Quả Chuông Ác Mộng

Lượt đọc: 23 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Năm

❊ ❊ ❊

Bảy giờ sáng hôm sau, chuông điện thoại reo vang.

Tôi chậm chạp thoát ra khỏi cơn mộng mị nặng nề. Có một bức điện tín do Jay Cee gửi cho tôi gắn ở tấm gương soi, bảo tôi khỏi quan tâm đến công việc, cứ nghỉ ngơi một ngày cho lại sức đã, rằng bà rất lấy làm tiếc về món thịt cua tồi tệ đó. Do vậy tôi không đoán được ai đang gọi điện cho mình.

Tôi với tay bắt máy đặt lên gối, một đầu tựa trên xương đòn và đầu kia tỳ lên vai.

“Alô!”

Một giọng đàn ông cất lên:

“Có phải cô Esther Greenwood đó không?” Tôi nhận ra một giọng của người nước ngoài.

“Chính tôi đây,” tôi đáp.

“Tôi là Constantin…” Tôi không nghe rõ họ của anh ta, đầy những âm s và k. Tôi không quen ai tên Constantin cả, nhưng không dám nói ra điều ấy.

Rồi tôi chợt nhớ tới bà Willard và người phiên dịch viên cabin bạn bà.

“Tất nhiên, tất nhiên rồi,” tôi la lên và ngồi dậy, giữ chặt ống nghe bằng cả hai tay.

Tôi chưa từng được bà Willard giới thiệu cho người nào tên Constantin cả.

Tôi điểm lại những người đàn ông mình quen với những cái tên đáng lưu ý. Tôi biết một anh chàng tên Socrates. Anh ta cao, xấu trai nhưng có vẻ trí thức, con một nhà sản xuất phim lớn người Hy Lạp ở Hollywood, nhưng cũng là tín đồ Công giáo, điều này làm tổn hại quan hệ của chúng tôi. Ngoài Socrates, tôi còn biết một người Bạch Nga tên là Attila tại trường Quản trị Kinh doanh Boston.

Dần dần tôi nhận ra Constantin đang cố thu xếp một cuộc gặp gỡ với tôi trong hôm nay.

“Chiều nay mời cô tới thăm trụ sở Liên Hiệp Quốc.”

“Tôi đang thấy nó đây này,” tôi khẽ cười khúc khích và đáp.

Anh ta xem chừng bối rối.

“Tôi có thể nhìn thấy nó qua cửa sổ phòng.” Tôi nghĩ có lẽ mình nói tiếng Anh hơi nhanh khiến anh không nghe kịp.

Im lặng một lát.

Anh ta nói tiếp: “Có lẽ sau đó cô muốn đi ăn một miếng gì đấy chăng?”

Tôi nhận ra câu cửa miệng của bà Willard và lòng tôi chùng xuống. Bà Willard luôn mời mọc “đi ăn một miếng gì đấy”. Tôi nhớ ra anh chàng này từng đến làm khách nhà bà Willard trong lần đầu tiên đến Mỹ - bà Willard luôn có quan niệm rằng nếu bạn chào đón nồng hậu người ngoại quốc thì khi bạn ra nước ngoài, họ sẽ đón tiếp bạn tương tự.

Bây giờ tôi vở lẽ rằng bà Willard đã đơn giản đánh đổi sự tiếp đón nồng hậu ở Nga dành cho bà lấy việc đi ăn một miếng gì đấy của tôi ở New York.

“Được, tôi sẵn lòng đi ăn một miếng gì đấy,” tôi đáp dõng dạc. “Mấy giờ anh đến?”

“Tôi sẽ đánh xe đến đón cô vào khoảng 2 giờ. Khách sạn Amazon phải không?”

“Vâng.”

“Ồ, vậy tôi biết chỗ đó rồi.”

Trong khoảnh khắc, tôi cho rằng lời anh mang một ẩn ý đặc biệt nào đó, nhưng rồi tôi nghĩ có một vài cô gái ở khách sạn Amazon là thư ký ở Liên Hiệp Quốc, và cũng có thể anh ta đã từng dẫn một trong số ấy đi chơi rồi. Tôi để anh ta gác máy trước rồi mới cúp theo, nằm vật ra gối, cảm thấy mình nhẫn tâm.

Một lần nữa tôi suy tưởng, đầu tiên là mơ mộng về hình ảnh quyến rũ của một chàng trai sẽ yêu tôi say đắm ngay phút đầu gặp gỡ, nhưng rồi thực tại sẽ lại vô cùng tầm thường nhạt nhẽo, một chuyến tham quan nghĩa vụ Liên Hiệp Quốc, rồi một cái sandwich ở cổng sau tòa nhà.

Tôi gắng xốc lại tính thần.

Biết đâu anh chàng phiên dịch viên cabin của bà Willard là một gã lùn xủn xấu trai và tôi sẽ coi thường anh ta theo kiểu từng đối xử với Buddy Willard. Ý nghĩ ấy khiến tôi có cảm giác thỏa mãn. Bởi vì thực sự tôi đã khá coi thường Buddy Willard, dẫu cho mọi người vẫn nghĩ tôi sẽ cưới anh ta khi anh khỏi bệnh lao. Kể cả khi đàn ông trên thế giới này có tuyệt chủng thì tôi cũng không đời nào cưới anh ta.

Buddy Willard là một kẻ đạo đức giả.

Dĩ nhiên, ban đầu tôi không nhận ra điều này. Tôi vẫn nghĩ đó là chàng trai tuyệt vời nhất mà tôi từng gặp. Tôi thầm ngưỡng mộ anh ta suốt năm năm trời trước khi anh ta thèm để mắt tới tôi. Một khoảnh khắc tuyệt diệu xảy đến khi tôi vẫn đang say sưa ngưỡng mộ anh, còn anh thì bắt đầu để ý tới tôi, khi anh ta ngày một quan tâm tới tôi hơn, thì hết sức tình cờ tôi nhận ra anh ta là một kẻ đạo đức giả khủng khiếp. Giờ thì Buddy Willard mong mỏi được cưới tôi, còn tôi thì ghét cay ghét đắng anh ta.

Điều tồi tệ nhất là tôi không thể nói thẳng vào mặt anh ta những điều tôi nghĩ, bởi anh ta đã mắc bệnh lao trước mất rồi, tôi phải nén giận làm vui tới khi anh ta bình phục và có thể chấp nhận được sự thật trần trụi.

Tôi quyết định không xuống lầu ăn điểm tâm, vì điều đó có nghĩa là phải thay quần áo, và chẳng có lý do gì phải làm vậy khi bạn định nằm trên giường suốt buổi sáng. Tôi đoán mình có thể gọi yêu cầu mang đồ điểm tâm lên phòng, nhưng nếu thế tôi sẽ phải típ cho người phục vụ mà tôi lại chẳng biết phải cho bao nhiêu cả. Tôi đã có một vài kinh nghiệm không vui về việc cho tiền típ ở New York này rồi.

Lần đầu tiên đến khách sạn Amazon, một gã lùn, hói, mặc đồng phục nhân viên mang va li vào thang máy và mở cửa phòng cho tôi. Tất nhiên tôi chạy ngay đến cửa sổ và nhìn quang cảnh bên ngoài thế nào. Một hồi sau tôi mới nhận ra gã nhân viên vẫn đang vặn vòi nước nóng và lạnh ở trong lavabo và nói lớn với tôi: “Bên này là nóng, bên kia là lạnh,” rồi gã vừa mở radio vừa kể cho tôi nghe tên tất cả các nhà ga ở New York. Tôi bắt đầu cảm thấy khó chịu, thế là tôi quay lưng lại và nói một cách kiên quyết: “Cám ơn đã mang va li lên giúp tôi.”

“Cám ơn! Cám ơn! Cám ơn! Hừ!” Giọng của gã đầy bóng gió khó chịu, rồi trước khi tôi kịp quay lại xem là làm sao, gã đã bỏ đi sau khi sập cánh cửa đánh rầm một cái.

Sau này, khi tôi kể lại cho Doreen nghe thái độ kỳ quặc của gã, cô bảo: “Ngốc ạ, hắn đòi tiền típ đấy!”

Tôi hỏi nên cho gã bao nhiêu thì Doreen nói ít nhất là 25 xu hoặc 35 xu nếu va li quá nặng. Rõ ràng tôi hoàn toàn có thể tự mang va li về phòng, chẳng qua gã phục vụ tỏ ra quá sốt sắng nên tôi mới để gã làm đấy chứ. Tôi cứ nghĩ loại dịch vụ này đã được tính gộp trong tiền phòng rồi.

Tôi rất ghét phải trả tiền cho những việc mà tôi có thể dễ dàng tự làm lấy. Điều đó làm tôi bực mình.

Doreen bảo nên típ mười phần trăm chi phí, nhưng lần nào cũng thế, tôi chẳng bao giờ có tiền lẻ đúng số như vậy. Tôi thấy thật ngớ ngẩn khi đưa cho ai đó nửa đô la rồi nói: “Mười lăm xu là tiền típ, anh hãy trả lại tôi ba mươi lăm xu.”

Lần đầu tiên đi taxi ở New York, tôi típ bác tài mười xu. Cước xe là một đô la, nên tôi nghĩ mười xu là vừa xoẳn, tôi đưa đồng mười xu cho bác tài và nhoẻn miệng cười. Nhưng bác ta chỉ cầm trong tay và nhìn chằm chằm vào nó; rồi khi tôi bước ra khỏi xe, hy vọng là mình không đưa nhầm cho bác đồng mười xu Canada, bác ta bắt đầu lớn tiếng: “Thưa tiểu thư, tôi cũng phải kiếm sống như cô và những người khác chứ,” bác gào lên làm tôi sợ đến nỗi vùng bỏ chạy. May mà đèn đỏ khiến bác phải dừng xe, không thì tôi nghĩ bác sẽ lẽo đẽo lái xe theo tôi vừa la lối theo cái kiểu khó chịu ấy.

Khi tôi hỏi lại Doreen về việc này, cô bảo tiền típ đã tăng từ mười lên mười lăm phần trăm so với lần cô ở New York trước đây. Mà cũng chưa chắc, cũng có thể gã tài xế giở ngón sư tử ngoạm.

Tôi với lấy cuốn sách mà tạp chí Ladies’ Day đã gửi tặng. Khi mở sách, một tấm bưu thiếp xổ ra. Mặt ngoài tấm bưu thiếp vẽ hình một con chó lông xù, mặc chiếc áo hoa, vẻ mặt buồn bã ngồi trong một cái giỏ. Mặt trong cũng là hình một con cún miệng mỉm cười đang nằm trong một cái giỏ khác, cún con đang ngủ bên dưới hàng chữ thêu “Nghỉ ngơi thật nhiều sẽ làm cho bạn khỏe lại”. Dưới cùng của tấm thiệp là dòng chữ viết tay bằng mực tím “Tất cả bạn bè ở tạp chí Ladies’s Day chúc cậu mau bình phục!”

Tôi lướt qua hết truyện này đến truyện khác tới khi gặp câu chuyện viết về một cây vả.

Cây vả này mọc trên bãi cỏ xanh, khoảng giữa nhà một người Do Thái và một tu viện. Anh chàng Do Thái và người nữ tu có nước da bánh mật xinh đẹp thường gặp nhau chỗ cây vả để hái quả. Một ngày kia, họ thấy một quả trứng đang được ấp trong tổ chim trên cành cây, ngay khi thấy con chim nhỏ chui ra khỏi vỏ trứng, bàn tay của họ vô tình chạm vào nhau, rồi sau đó người nữ tu không còn tới hái vả cùng anh chàng Do Thái nữa, thay vào đó là một bà phụ bếp theo đạo Công giáo có bộ mặt cau có. Bà ta đếm từng quả vả mà người đàn ông đã lấy cho tới khi biết chắc rằng anh ta không được phần hơn, điều ấy khiến anh chàng kia phát cáu.

Tôi nghĩ đó là một truyện ngắn dễ thương, nhất là phần tả cây vả mùa đông bị vùi trong tuyết, nhưng xuân sang lại trĩu nặng quả xanh. Tôi lấy làm tiếc vì đã đọc đến hết trang cuối. Ước gì tôi được bò qua giữa hàng chữ đen kia như người ta chui qua hàng rào để được ngủ dưới bóng cây vả xanh tươi đẹp đẽ đó.

Tôi lại nghĩ dường như Buddy Willard và mình cũng giống như anh chàng Do Thái và người nữ tu ấy, mặc dù không ai theo Do Thái hoặc Công giáo mà đều thuộc Nhất Thể. Chúng tôi cũng từng gặp nhau dưới bóng cây vả tưởng tượng của riêng mình, điều chúng tôi đã nhìn thấy không phải là một chú chim non chui ra khỏi vỏ mà là một em bé sinh ra từ bụng mẹ, và rồi một điều gì đó thật kinh khủng đã xảy ra khiến chúng tôi ai đi đường nấy.

Giờ đây cô đơn và yếu ớt nằm trên chiếc giường đệm trắng của khách sạn, tôi ngỡ mình vừa ngủ dậy trong dưỡng đường Adirondacks, và thấy mình là một kẻ bất tài đốn mạt. Trong những lá thư gửi tôi, Buddy Willard kể rằng anh ta đang đọc thơ của một thi sĩ kiêm bác sĩ, anh cũng phát hiện ra vài nhà văn quá cố người Nga chuyên viết truyện ngắn cũng kiêm nghề bác sĩ, có lẽ bác sĩ và nhà văn là hai nghề rất hạp nhau.

Bây giờ thái độ của Buddy Willard hoàn toàn thay đổi so với hồi hai năm trước chúng tôi biết nhau. Tôi còn nhớ cái hôm anh mỉm cười với tôi và nói: “Esther, em có biết thơ là gì không?”

“Không! Là gì?” Tôi hỏi.

“Chỉ là một hạt bụi thôi.” Anh ta dường như hết sức tự hào về ý nghĩ này, đến mức tôi cứ nhìn chăm chăm vào mái tóc hoe vàng, đôi mắt xanh lơ và hàm răng trắng muốt - hàm răng anh có vẻ vững chắc - và nói: “Em cũng nghĩ thế!”

Chỉ khi ở giữa lòng New York, tròn một năm sau, rốt cuộc tôi mới nghĩ ra câu trả lời.

Tôi mất rất nhiều thời gian để tưởng tượng ra những cuộc trò chuyện cùng Buddy Willard. Anh ta lớn hơn tôi đôi ba tuổi, mọi việc anh làm đều rất khoa học, thấu tình đạt lý. Khi ở bên anh, tôi luôn phải gắng hết sức để mình khỏi chìm nghỉm.

Những cuộc trò chuyện trong tâm tưởng này thường khởi đầu giống những lần trò chuyện của tôi với Buddy trong thực tế, nhưng kết thúc bằng những cú đáp sắc sảo của tôi thay vì chỉ ngồi thừ ra và nói “em cũng nghĩ thế.”

Lúc này, nằm ngửa trên giường, tôi tưởng tượng Buddy hỏi rằng: “Esther, em có biết thơ là gì không?”

“Không! Là gì?” Tôi hỏi.

“Chỉ là một hạt bụi thôi.” Ngay lúc anh ta tự hào và mỉm cười, tôi sẽ đốp chát: “Thì những xác chết anh đang mổ xẻ cũng vậy. Những người mà anh nghĩ là mình đang cứu chữa cũng vậy. Tất cả đều là cát bụi, không hơn không kém. Em nghĩ một bài thơ hay còn tồn tại lâu hơn một trăm người như thế cộng lại.”

Dĩ nhiên Buddy chẳng còn gì để đáp lại vì tôi nói quá chuẩn. Con người vốn là cát bụi sẽ trở về với cát bụi, và tôi thấy việc chữa trị đám cát bụi đó cũng chẳng có gì tốt đẹp hơn so với việc sáng tác những bài thơ mà người ta thuộc lòng và ngâm nga mỗi khi gặp bất hạnh, ốm đau hoặc mất ngủ.

Vấn đề của tôi là luôn luôn xem những gì Buddy Willard nói như lời vàng ý ngọc của Chúa. Tôi nhớ lại đêm đầu tiên anh hôn tôi. Đó là lúc kết thúc buổi vũ hội dành cho sinh viên năm thứ ba ở Yale.

Cách Buddy mời tôi đi dự vũ hội thật là kỳ quặc. Anh ta bất ngờ xuất hiện ở nhà tôi trong kỳ nghỉ lễ Giáng sinh, mặc một cái áo len cổ lọ màu trắng, trông bảnh trai đến nỗi tôi cứ trố mắt ra nhìn. Anh nói: “Hôm nào anh ghé qua trường thăm em nhé?”

Tôi sửng sốt. Tôi chỉ mới nhìn Buddy từ xa, tại nhà thờ vào những Chủ nhật khi cả hai chúng tôi rời trường về nhà. Tôi không hình dung nổi điều gì đã xảy ra trong tâm trí anh khi định ghé qua thăm tôi. Anh bảo đã chạy suốt hai dặm đến nhà tôi cũng là để luyện tập môn chạy việt dã.

Dĩ nhiên mẹ hai chúng tôi là đôi bạn thân. Họ học chung với nhau, cùng kết hôn với thầy giáo của mình, cùng cư ngụ ở chung một thành phố; tuy nhiên Buddy luôn luôn vắng nhà hoặc vì anh ta kiếm được một học bổng ngoại khóa vào mùa thu, hoặc đi cạo rỉ sắt kiếm tiền ở Montana vào mùa hè. Vì vậy việc mẹ của chúng tôi là bạn đồng học cũng chẳng ý nghĩa gì mấy.

Sau lần tới chơi bất ngờ ấy, tôi chẳng nhận được tin tức gì về Buddy cho tới một buổi sáng thứ Bảy đẹp trời đầu tháng Ba. Tôi vừa thức giấc trong phòng ký túc xá, định lôi sách ra đọc về Peter Ẩn sĩ và Walter Tay trắng để chuẩn bị cho kỳ thi Lịch sử về cuộc Thập tự chinh vào thứ Hai tới thì chuông điện thoại ngoài hành lang reo vang.

Thường thì mọi người phải thay phiên nhau trực điện thoại, nhưng vì chỉ mình tôi là sinh viên năm nhất của tầng, còn lại đều là sinh viên lớp trên nên công việc này hầu như toàn do tôi bị ép phải làm. Tôi đợi một phút xem thử có ai bắt máy trước tôi không, đến khi nhận ra rằng mọi người đã đi chơi bóng squash hoặc rong chơi cuối tuần cả, tôi đành tự mình cầm máy.

“Cô Esther phải không?” Cô gái trực tầng dưới hỏi và khi tôi đáp phải, cô liền nói: “Có một người đàn ông tới thăm cô đấy.”

Tôi ngạc nhiên khi nghe vậy, bởi cả năm nay, những người tôi hẹn hò vu vơ đều một đi không trở lại. Tôi quả kém may mắn. Vì vậy tôi rất ghét phải đầm đìa mồ hôi và hớt hơ hớt hải đi xuống dưới mỗi tối thứ Bảy, để được một chị lớp trên giới thiệu với con trai người bạn thân của dì chị ta, một anh chàng xanh mét, lùn lùn như một cây nấm, tai chuột, răng thỏ, hoặc đi cà nhắc. Tôi nghĩ mình xứng đáng hơn thế. Suy cho cùng, tôi đâu phải là kẻ tàn tật, tôi chỉ hơi quá mọt sách thôi.

Thế là, tôi vội chải đầu, tô chút son lên môi và cầm theo cuốn sách lịch sử đi xuống, giả như gặp một anh chàng xấu xí nào đấy, tôi có thể nói là mình đang định đến thư viện. Hóa ra Buddy Willard đứng tựa vào cái tủ thư tín, mặc một cái áo khoác kaki có dây kéo và quần vải thô màu xanh, chân đi đôi giày thể thao màu xám đã sờn, anh nhìn tôi và mỉm cười:

“Anh chỉ ghé qua thăm em chút thôi,” anh ta nói.

Tôi thấy thật là lạ khi anh ta từ tận Yale đến đây, thậm chí phải xin quá giang để tiết kiệm tiền, chỉ để thăm tôi chút thôi.

“Chào anh,” tôi nói. “Ta ra ngoài hiên ngồi nhé.”

Tôi muốn đi ra ngoài hiên bởi vì cô gái đang trực là một sinh viên lớp trên và đang nhìn tôi với cặp mắt soi mói. Hiển nhiên cô ta nghĩ rằng Buddy Willard đang mắc phải sai lầm lớn.

Chúng tôi vai sánh vai ngồi trên hai chiếc ghế xích đu bằng liễu gai. Mặt trời tỏa ánh sáng trong trẻo, trời đứng gió và hơi nóng.

“Anh chỉ ghé vài phút thôi.” Buddy nói.

“Ồ không, ở lại ăn trưa với em nhé,” tôi bảo.

“Không được đâu. Anh lên đây dự buổi hòa nhạc của sinh viên năm hai cùng với Joan.”

Tôi cảm thấy mình thật ngốc nghếch nhất trần đời.

“Joan sao rồi?” Tôi lạnh lùng hỏi.

Joan Gilling ở cùng một thành phố với chúng tôi, đi chung nhà thờ nhưng học đại học trước tôi một năm. Cô ta là chủ tịch hội sinh viên của lớp, học chuyên ngành Vật lý và là nhà vô địch khúc côn cầu của trường. Cô ta luôn làm tôi lúng túng bởi đôi mắt màu sỏi đá, hàm răng lấp lánh như mộ bia và giọng nói hổn hển. Cô ta còn to như con tịnh nữa. Tôi bắt đầu nghĩ rằng khiếu thẩm mỹ của Buddy thật nghèo nàn.

“Joan hả,” anh ta nói. “Cô nàng mời anh đi dự cuộc khiêu vũ này trước hai tháng, rồi mẹ cô ấy còn hỏi mẹ anh nhờ anh đưa cô nàng đi, anh còn biết làm sao nữa?”

“Vậy tại sao anh nhận lời đưa cô ả đi nếu anh không muốn?” Tôi khinh khỉnh hỏi.

“Ồ, anh thích Joan. Cô ấy chẳng bao giờ để tâm xem người ta có trả tiền hộ mình hay không, và cô ấy thích vui chơi ngoài trời. Lần trước cô ấy tới Yale tham gia hoạt động ngoại khóa cuối tuần, tụi anh đạp xe tới East Rock và đấy là cô gái duy nhất mà anh không phải đẩy lên đồi. Joan cũng hay đấy.”

Tôi rùng mình vì ghen tức. Tôi chưa bao giờ đến Yale và Yale là nơi các sinh viên lớp trên ở ký túc xá này thích đến nhất vào những ngày nghỉ cuối tuần. Tôi quyết định là không mong chờ gì ở Buddy Willard nữa. Không mong chờ đồng nghĩa với không bao giờ thất vọng.

“Anh nên đi tìm Joan thì hơn,” tôi nói với vẻ chân thực. “Em có hẹn ngay bây giờ và bạn trai em không thích thấy em ngồi với anh đâu.”

“Hẹn hò á?” Buddy lộ vẻ ngạc nhiên. “Ai vậy?”

“Hai người cơ,” tôi nói. “Peter Nhà ẩn sĩ và Walter Tay trắng.”

Buddy không nói gì, vì thế tôi nói: “Đó là biệt danh của họ.”

Sau đó tôi còn thêm: “Họ đến từ Dartmouth.”

Tôi đoán là Buddy chẳng bao giờ đọc nhiều sử, vì miệng anh ta cớ há hốc ra. Anh đong đưa chiếc ghế xích đu và đẩy mạnh hơn mức cần thiết. Rồi anh ta đặt một cái phong bì màu xanh nhạt có phù hiệu của trường Yale vào lòng tôi.

“Đây là lá thư mà anh định gửi lại trong trường hợp em không có nhà. Trong đó có một câu hỏi mà em có thể viết thư trả lời. Anh không định hỏi thẳng em ngay bây giờ.”

Sau khi Buddy về, tôi mở lá thư đọc. Đó là lá thư mời tôi đi dự buổi khiêu vũ dành cho sinh viên năm ba ở Yale.

Tôi ngạc nhiên tới mức hú hét thành tiếng, vừa chạy vào nhà tôi vừa la lớn: “Tôi sẽ đi, tôi sẽ đi, tôi sẽ đi.” Vừa từ ngoài hiên chói nắng vào, cảnh vật bên trong bỗng tối sầm lại đến nỗi không nhận ra được vật gì. Lát sau tôi nhận ra mình đang ôm chầm lấy chị sinh viên đang trực. Khi biết rằng tôi sẽ đi dự buổi khiêu vũ dành cho sinh viên năm ba ở Yale, cô ta nhìn tôi đầy ngạc nhiên và ngưỡng mộ.

Thật kỳ diệu, mọi việc ở đây dường như thay đổi hẳn sau sự kiện ấy. Những sinh viên năm trên ở cùng tầng bắt đầu nói chuyện với tôi, và thỉnh thoảng một trong số họ tự động đi trả lời điện thoại. Không ai còn đứng ngoài cửa phòng tôi lớn tiếng nhận xét rằng thật lãng phí những ngày vàng tháng ngọc ở đại học khi cứ chúi mũi vào sách vở.

Ừm, suốt buổi khiêu vũ, Buddy xử sự với tôi như với một người bạn hoặc một cô em họ.

Chúng tôi khiêu vũ cách nhau cả dặm, tới khi ban nhạc cử bài “Auld Lang Syne” anh ta đột nhiên tựa cằm vào đỉnh đầu tôi như thể đã quá mệt. Sau đó dưới đêm đen giá lạnh và lúc 3 giờ sáng, chúng tôi chậm rãi đi bộ năm dặm đường để về nhà trọ, nơi tôi ngủ trên một cái đi văng quá ngắn tại phòng khách, vì chỉ mất năm mươi xu một đêm thay vì hai đô la như những nơi có giường nệm đàng hoàng khác.

Tôi cảm thấy buồn bã, tẻ nhạt và đầy những ảo ảnh tan vỡ.

Tôi tưởng tượng ra rằng Buddy đã yêu tôi kể từ ngày nghỉ cuối tuần đó, và tôi chẳng còn phải lo lắng sẽ làm gì vào những tối thứ Bảy còn lại trong năm học nữa. Khi vừa tới gần căn nhà mà tôi đang ở, Buddy nói: “Chúng mình tới phòng thí nghiệm Hóa học đi.”

Tôi kinh ngạc: “Phòng thí nghiệm Hóa học á?”

“Ừ,” Buddy nắm tay tôi. “Phong cảnh phía sau phòng thí nghiệm đẹp lắm.”

Quả là vậy, có một quả đồi thấp phía sau phòng thí nghiệm, từ đó bạn có thể trông thấy ánh đèn của vài ngôi nhà ở New Haven.

Tôi đứng giả vờ thưởng thức chúng trong khi Buddy đứng trên mặt đất mấp mô. Khi anh hôn tôi, tôi cứ mở mắt và cố ghi nhớ khoảng cách của những ánh đèn đến nỗi tôi không bao giờ quên được.

Cuối cùng Buddy lùi lại và ồ lên một tiếng.

“Ồ gì cơ?” Tôi ngạc nhiên hỏi. Đó là một cái hôn khô khốc, vô hồn và tôi còn nhớ đã rất tiếc vì miệng của chúng tôi nứt nẻ bởi năm dặm đường cuốc bộ dưới gió lạnh.

“Ồ, cảm giác hôn em rất tuyệt.”

Tôi đơn giản là chẳng nói gì cả.

“Anh nghĩ em đã hẹn hò với cả tá người nhỉ,” sau đó Buddy nói.

“Em cũng nghĩ thế.” Tôi nghĩ lẽ ra cứ mỗi tuần mình phải hẹn hò với một gã trai khác trong suốt năm.

“Ồ, anh học hành đến bù cả đầu.”

“Em cũng vậy mà,” tôi vội vàng nói. “Em phải giữ học bổng bằng mọi giá.”

“Tuy vậy, anh nghĩ mình có thể thu xếp tới thăm em vào dịp cuối tuần thứ ba của mỗi tháng.”

“Hay quá.” Tôi gần như té xỉu và chỉ muốn cắm đầu cắm cổ về trường kể lại cho mọi người nghe.

Buddy hôn tôi lần nữa trên thềm nhà, và mùa thu tiếp đó, khi anh kiếm được học bổng tại trường Y, tôi đến đó thăm anh thay vì đến Yale. Đó cũng chính nơi tôi nhận ra anh đã lừa gạt tôi trong suốt bấy nhiêu năm ra sao và anh là một kẻ đạo đức giả đến nhường nào.

Tôi phát hiện ra điều đó vào cái ngày chúng tôi chứng kiến một đứa bé chào đời.

Trần Quế Chi (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.