“Tớ rất vui vì họ sắp chết rồi.”
Hilda ngáp một cái, thu gọn đôi chân như một con mèo, vùi đầu vào cánh tay gục xuống bàn ngủ tiếp. Trên mi cô dính một túm rơm xanh biếc trông tựa như lông của một con chim nhiệt đới.
Màu xanh như mật. Mốt đó chỉ thịnh hành vào mùa thu, nhưng Hilda bao giờ cũng đi trước nửa năm. Xanh mật pha đen, xanh mật pha trắng hoặc xanh mật pha xanh nhạt, vốn na ná như nhau.
Đầu tôi tràn ngập những mẩu quảng cáo thời trang lấp lánh nhưng sáo rỗng, bập bềnh như bong bóng nước. Chúng ngoi lên rồi tan vỡ.
“Tớ rất vui vì họ sắp chết rồi.”
Tôi rủa thầm cái phận đen đủi vì đã xuống nhà ăn khách sạn cùng lúc với Hilda. Sau một đêm thức khuya, đầu óc tôi mụ mị, không tìm nổi cớ gì để về phòng như lấy găng, khăn tay, cái ô hay quyển sổ đã để quên. Hậu quả là tôi phải lĩnh một chặng đường dài buồn phát ốm từ khung cửa thủy tinh của khách sạn Amazon đến cánh cổng bằng cẩm thạch màu dâu tây của văn phòng chúng tôi trên đại lộ Madison.
Hilda cũng bước như hình nộm suốt quãng đường đó.
“Cái mũ đáng yêu quá, cậu làm đấy à?”
Tôi những mong Hilda quay sang và nói: “Cậu ốm à,” nhưng cô chỉ vươn dài cái cổ thiên nga rồi thụt lại, đáp “Ừ”.
Tối hôm trước, tôi đi xem một vở kịch trong đó nhân vật nữ bị quỷ ám, khi con quỷ cất tiếng nói qua miệng cô, giọng của nó trầm thấp đến mức không thể nhận ra là giọng đàn bà hay đàn ông. Ồ, giọng Hilda cũng y hệt giọng con quỷ đó vậy.
Cô lăm lăm nhìn hình ảnh mình phản chiếu từ cửa sổ của những cửa tiệm hào nhoáng, để từng thời từng khắc biết chắc rằng mình còn hiện hữu. Chúng tôi ngồi im lặng đến mức tôi cảm thấy mình phần nào có lỗi.
Thế là tôi bèn nói: “Vụ Rosenberg thật kinh khủng nhỉ?”
Vợ chồng nhà Rosenberg phải lên ghế điện tối hôm đó.
“Ừ,” Hilda nói. Cuối cùng tôi cũng đã chạm tới được phần nhân tính trong tâm hồn rối như tơ vò của cô. Nhưng rồi cho tới khi chỉ có hai đứa tôi ngồi chờ trong phòng họp âm u như nhà mồ, cô mới tiếp tục diễn giải cái “Ừ” đó.
“Quả là kinh khủng, không ngờ lại có loại người như vậy.”
Cô lại ngáp dài, cái miệng màu cam nhợt nhạt ngoác rộng như cái hốc tối om. Ánh mắt tôi bị hút vào cái hang tối tăm đằng sau khuôn mặt ấy cho đến khi đôi môi mím lại và giọng con quỷ vang lên từ một nơi ẩn náu của nó: “Tớ rất vui vì họ sắp chết.”
“Thôi nào, cười lên đi.”
Tôi ngồi trên chiếc ghế đôi bọc nhung hồng trong văn phòng bà Jay Cee, tay cầm một bông hoa giấy nhìn thẳng vào người chụp ảnh của tạp chí. Tôi là người chụp cuối cùng trong số mười hai đứa. Tôi đã trốn kỹ trong phòng trang điểm nhưng vô ích. Betsy đã trông thấy chân tôi lộ ra dưới khe cửa.
Tôi không muốn chụp hình chút nào vì biết rằng mình sẽ khóc. Tôi chẳng hiểu vì sao mình sẽ khóc, nhưng tôi biết hễ có ai ghé sát vào mình mà nói hoặc nhìn, tự nhiên nước mắt tôi ứa ra, tiếng nấc nghẹn ngào bật ra từ họng và tôi có thể khóc cả tuần lễ. Tôi cảm nhận hàng lệ cứ chực tuôn ra như giọt nước muốn tràn khỏi cái ly đầy ắp.
Đây là đợt chụp ảnh cuối cùng trước khi tờ tạp chí được in ấn, sau đó chúng tôi sẽ trở về Tulsa, Biloxi, Teaneck, Coos Bay hoặc bất cứ chốn quê hương nào của chúng tôi. Khi chụp ảnh, chúng tôi được sử dụng đạo cụ để bày tỏ về ý định tương lai.
Betsy cầm một bắp ngô để biểu thị mình muốn làm vợ một nông dân, Hilda cầm cái mô hình đầu người hói đầu, không có ngũ quan để biểu thị mình muốn trở thành nhà thiết kế mũ. Còn Doreen quấn một chiếc sari thêu vàng để biểu thị mình muốn sang Ấn Độ làm nhân viên công ích xã hội (không hẳn là cô muốn vậy, chẳng qua cô chỉ muốn được sờ vào một chiếc sari thôi).
Khi họ hỏi tôi ý định trong tương lai, tôi bảo rằng mình chưa biết nữa.
“Ồ, cô phải biết chứ,” thợ chụp hình nói.
“Cái gì cô ta cũng muốn,” Jay Cee hóm hỉnh nói.
Tôi bảo mình muốn trở thành một nhà thơ.
Họ bèn kiếm một thứ gì đó cho tôi cầm.
Jay Cee gợi ý nên cầm một tập thơ, nhưng thợ chụp ảnh phản đối, như vậy lộ liễu quá. Nên cầm một thứ gì đó gợi hứng thơ ca thì hơn. Cuối cùng Jay Cee gỡ xuống bông hồng giấy rất dài trên cái mũ mới nhất của bà.
Người chụp ảnh loay hoay điều chỉnh đèn tụ quang sáng nóng: “Hãy tỏ vẻ hạnh phúc như đang làm thơ đi.”
Xuyên qua kẽ lá cây cao su ở bậu cửa sổ đằng sau bà Jay Cee, tôi nhìn vào khoảng trời xanh. Vài áng mây lững lờ trôi từ phải qua trái. Tôi dán mắt vào đám mây lớn nhất, như thể khi nó trôi khỏi tầm mắt, tôi có thể may mắn được lãng du cùng nó.
Tôi bỗng thấy phải gắng giữ cho khuôn miệng mình cân đối.
“Cười lên nào!”
Cuối cùng, tôi cũng ngoan ngoãn nghe theo lời họ, như một người biết nói phúc ngữ, cái miệng tôi nhệch ra.
“Này,” nhiếp ảnh gia như linh tính điều gì liền phản đối. “Cô trông như người sắp khóc ấy.”
Tôi không thể kìm lại được.
Tôi vùi đầu vào thành ghế bọc nhung hồng của bà Jay Cee, bao nhiêu chất chứa trong suốt buổi sáng, những giọt nước mắt mặn chát và tiếng thổn thức vỡ òa ra khắp phòng.
Khi tôi ngẩng đầu lên nhiếp ảnh gia đã khuất bóng. Cả bà Jay Cee cũng vậy. Tôi cảm thấy bị lừa dối, mệt mỏi rã rời như bị một con ác thú lột da. Thật nhẹ lòng khi rũ bỏ được thể xác, nhưng mất đi cùng nó là cả linh hồn, cùng với tất cả những gì liên quan tới nó.
Tôi lục lọi trong túi xách tìm chiếc hộp mạ vàng đựng đồ kẻ mắt, tô mi, ba thỏi son môi và tấm gương nhỏ. Khuôn mặt đang nhìn tôi trong gương giống như đang nhìn qua lưới sắt của phòng giam sau khi bị tra tấn lâu ngày. Tím bầm và sưng tấy. Gương mặt này cần tới xà bông, nước cùng lòng khoan dung Ki-tô giáo.
Tôi run rẩy tô tô vẽ vẽ.
Một lát sau, bà Jay Cee trở lại, tay ôm một sấp bản thảo.
“Chúng sẽ làm cho cô khuây khỏa,” bà ta nói. “Đọc vui vẻ nhé.”
Mỗi buổi sáng, những chồng bản thảo bụi bặm lại chất chồng như tuyết phủ thêm dầy trong phòng biên tập văn chương. Có lẽ cả nước Mỹ đang âm thầm viết như điên trong khắp các thư phòng, gác xép và lớp học. Giả như mỗi phút có một bản thảo được hoàn thành, thì sẽ có năm bản thảo ở trên bàn của ban biên tập sau mỗi năm phút. Trong một giờ sẽ là sáu mươi bản, nằm chen chúc dưới sàn. Và trong một năm…
Tôi mỉm cười, tưởng tượng ra cảnh một tập bản thảo lơ lửng trong không trung, với cái tên Esther Greenwood đánh máy ở góc trên bên phải. Sau một tháng làm việc ở tạp chí, tôi sẽ đăng ký lớp học lớp hè với một nhà văn nổi tiếng, sẽ phải gửi một truyện ngắn cho ông ta đọc thẩm định xem có đủ trình độ theo học hay không.
Dĩ nhiên đó là một lớp học ít người, tôi đã gửi một truyện ngắn rất lâu rồi chẳng nhận được hồi âm nào từ nhà văn ấy, nhưng tôi chắc chắn sẽ nhận được thư chấp nhận trên bàn thư tín ở nhà.
Tôi quyết định sẽ làm cho bà Jay Cee ngạc nhiên bằng cách gửi vài truyện ngắn đã viết ở lớp, dưới một bút danh khác. Một ngày nào đó, biên tập viên phòng Văn chương sẽ bước vào và đặt những truyện ngắn này lên bàn bà Jay Cee rồi nói: “Đây là những tác phẩm xuất sắc.” Bà Jay Cee sẽ thừa nhận điều đó và mời tác giả đi ăn trưa, hóa ra lại chính là tôi.
“Thật đấy!” Doreen nói. “Anh chàng này khác hẳn.”
“Kể tớ nghe về hắn đã.” Tôi lạnh lùng đáp lại.
“Anh ta đến từ Peru.”
“Những gã béo lùn,” tôi nói. “Xấu như thổ dân Mễ ấy.”
“Không đâu, không đâu cưng, tớ gặp anh ta rồi.”
Chúng tôi ngồi trên giường, giữa đống áo quần và đồ lót bẩn thỉu. Suốt mười phút qua, Doreen gắng thuyết phục tôi đến câu lạc bộ khiêu vũ đồng quê với bạn của một người mà Lenny quen biết, cô nhấn mạnh rằng anh chàng này khác hẳn với những người bạn của Lenny, nhưng bởi bắt chuyến xe lửa tám giờ sáng hôm sau nên tôi nghĩ mình nên ở nhà xếp hành lý.
Tôi cũng thoáng nghĩ nếu mình dạo chơi New York một mình suốt đêm, biết đâu sẽ vương chút hơi hướng của thành phố bí ẩn và hoa lệ này chăng?
Nhưng tôi từ bỏ ý định đó.
Những ngày cuối cùng này tôi thấy khó càng thêm khó khi phải quyết định làm bất cứ một công việc nào. Và khi đã nhất quyết làm một việc gì đó, như xếp đồ vào va li chẳng hạn, tôi chỉ lôi những bộ quần áo đắt tiền nhưng bẩn thỉu ra khỏi tủ, quăng bừa bãi lên ghế, giường ngủ, sàn nhà rồi ngồi nhìn với một tâm trạng rối bời. Chúng bỗng trở nên xa cách, lại cứng đầu cứng cổ khiến tôi không màng tới chuyện giặt giũ và sắp xếp gọn gàng nữa.
“Đống quần áo này,” tôi bảo Doreen. “Tớ không thể đối mặt với chúng lúc trở về đâu.”
“Dễ ợt!”
Rồi với vẻ duyên dáng của mình, Doreen giật lấy mớ quần lót, tất dài và áo ngực có gọng thép - quà tặng của công ty Primrose Corset, mà tôi chẳng đủ can đảm để mặc - cuối cùng cô vơ nốt từng cái áo có giá tới bốn mươi đô la.
“Này, để cái đó lại. Tớ sẽ mặc nó.”
Doreen lấy từ đống đồ ra cái áo màu đen ném vào lòng tôi. Sau đó, cô vo tròn mớ còn lại thành một khối, nhét xuống gầm giường, khuất khỏi tầm mắt.
***
Doreen gõ vào cánh cửa xanh có tay nắm vàng.
Có tiếng xột xoạt và tiếng cười đàn ông bị cắt ngang vọng tới từ bên trong. Sau đó một anh chàng cao ráo, mặc sơ mi dài tay, mái tóc vàng hớt cao, hé cửa ló mặt ra.
“Cưng ơi,” anh ta hét toáng lên.
Doreen biến mất trong vòng tay anh ta. Hẳn đó là người mà Lenny quen.
Tôi đứng yên lặng ở cửa, trong bộ đồ đen, khoác khăn choàng đen có tua vàng, và chẳng kỳ vọng gì mấy. “Ta chỉ là người quan sát.” Tôi thầm nhủ như thế khi thấy anh chàng tóc vàng đưa Doreen vào phòng cho một gã trai khác cũng cao to, da ngăm đen và tóc hơi dài. Gã này mặc comple trắng tinh, sơ mi xanh nhạt và thắt cà vạt sa tanh vàng có ghim cài lấp lánh.
Tôi không thể rời mắt khỏi chiếc ghim cài đó.
Nó dường như phát ra một tia chói lóa màu trắng, chiếu sáng cả căn phòng, rồi sau đó thu mình lại, chỉ còn một hạt sương trên cánh đồng vàng.
Tôi tiến một bước về phía gã.
“Kim cương đấy.” Ai đó nói, đám người còn lại phá lên cười.
Tôi lấy móng tay gõ nhẹ lên bề mặt trong vắt.
“Cô nàng giờ mới thấy kim cương.”
“Tặng nàng đi, Marco!”
Marco cúi xuống đặt chiếc ghim cài vào lòng bàn tay tôi.
Nó lấp lánh với những tia sáng nhảy nhót như những hạt băng trên thiên thượng.
Tôi nhanh nhẹn thả nó vào chiếc xắc dạ tiệc có đính hạt giả rồi nhìn quanh. Những khuôn bộ mặt vô hồn, dường như mọi người chẳng ai thở cả.
“May mắn thay,” một bàn tay thô nhám vòng qua tay tôi. “Ta sẽ được tháp tùng quý cô đây suốt buổi tối còn lại.” Tia sáng trong mắt Marco tắt lịm nhường chỗ cho màu đen nguyên bản. “Ta sẽ làm một chuyện…”
Ai đó phá lên cười.
“…cho xứng đáng với một viên kim cương.”
Cánh tay tôi bị siết chặt hơn.
“Ối!”
Marco buông tay ra. Tôi nhìn xuống cánh tay mình. Một vết bầm tím hiện rõ. Marco nhìn tôi, rồi chỉ vào mặt dưới cánh tay. “Nhìn này.”
Tôi thấy bốn vết bầm lờ mờ khác.
“Em thấy đó, anh rất nghiêm túc.”
Tiếng cười nhẹ và ngắt quãng của Marco khiến tôi nhớ tới con rắn mình đã trêu chọc trong sở thú Bronx. Khi tôi gõ nhẹ vào lồng kính chắc chắn, con vật ngoác miệng trông như đang cười. Rồi nó không ngừng công kích cái lồng tận đến khi tôi bỏ đi mới thôi.
Tôi chưa từng gặp kẻ có ác cảm với phụ nữ.
Nhưng có thể nói Marco là kẻ ghét phụ nữ, thay vì những diễn viên, người mẫu có mặt trong phòng đêm đó anh ta phớt lờ hết và chỉ để ý tới tôi. Không phải vì thiện tâm hay hiếu kỳ, chỉ đơn giản tôi là một quân bài trong một cỗ bài giống hệt nhau được chia tới tay anh ta.
Một gã trong ban nhạc đồng quê bước đến micro và bắt đầu lắc trống tay theo một điệu nhạc Nam Mỹ.
Marco định kéo tay tôi, nhưng tôi đang bận uống ly daiquiri thứ tư và chưa muốn rời nó. Tôi chưa bao giờ được uống thứ daiquiri đó. Tôi uống daiquiri bởi Marco đã gọi nó mà không hề hỏi tôi muốn uống gì, vậy là tôi chẳng nói chẳng rằng, cứ nốc hết ly này đến ly khác.
Marco nhìn tôi.
“Không,” tôi nói.
“Em nói không nghĩa là sao?”
“Em không nhảy được với loại nhạc này.”
“Đừng có ngốc thế.”
“Em muốn ngồi đây uống cho xong đã.”
Marco cười nhạt, vươn người về phía tôi và chỉ chớp mắt ly rượu bay vèo và rớt xuống cái chậu rửa. Sau đó, Marco xiết chặt tay tôi đến nỗi tôi phải chọn hoặc theo anh ta ra sàn nhảy hoặc cánh tay sẽ đứt lìa.
“Đây là một bản tango,” Marco dìu tôi ra giữa đám người đang nhảy. “Anh thích tango.”
“Em không biết nhảy.”
“Em không cần phải nhảy. Cứ để anh.”
Marco choàng tay qua eo tôi rồi kéo tôi sát vào bộ đồ trắng của anh ta. Rồi anh nói: “Cứ giả vờ như em đang bị chết đuối.”
Tôi khép mắt lại, âm nhạc nổ quanh tôi như cuồng phong bạo vũ. Chân Marco dướn về phía trước chạm phải chân tôi, còn tôi thì lùi lại, dường như tôi đang quyện chặt vào anh, chân bước theo chân, cử động theo cử động, không làm chủ được mình nữa. Một lát sau, tôi nghĩ bụng: “Chẳng cần phải cả hai cùng nhảy, một người là đủ rồi.” Và tôi để mình cuốn đi như cây ngả nghiêng trong gió.
“Em biết không?” Hơi thở của Marco khiến tai tôi nóng ran. “Em là một vũ công rất cừ!”
Tôi bắt đầu hiểu những kẻ ác cảm phụ nữ có thể đùa bỡn người mình ghét thế nào. Họ giống như Chúa trời: bất khả xâm phạm và đầy quyền năng. Họ giáng phàm rồi biến mất. Bạn chẳng bao giờ bắt được.
Sau điệu nhạc Nam Mỹ là một khoảng ngơi nghỉ.
Marco dẫn tôi qua cánh cửa kiểu Pháp, đi ra vườn. Ánh đèn và âm thanh của phòng khiêu vũ vọng qua cửa sổ ra ngoài, nhưng chỉ cách xa vài thước trong bóng đêm thì nó tắt hẳn. Dưới bầu trời sao vô tận, hoa cỏ tỏa hương thơm mát. Đêm nay không trăng.
Tường rào khép lại sau lưng chúng tôi. Một sân golf vắng vẻ chạy dài tới tận những lùm cây gợi lên quang cảnh thê lương quen thuộc: câu lạc bộ đồng quê và những cuộc khiêu vũ ở đó và bãi cỏ với một con dế cô độc.
Tôi không biết mình đang ở đâu nữa, nhưng nó hẳn là trong vùng ngoại ô giàu có của New York này.
Marco lấy trong túi ra điếu xì gà thon dài và chiếc bật lửa bạc hình viên đạn. Anh ta ngậm điếu thuốc trên môi và cúi đầu châm vào đốm lửa nhỏ. Khuôn mặt anh giữa hai quầng sáng tối tương phản, nhìn xa lạ và đau đớn như một người tỵ nạn.
Tôi nhìn anh ta.
“Anh đang phải lòng ai thế?” Tôi hỏi.
Marco im lặng một phút rồi hé miệng thở ra một vòng khói xanh hư ảo.
“Một người tuyệt vời.” Anh ta phá lên cười.
Vòng khói loang rộng và mờ dần, nhợt nhạt như một hồn ma trong bóng tối.
Rồi anh nói: “Anh đang phải lòng một người em họ.”
Tôi không ngạc nhiên lắm.
“Sao anh không cưới cô ấy?”
“Không thể được.”
“Tại sao?”
Marco nhún vai: “Cô ấy là con của chú anh và sắp thành nữ tu.”
“Cô ấy đẹp chứ?”
“Không ai sánh bằng.”
“Cô ấy có biết tình cảm của anh không?”
“Dĩ nhiên.”
Tôi ngưng lại. Dường như với tôi đó không phải trở ngại gì cả.
“Nếu anh yêu cô ấy,” tôi nói tiếp, “một ngày nào đó anh sẽ lại yêu một người khác.”
Marco dụi điếu xì gà dưới chân.
Bất chợt tôi cảm nhận được mặt đất dâng lên và đập vào mình. Bùn trào qua kẽ ngón tay. Marco chờ tôi gượng dậy nửa chừng. Rồi anh ta ấn cả hai tay lên vai khiến tôi ngã dúi trở lại.
“Áo tôi…”
“Áo cô?” Bùn ướt thấm dần qua vai áo tôi. “Áo cô!” Mặt Marco u ám áp sát mặt tôi. Vài giọt nước miếng nhỏ xuống môi tôi. “Áo cô màu đen và đất cũng màu đen.”
Nói xong anh ta dúi đầu về phía tôi như muốn đè cả người lên tôi, nhấn sâu vào trong bùn.
“Sắp xảy ra rồi,” tôi nhủ thầm. “Sắp xảy ra rồi. Nếu mình chỉ nằm đờ ra đấy, thì nó sẽ xảy đến.”
Marco lấy răng cắn vào dây áo tôi, lột chiếc áo xuống tận lưng. Tôi thoáng thấy làn da trần trụi tỏa ra một quầng sáng nhàn nhạt như tấm màng mỏng chia cắt hai kẻ tử thù.
“Đồ đĩ!”
Âm thanh rít lên bên tai tôi.
“Đồ đĩ.”
Bụi tan dần và tôi thấy rõ toàn cục trận chiến.
Tôi bắt đầu giãy giụa và cắn xé.
Marco đè tôi xuống đất.
“Đồ đĩ.”
Tôi táng gót giày nhọn vào chân hắn. Hắn quay lại, xoa xoa chỗ đau. Rồi tôi nắm tay lại đấm vào mũi hắn. Tôi có cảm giác như tay mình đấm vào vỏ thép của chiến hạm. Marco gượng dậy. Tôi bắt đầu hét lên.
Marco rút ra chiếc khăn tay trắng bịt vào mũi. Một chất lỏng đen như mực thấm qua khăn.
Tôi mút vết máu mằn mặn ở khớp ngón tay.
“Tôi phải tìm Doreen.”
Marco nhìn xa xăm qua bên kia sân golf.
“Tôi phải tìm Doreen. Tôi muốn về nhà.”
“Đồ đĩ! Tất cả chúng mày là đồ đĩ.” Marco dường như nói với chính bản thân. “Tìm hay không thì cũng vậy thôi.”
Tôi đập vào vai Marco.
“Doreen đâu?”
Marco cười hô hố.
“Đến bãi đậu xe. Nhìn vào băng sau của tất cả các xe.”
Rồi hắn quay lại.
“Trả kim cương tao đây.”
Tôi đứng dậy và tìm được chiếc khăn quàng trong bóng tối. Tôi vừa dợm bước thì Marco choàng dậy chặn lại. Rồi hắn thận trọng lấy ngón tay quệt máu ở mũi lên má tôi thành hai vệt.
“Tao đã đổ máu để có viên kim cương ấy. Trả lại tao.”
“Tôi chẳng biết nó ở đâu cả.”
Tôi biết chắc viên kim cương nằm trong xắc dạ tiệc và khi Marco hạ gục tôi thì cái xắc bị hất văng đi, như một con chim ăn đêm chìm trong vùng u tối. Tôi đang nghĩ tới chuyện sẽ dụ cho hắn đi khỏi rồi quay trở lại tìm kiếm.
Tôi không hề biết một viên kim cương cỡ này giá bao nhiêu, nhưng bất kể thế nào, chắc chắn là rất đắt. Marco lắc mạnh vai tôi bằng cả hai tay. “Nói mau,” hắn gằn từng tiếng. “Nói mau không tao sẽ bẻ cổ mày.” Đột nhiên tôi không còn thiết gì nữa.
“Nó ở trong xắc dạ tiệc đính ngọc giả của tôi,” tôi đáp lại. “Nằm ở đâu đó trong đống bùn.”
Tôi mặc kệ Marco bò trên tứ chi quờ quạng trong bóng đêm tìm kiếm cái vật nhỏ màu đen đang che giấu ánh sáng viên kim cương khỏi cặp mắt giận dữ của hắn.
Doreen không có trong phòng khiêu vũ hay bãi đậu xe.
Tôi lần theo bóng tối để mọi người khỏi nhận thấy cỏ dính đầy trên áo và giày, lấy khăn quàng che phủ bờ vai và bộ ngực trần.
Thật may cho tôi, buổi khiêu vũ đã gần kết thúc, từng đám người rời phòng ra bãi đậu xe. Tôi hỏi thăm hết xe này đến xe khác, cuối cùng cũng tìm được một chiếc còn chỗ để đưa tôi về khu trung tâm Manhattan.
Vào cái giờ tờ mờ sáng này, sân thượng khách sạn Amazon vắng ngắt.
Lặng lẽ như một tên trộm trong chiếc áo choàng tắm thêu hoa ngô, tôi bò ra mép lan can. Nó cao tới ngang vai, tôi lấy cái ghế xếp trong đống ghế dựa sát tường, mở ra và leo lên ngồi đong đưa.
Một làn gió mạnh thổi tung mái tóc. Dưới chân tôi, thành phố đã tắt đèn đi ngủ, những tòa cao ốc khoác chiếc áo đen tang tóc.
Đêm cuối cùng của tôi.
Từ bọc quần áo mang theo, tôi rút ra một thứ tựa như cái đuôi trắng. Chiếc áo lót vải thun, do mặc quá nhiều đã không còn co giãn được. Tôi cầm nó vẫy như lá cờ ngừng bắn, một lần rồi hai lần… Ngọn gió thổi tung nó lên và tôi buông tay.
Một bông tuyết trắng phiêu lãng trong bóng đêm và từ từ rơi xuống. Tôi tự hỏi không biết nó sẽ đậu xuống phố hay mái nhà nào đây.
Tôi lại rút ra từng món trong đống quần áo.
Gió cố thổi tung nó lên nhưng vô lực, một bộ đồ giống như cánh dơi rớt xuống mái bằng của cao ốc đối diện.
Từng chiếc từng chiếc, tôi gửi hết những áo quần cho ngọn gió đêm, những mảnh xám phấp phới trong không gian như tro cốt của người tình xưa, sẽ đáp xuống đây đó giữa lòng New York tối tăm.