

“Sao vậy Esther?” Joan hỏi, “có chuyện quái gì thế?”

Tôi tự hỏi Joan có nhận ra máu đang nhỏ giọt xuống chân tôi, ri rỉ dinh dính trong đôi giày giả da đen của tôi từ khi nào. Tôi nghĩ mình có thể chết vì một vết thương đạn bắn, còn Joan cứ đứng nhìn chằm chằm xuyên qua người tôi bằng đôi mắt vô hồn, chờ tôi đề nghị một tách cà phê với bánh sandwich.

“Cô y tá có đây không?”

“Không, cô ta trực đêm ở Caplan.”

“Tốt rồi.” Tôi khẽ cười cay đắng khi một đợt máu khác trào qua tấm khăn lót ướt đẫm và bắt đầu lặng lẽ len lỏi vào trong giày tôi. “Tớ muốn nói… ngược lại.”

“Trông cậu kỳ quá.” Joan nói.

“Cậu nên gọi một bác sĩ.”

“Sao vậy?”

“Nhanh lên.”

“Nhưng…”

Cô ta vẫn chưa nhận thấy gì.

Tôi cúi xuống, lầm bầm và tụt một chiếc giày Bloomingdale đen khô nứt ra. Tôi cầm chiếc giày lên, trước đôi mắt như hai viên đá cuội to tướng của Joan, tôi nghiêng giày và nhìn Joan quan sát dòng máu trút xuống tấm thảm len thỏ.

“Chúa ơi, cái gì vậy?”

“Tớ bị xuất huyết.”

Joan nửa dìu nửa kéo tôi đến chiếc sofa và đặt tôi nằm xuống. Rồi cô ta nhét mấy chiếc gối dưới đôi chân bê bết máu của tôi. Đoạn cô ta đứng dậy và hỏi: “Người đó là ai?”

Trong một thoáng điên rồ, tôi nghĩ Joan sẽ từ chối gọi bác sĩ nếu tôi không thú nhận mọi chuyện với Irwin buổi tối hôm đó và sau câu chuyện của tôi, cô ta vẫn từ chối gọi bác sĩ như một kiểu trừng phạt. Nhưng sau đó, tôi nhận thấy cô ta thành thực chấp nhận lời giải thích qua loa của tôi, cũng như việc tôi ngủ với Irwin là chuyện hoàn toàn khó hiểu đối với cô ta, và sự hiện diện của anh ta chỉ là một cái gai trong niềm vui vì có tôi đến thăm.

“Ồ, ai mà chẳng được.” Tôi phác một cử chỉ gạt bỏ yếu ớt. Lại một dòng máu nữa trào ra và tôi co thắt bụng vì hoảng hốt. “Lấy cho tớ một cái khăn.”

Joan chạy ra và trở lại tức khắc với một đống khăn tắm và ga giường. Như một y tá thực thụ, Joan cởi bộ đồ đẫm máu của tôi ra và thở hổn hển khi chạm đến cái khăn lót đỏ thẫm máu, đặt vào một cái băng sạch. Tôi nằm, cố làm chậm nhịp tim đập, vì mỗi một nhịp đập lại đẩy ra một đợt máu.

Tôi nhớ lại một tiểu thuyết thời kỳ Victoria kể rằng hết người đàn bà này đến người đàn bà khác chết trong khi tuôn máu xối xả sau một ca đẻ khó, tái nhợt và cao quý. Có lẽ Irwin đã làm tôi bị thương bằng một cách kinh khủng, mờ ám nào đó, và suốt thời gian nằm trên chiếc tràng kỷ của Joan, tôi đang thực sự hấp hối.

Joan kéo một chiếc gối quỳ Ấn Độ ra và bắt đầu quay số gọi những bác sĩ Cambridge trong bảng danh sách tổng đài. Số thứ nhất không trả lời. Joan bắt đầu giải thích trường hợp của tôi cho số thứ hai, người ta trả lời, nhưng Joan đột nhiên ngắt lời và nói: “Tôi hiểu” rồi gác máy.

“Có vấn đề gì vậy?”

“Ông ta chỉ đến khám khách hàng quen và trường hợp cấp cứu. Chủ nhật mà.”

Tôi cố nhấc cánh tay lên để xem đồng hồ, nhưng nó nặng như đá bên người tôi và chẳng hề nhúc nhích. Chủ nhật, thiên đàng của bác sĩ! Bác sĩ ở câu lạc bộ đồng quê, bác sĩ đi tắm biển, bác sĩ với tình nhân, bác sĩ với vợ, bác sĩ đi nhà thờ, bác sĩ trên du thuyền, bác sĩ mọi nơi. Họ là ai chứ nào phải bác sĩ.

“Vì Chúa,” tôi nói, “hãy bảo họ rằng đây là một ca cấp cứu.”

Số thứ ba không trả lời. Số thứ tư, họ treo máy ngay khi vừa nghe Joan nói tới kỳ kinh nguyệt, Joan bắt đầu khóc.

“Joan này,” tôi chậm rãi nói, “gọi bệnh viện công địa phương. Bảo họ đây là một ca cấp cứu. Họ sẽ phải nhận tớ.”

Joan phấn chấn và quay số thứ năm. Phòng cấp cứu hứa sẽ cử một bác sĩ trực chăm nom nếu tôi có thể đến đó. Rồi Joan gọi taxi.

Joan nhất quyết đòi đi cùng. Tôi giữ chặt cái khăn lót mới với nỗi tuyệt vọng trong khi người lái xe, ấn tượng bởi địa chỉ mà Joan nói, cua gấp hết ngã tư này đến ngã tư khác và đỗ xịch trước phòng cấp cứu với tiếng thắng xe rít khủng khiếp.

Tôi mặc Joan trả tiền taxi rồi hấp tấp chạy vào căn phòng trống sáng trưng. Một y tá chạy ra từ sau tấm rèm trắng. Bằng vài lời vắn tắt, tôi kể cho cô ta nghe sự thật về tình trạng của mình trước khi Joan vào phòng, mắt chớp chớp và mở lớn như một con cú cận thị.

Bác sĩ phòng cấp cứu thong thả bước ra, với sự giúp đỡ của một cô y tá, tôi trèo lên bàn khám. Cô y tá thì thầm với bác sĩ và bác sĩ gật đầu, rồi ông bắt đầu tháo những cái khăn đẫm máu. Tôi cảm thấy những ngón tay của ông bắt đầu thăm dò, còn Joan thì đứng nghiêm như một người lính bên cạnh, cầm tay tôi vì để trấn an tôi hay chính bản thân cô ta, tôi cũng không biết nữa.

“Ối!” Tôi co rúm lại vì một cú thọc mạnh rất đau.

Bác sĩ huýt gió.

“Cô là trường hợp một trên một triệu.”

“Ông nói vậy có nghĩa là sao?”

“Tôi muốn nói trong một triệu người thì chỉ có một người bị như thế này.”

Bác sĩ hạ giọng, cộc lốc ra lệnh cho y tá, cô ta vội vã đến bàn bên, đem lại mấy cuộn bông gạc và những dụng cụ bằng bạc. “Tôi có thể thấy rõ vấn đề là do đâu.” Bác sĩ cúi xuống.

“Nhưng ông có thể chữa được không?”

Bác sĩ cười: “Ồ, tôi chữa được, sẽ ổn thôi.”

***

Tôi bị đánh thức bởi một tiếng đập cửa. Đã quá nửa đêm và bệnh viện yên lặng như tờ. Tôi không tưởng tượng được ai còn thức giờ này.

“Cứ vào!” Tôi bật ngọn đèn bên cạnh.

Cửa bật mở và mái tóc sẫm linh hoạt của bác sĩ Quinn thò qua khe cửa. Tôi ngạc nhiên nhìn bà, tuy tôi biết bà và thường gật đầu khẽ chào khi đi qua bà trong phòng đợi bệnh viện, nhưng tôi chưa bao giờ nói chuyện với bà.

Bà nói: “Cô Greenwood, tôi có thể vào một lát được không?”

Tôi gật đầu.

Bác sĩ Quinn bước vào, nhẹ nhàng đóng cánh cửa sau lưng. Bà mặc bộ đồ màu xanh hải quân với chiếc áo blu trắng như tuyết, cổ chữ V.

“Tôi rất tiếc phải làm phiền cô, nhất là giữa đêm thế này, nhưng tôi nghĩ cô có thể giúp chúng tôi về việc của Joan.”

Trong một thoáng tôi chợt nghĩ phải chăng bác sĩ Quinn sẽ đổ cho tôi trách nhiệm về việc Joan phải trở lại viện tâm thần. Tôi vẫn không rõ Joan đã biết được những gì, nhưng vài ngày sau chuyến đi tới phòng cấp cứu, cô ta phải quay về Belsize, tuy vậy vẫn được đặc quyền tự do vào thành phố.

“Tôi sẽ làm những gì có thể.” Tôi nói với bác sĩ Quinn.

Bác sĩ Quinn ngồi xuống mép giường với bộ mặt trang nghiêm. “Chúng tôi muốn biết Joan đang ở đâu. Tôi nghĩ có lẽ cô biết.”

Bỗng nhiên tôi muốn cắt đứt mọi liên hệ với Joan. “Tôi không biết.” Tôi lạnh lùng nói. “Cô ấy không có trong phòng sao?”

Lúc ấy đã quá giờ giới nghiêm của Belsize khá lâu.

“Không, tối nay Joan được phép đi xem phim trong thành phố, mà cô ấy chưa trở lại.”

“Cô ấy đi với ai?”

“Cô ấy đi một mình.” Bác sĩ Quinn ngừng lại, “cô có biết Joan có thể nghỉ đêm ở đâu không?”

“Chắc chắn cô ấy sẽ trở lại. Hẳn là có chuyện gì đó giữ chân cô ấy.” Nhưng tôi không biết chuyện gì có thể giữ chân Joan trong đêm Boston yên lành.

Bác sĩ Quinn lắc đầu. “Chuyến tàu điện cuối cùng đã đi qua đây một tiếng trước.”

“Có lẽ cô ấy sẽ trở về bằng taxi.”

Bác sĩ Quinn thở dài.

“Chị đã thử gọi tới khu nữ sinh trường Kennedy chưa?” Tôi hỏi tiếp. “Joan từng sống ở đấy mà?”

Bác sĩ Quinn gật đầu.

“Thế gia đình cô ấy?”

“Ồ cô ấy không bao giờ đến đó… Nhưng chúng tôi đã thử.”

Bác sĩ Quinn ngập ngừng một lát, như thể bà có thể đánh hơi thấy một manh mối nào đó trong căn phòng tĩnh lặng. Rồi bà nói: “Ôi, đành cố gắng hết sức xem sao,” rồi bỏ đi.

Tôi tắt đèn và cố gắng ngủ lại, nhưng khuôn mặt Joan cứ bập bềnh trước mặt, không có thân mình và mỉm cười như một con mèo Cheshire. Tôi thậm chí còn nghĩ rằng mình nghe thấy giọng cô lào khào xuyên qua bóng tối, nhưng rồi tôi nhận ra đó chỉ là ngọn gió đêm lùa qua lùm cây trong bệnh viện.

Lại có tiếng đập cửa đánh thức tôi vào lúc tờ mờ sáng.

Lần này tôi tự mở cửa.

Trước mặt tôi là bác sĩ Quinn. Bà đứng nghiêm như một viên trung sĩ, nhưng ngũ quan trông nhòe nhoẹt lạ lẫm.

“Tôi nghĩ là cô nên biết.” Bác sĩ Quinn nói. “Joan đã được tìm thấy.”

Cái cách bác sĩ Quinn dùng động từ bị động khiến máu tôi như ngừng chảy.

“Ở đâu?”

“Trong rừng, bên cạnh cái ao đóng băng…”

Tôi há miệng, nhưng không thốt nên lời.

“Một trong những công nhân vệ sinh tìm thấy cô ấy,” bác sĩ Quinn tiếp tục, “vừa mới đây, khi họ đi làm…”

“Cô ấy không…”

“Đã chết.” Bác sĩ Quinn nói, “tôi e rằng cô ấy đã tự treo cổ.

Trần Quế Chi (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.